tăng trưởng kinh tế gắn với giảm nghèo ở huyện thanh thủy, tỉnh phú thọ hiện nay Luận văn thạc sĩ - Pdf 50

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

UBND

: Ủy ban nhân dân

HĐND

: Hội đồng nhân dân

UBMTTQ

: Ủy ban mặt trận tổ quốc

LĐNT

: Lao động nông thôn

TNHH MTV

: Trách nhiệm hữu hạn một thành viên

XKLĐ

: Xuất khẩu lao động

GN

: Giảm nghèo

CNH, HĐH

Giảm nghèo (GN) là một trong những vấn đề xã hội mang tính toàn cầu
và hiện nay ở nước ta được coi là một trong những mục tiêu quan trọng trong
Chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Trong những năm đổi mới
đất nước, Đảng và Nhà nước đã có nhiều cơ chế, chính sách cho từng giai
đoạn; đồng thời kêu gọi các cấp, các ngành và các tầng lớp nhân dân trong xã
hội tập trung giải quyết nhiệm vụ giảm nghèo, thực hiện công bằng xã hội,
giảm khoảng cách giàu và nghèo trong các tầng lớp xã hội và giữa các vùng
khác nhau. Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng kể trong tăng trưởng
kinh tế đi đôi với giảm nghèo; với tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm đạt
khoảng 7 - 8%, vào loại cao trên thế giới, nhờ có sự phát triển đó đã góp phần
quan trọng vào nâng cao đời sống nhân dân và giảm dần tỷ lệ nghèo đói trong
xã hội. Theo nhận xét của Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam đưa ra ngày
15/2/2008: “Việt Nam đạt được tốc độ giảm nghèo nhanh nhất trên thế giới”;
tính bằng số người sống dưới mức 1 đô la Mỹ một ngày thì tỷ lệ nghèo đói
của Việt Nam đã giảm từ khoảng 68% năm 1993 xuống 16% năm 2006, với
khoảng 34 triệu người đã thoát khỏi nghèo đói. Như vậy, tăng trưởng kinh tế
cao và bền vững là yếu tố quan trọng, tạo ra sức mạnh vật chất để hỗ trợ và
tạo cơ hội cho người nghèo vươn lên thoát khỏi nghèo đói và ngược lại, giảm
nghèo là yếu tố cơ bản để đảm bảo công bằng xã hội, thúc đẩy tăng trưởng
bền vững.
Tuy Việt Nam đã đạt được những thành quả quan trọng trong suốt thời
gian qua, nhưng cơ bản vẫn là một nước nghèo, mức thu nhập bình quân đầu
người vào loại thấp so với các nước trên thế giới, tỷ lệ hộ nghèo còn ở mức
cao và tập trung ở vùng nông thôn thuộc những vùng núi, vùng sâu, vùng xa,


2

vùng đồng bào dân tộc thiểu số; đây là những khu vực điều kiện kết cấu hạ
tầng cơ sở còn thấp, địa hình phức tạp, trình độ dân trí thấp, nhiều dịch vụ

đối với Việt Nam. (Tạp chí Cộng sản số 852, năm 2011). Bài viết đã phân tích
rõ mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và thực hiện chính sách xã hội trong
phát triển bền vững và các giải pháp chủ yếu để kết hợp tăng trưởng kinh tế
với thực hiện các chính sách xã hội ở Việt Nam.
- Nguyễn Thị Hằng (1997): Vấn đề giảm nghèo ở nông thôn nước ta hiện
nay. Nxb Chính trị quốc gia. Cuốn sách đã trình bày quan niệm về đói nghèo,
tiêu chí đánh giá tình hình đói, nghèo; thực trạng nghèo đói ở Việt Nam và biện
pháp giảm nghèo ở nông thôn nước ta đến năm 2020.
- Đề tài "Những giải pháp về quản lý nhằm giảm nghèo ở nông thôn
Phú Thọ hiện nay” 2008 của tác giả Nguyễn Thị Hải, được nghiên cứu dưới
góc độ quản lý kinh tế để từ đó đưa ra những giải pháp về quản lí nhằm giải
quyết những vấn đề đói nghèo ở khu vực nông thôn của tỉnh.
Ngoài ra còn có nhiều bài viết khác đề cập đến các khía cạnh lý luận và
thực tiễn liên quan đến vấn đề tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo như:
- Tăng trưởng kinh tế Việt Nam: Những rào cản cần phải vượt qua (GSTS. Nguyễn Văn Thường).
- Tăng trưởng kinh tế công bằng xã hội và vấn đề giảm nghèo ở Việt
Nam (GS-TS. Vũ Thị Ngọc Phùng).
- UBND tỉnh Phú Thọ (Báo cáo tổng hợp quy hoạch tổng thể phát triển
kinh tế -xã hội tỉnh Phú Thọ đến năm 2020).
- Quyết định số 135/1998/QĐ-TTg ngày 30 tháng 7 năm 1998 của Thủ
tướng Chính phủ về ban hành phê duyệt chương trình phát triển kinh tế - xã
hội các xã đặc biệt khó khăn miền núi, vùng sau, vùng xa.
- Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg ngày 8 tháng 7 năm 2005 của Thủ tướng
Chính phủ về ban hành chuẩn hộ nghèo áp dụng trong giai đoạn 2006-2010;
- Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg ngày 3 tháng 01 năm 2011 của Thủ tướng Chính
phủ về ban hành chuẩn hộ nghèo áp dụng trong giai đoạn 2011-2015;


4



4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
- Làm rõ những vấn đề lý luận về tăng trưởng kinh tế liên quan đến
công tác giảm nghèo.
- Đánh giá thực trạng về tăng trưởng kinh tế và công tác giảm nghèo ở
địa bàn huyên Thanh Thuỷ, tỉnh Phú Thọ (từ năm 2010 đến nay).
- Đề xuất một số quan điểm, giải pháp nhằm đẩy mạnh tăng trưởng
kinh tế và giảm nghèo ở huyên Thanh Thuỷ.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu vấn đề Tăng trưởng kinh tế đi đôi với giảm
nghèo ở huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ dưới góc độ kinh tế chính trị và
tập trung nghiên cứu thực trạng tăng trưởng, nghèo và các biện pháp giảm
nghèo tại huyện Thanh Thuỷ giai đoạn từ 2010 đến nay, đề xuất giải pháp
đến 2020.
5. Phương pháp nghiên cứu của luận văn
- Luận văn dựa trên cơ sở lý luận kinh tế chính trị Mác-Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh và quan điểm, chủ trương, đường lối, chính sách về xoá đói
giảm nghèo của Đảng, Nhà nước để nghiên cứu.
- Vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy
vật lịch sử và khoa học kinh tế chính trị Mác - Lênin, kết hợp các phương
pháp khác để nghiên cứu như điều tra, khảo sát, phân tích thống kê, so sánh,
tổng hợp, khái quát, hệ thống và nghiên cứu báo cáo tổng kết về phát triển
kinh tế và giảm nghèo của huyện Thanh Thuỷ và tỉnh Phú Thọ.
6. Những đóng góp của luận văn
- Luận văn góp phần phân tích, đánh giá thực trạng phát triển kinh tế và
giảm nghèo ở huyện Thanh Thuỷ tỉnh Phú Thọ hiện nay, cung cấp cơ sở lý
luận và thực tiễn cho việc hoạch định chính sách về phát triển kinh tế đi đôi
với giảm nghèo ở địa phương.


trưởng kinh tế trước hết là một vấn đề kinh tế, song nó mang tính chính trị,
sâu sắc. Tăng trưởng và phát triển kinh tế là mục tiêu hàng đầu của tất cả các
quốc gia trên thế giới, là thước đo chủ yếu về sự tiến bộ trong mối gia đình
của mỗi quốc gia.
Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng thu nhập hay sản lượng được tính
cho toàn bộ nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm).
Tăng trưởng kinh tế có thể biểu thị bằng số tuyệt đối (quy mô tăng trưởng)
hoặc số tương đối (tỷ lệ tăng trưởng). Trong phân tích kinh tế, để phán ánh
mức độ mở rộng quy mô của nền kinh tế, khái niệm tốc độ tăng trưởng kinh tế
thường được dùng. Đây là tỷ lệ phần trăm giữa sản lượng tăng thêm của thời
kỳ nghiên cứu so với mức sản lượng của thời kỳ trước đó hoặc thời kỳ gốc.
Tăng trưởng kinh tế được xem dưới góc độ số lượng và chất lượng.
Mặt số lượng của tăng trưởng kinh tế là biểu hiện bên ngoài của sự tăng
trưởng, nó thể hiện ở ngay trong khái niệm về tăng trưởng như đã nói ở trên


8

và được phản ánh thông qua các chỉ tiêu đánh giá quy mô và tốc độ tăng
trưởng thu nhập. Đứng trên góc độ toàn nền kinh tế, thu nhập thường được thể
hiện dưới dạng giá trị: có thể là tổng giá trị thu nhập, hoặc có thể là thu nhập
bình quân trên đầu người, các chi tiêu giá trị phản ánh tăng trưởng theo hệ
thống tài khoản quốc gia (SNA). Bao gồm: Tổng giá trị sản xuất (GO), tổng
sản phẩm quốc nội (GDP), tổng thu nhập quốc dân (GNI), thu nhập quốc dân
(NI), thu nhập đựơc quyền chi (GDI)…Trong đó chi tiêu GDP thường là chỉ
tiêu quan trọng nhất.
Như vậy bản chất của tăng trưởng là phản ánh sự thay đổi về lượng của
nền kinh tế. Ngày nay, yêu cầu tăng trưởng kinh tế được gắn liền với tính bền
vững hay việc bảo đảm chất lượng tăng trưởng ngày càng cao. Theo khía cạnh
này, điều được nhấn mạnh nhiều hơn là sự gia tăng liên tục, có hiệu quả của

là điều kiện để nâng cao trình độ khoa học - công nghệ, góp phần đáng kể vào
việc đầu tư theo chiều sâu, hiện đại hoá quá trình sản xuất. Việc tăng vốn đầu
tư cũng góp phần vào việc giải quyết công ăn, việc làm cho người lao động
khi mở ra các công trình xây dựng và mở rộng quy mô sản xuất.
Hai là, lao động (L)
Lao động là một nguồn lực sản xuất chính và không thể thiếu được
trong các hoạt động kinh tế.
Trước đây chúng ta chỉ quan niệm lao động là yếu tố vật chất đầu vào
giống như yếu tố vốn và được xác định bằng số lượng nguồn lao động cả mỗi
quốc gia (tính bằng đầu người hay thời gian lao động). Tuy nhiên các mô hình
tăng trưởng hiện đại gần đây đã nhấn mạnh đến khía cạnh phi vật chất của lao
động, gọi là vốn nhân lực. Đó là các lao động có kỹ năng sản xuất, lao động
có thể vận hành được máy móc thiết bị phức tạp, những lao động có sáng kiến
và phương pháp mới trong hoạt động kinh tế.
Việc nâng cao vốn nhân lực sẽ làm cho việc tổ chức lao động, việc ứng
dụng công nghệ có hiệu quả, làm cho năng suất lao động tăng và từ đó là tăng
hiệu quả sản xuất.


10

Hiện nay tăng trưởng kinh tế của các nước đang phát triển được đóng
góp nhiều bởi quy mô, số lượng lao động, yếu tố vốn nhân lực còn có vị trí
chưa cao do trình độ và chất lượng lao động ở các nước này còn thấp.
Ba là, tài nguyên, đất đai (R)
Tài nguyên, đất đai là một yếu tố sản xuất cổ điển. Đất đai là yếu tố
quan trọng trong sản xuất nông nghiệp và là yếu tố không thể thiếu được
trong việc thực hiện bố trí các cơ sở kinh tế. Các nguồn tài nguyên dồi dào
phong phú được khai thác tạo điều kiện tăng sản lượng đầu ra một cách nhanh
chóng, nhất là với các nước đang phát triển. Tuy nhiên, các mô hình tăng

phủ vừa tạo ra hiệu ứng thu nhập vừa tạo ra hiệu ứng lấn át đầu tư tư nhân, do
vậy, tuỳ vào nền kinh tế là đóng, mở cửa với tỷ giá cố định hay tỷ giá thả nổi
mà tác động của G vào sản lượng của nền kinh tế là khác nhau. Nguồn chi
tiêu của Chính phủ phụ thuộc vào khả năng thu ngân sách (chủ yếu là các
khoản thu từ thuế và lệ phí).
Ba là, chi cho đầu tư (I): Là các khoản chi tiêu cho các nhu cầu đầu tư
của các doanh nghiệp và các đơn vị kinh tế, bao gồm đầu tư vốn cố định và
đầu tư vốn lưu động. Các khoản đầu tư này sẽ là tiêu dùng của các nhà đầu tư,
sau đó lại trở thành tư bản K và có tác động trực tiếp đến sản lượng của nền
kinh tế. Nguồn chi cho đầu tư được lấy từ khả năng tiết kiệm từ các khu vực
của nền kinh tế, trong đó đầu tư khôi phục tức là đầu tư bù đắp giá trị hao
mòn được lấy từ quỹ khấu hao còn đầu tư thuần tuý được lấy từ các khoản tiết
kiệm của khu vực nhà nước, các hộ gia đình và doanh nghiệp.
Bốn là, chi qua hoạt động xuất nhập khẩu (NX=X-M): Thực tế, giá trị
hàng hoá xuất khẩu là các khoản phải chi cho các yếu tố nguồn lực trong
nước, còn giá trị nhập khẩu là giá trị của các loại hàng hóa sử dụng trong
nươc nhưng lại không phải bỏ ra các khoản chi phí cho các yếu tố yếu tố
nguồn lực trong nước. Vì vậy, chênh lệch giữa kim ngạch xuất và nhập khẩu
(NX) chính là khoản chi phí ròng phải bỏ ra cho quan hệ thương mại quốc tế.


12

Như chúng ta đã biết, tăng trưởng có thể được đo bằng chỉ tiêu tổng sản
phẩm quốc nội (GDP) và GDP=C+I+G+NX. Do đó, sự thay đổi của một
trong 4 nhân tố cũng đều có thể làm cho GDP thay đổi, sự thay đổi đó thể
hiện sự biến động trong tăng trưởng kinh tế.
Dưới tác động của thị trường các yếu tố của tổng cầu thường xuyên
biến đổi, nếu tổng cầu bị giảm sút sẽ gây ra lãng phí rất lớn các yếu tố nguồn
lực của quốc gia đã có nhưng chưa được huy động và làm hạn chế mức tăng

kinh tế - xã hội. Xét trên khía cạnh kinh tế hiện đại thì nó là nhân tố cơ bản
của mọi nhân tố dẫn đến quá trình phát triển. Vì thế trình độ phát triển cao của
văn hoá là mục tiêu phấn đấu của sự phát triển. Mặc dù trên thực tế có sự
khác biệt phấn đấu của sự phát triển. trong mỗi khía cạnh của nội dung văn
hoá giữa các dân tộc, song điều đó không có trở ngại cho sự giao lưu kinh tế
giữa các quốc gia và thường tìm được sự hoà hợp.
Để tạo dựng quá trình tăng trưởng và phát triển bền vững thì đầu tư cho
sự nghiệp phát triển văn hoá phải được coi là những đầu tư cần thiết và đi
trước một bước so với đầu tư sản xuất.
- Nhân tố thể chế chính trị - kinh tế - xã hội
Các nhân tố này tác động đến quá trình phát triển đất nước theo khía
cạnh tạo dựng hành lang pháp lý và môi trường xã hội cho các nhà đầu tư.
Thể chế được biểu hiện như một lực lượng đại diện cho ý chí của cộng
đồng nhằm điều chỉnh các mới quan hệ kinh tế, chính trị và xã hội theo lợi ích
của cộng đồng đặt ra. Thể chế được thể hiện thông qua các dự kiến mục tiêu
phát triển, các nguyên tắc tổ chức quản lý kinh tế xã hội, hệ thống luật pháp,
các chế độ chính sách, các công cụ và bộ máy tổ chức thực hiện.
Một thể chế chính trị - xã hội ổn định và mềm dẻo sẽ tạo điều kiện để
đổi mới liên tục cơ cấu và công nghệ sản xuất phù hợp với những điều kiện
thực tế, tạo ra tốc độ tăng trưởng và phát triển nhanh chóng. Ngược lại một
thể chế không phù hợp sẽ gây ra cản trở, mất ổn định, thậm chí đi đến chỗ phá


14

vỡ những quan hệ cơ bản làm cho nền kinh tế đi vào tình trạng suy thoái,
khủng hoảng trầm trọng hoặc gây ra những xung đột chính trị, xã hội. Một thể
chế phù hợp với sự phát triển hiện đại mang trong mình những đặc trưng: Có
tính năng động, nhạy cảm và mềm dẻo, luôn thích nghi được với những biến
đổi phức tạp do tình hình trong nước và quốc tế xảy ra; Bảo đảm sự ổn định

tăng trưởng và phát triển.
- Cơ cấu tôn giáo.
Vấn đề tôn giáo đi liền với vấn đề dân tộc, mỗi tộc người đều có thể theo một
tôn giáo nào đó. Trong một quốc gia có nhiều tôn giáo. Các dân tộc ít người ít
tiếp xúc với thế giới hiện đại thường tôn thờ các thần linh tuỳ theo quan niệm.
Mỗi tôn giáo còn chia ra làm nhiều giáo phái. Ngoài ra còn có nhiều đạo giáo
riêng mà chỉ có một số dân tộc tôn thờ. Mỗi đạo giáo có những quan niệm,
triết lí tư tưởng riêng, bám sâu vào cuộc sống của dân tộc. Những ý thức tôn
giáo thường là cố hữu, ít thay đổi theo sự phát triển kinh tế xã hội. Những
định kiến của tôn giáo nói chung có ảnh hưởng tới sự tiến bộ của xã hội tuỳ
theo mức độ, song có thể là sự hoà hợp, nếu có chính sách đúng đắn của
Chính phủ.
- Sự tham gia của cộng đồng
Dân chủ và phát triển là hai vấn đề có tác dụng tương hỗ lẫn nhau. Sự
phát triển là điều kiện làm tăng thêm năng lực thực hiện quyền dân chủ của
cộng đồng dân cư trong xã hội. Ngược lại, về phía mình sự tham gia của cộng
đồng là nhân tố bảo đảm tính chất bền vững và tính động lực nội tại cho phát
triển kinh tế, xã hội. Các nhóm cộng đồng dân cư tham gia trong việc xác
định các mục tiêu của chương trình, dự án phát triển quốc gia, nhất là mục
tiêu phát triển các địa phương của họ, tham gia trong quá trình tổ chức thực
hiện, kiểm tra giám sát các hoạt động phát triển tại cộng đồng và tự quản lý
các thành quả của quá trình phát triển. Đó chính là yếu tố cần thiết cho một xã
hội phát triển nhằm tạo dựng sự nhất trí cao, tính hiệu quả và sự thích ứng, ổn


16

định trong thực hiện mục tiêu phát triển, đồng thời khích lệ được tiềm năng
của mọi cá nhân và cả cộng đồng vào trong quá trình phát triển kinh tế, giảm
thiểu hiện tượng tham nhũng trong xã hội. Tuy vậy, để sự tham gia của cộng

của cộng đồng”. Thực tế trong xã hội, những người giàu thường có cơ hội lựa
chọn nhiều hơn so với người nghèo.
Mặc dù không có một định nghĩa duy nhất về nghèo nhưng các quan
niệm về nghèo đói trên thế giới hầu như không có sự khác biệt đáng kể về bản
chất. Nhìn chung các quan niệm đều nhìn nhận nghèo là tình trạng thiếu thốn
ở nhiều phương diện khác nhau như: thu nhập hạn chế, thiếu cơ hội tạo ra thu
nhập, không có khả năng đảm bảo tiêu dùng để thỏa mãn những nhu cầu cơ
bản của con người, ít hoặc hầu như không được tham gia vào các quá trình ra
quyết định của cộng đồng… Sự khác biệt trong việc xác định thế nào là nghèo
ở mỗi quốc gia thể hiện chủ yếu dựa trên mức độ thỏa mãn những nhu cầu đó
cao hay thấp. Vì vậy việc phân định đối tượng nghèo chỉ mang tính chất
tương đối và phụ thuộc nhiều vào điều kiện phát triển kinh tế - xã hội cũng
như phong tục tập quán và chủ trương chính sách phát triển kinh tế - xã hội
cũng như định hướng giảm nghèo của từng khu vực, từng quốc gia.
Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển kinh tế - xã hội tại
Copenhagen Đan Mạch năm 1995 đã đưa ra một khái niệm cụ thể hơn về
nghèo: “Người nghèo là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn dưới 1 đôla mỗi
ngày cho mỗi người, số tiền được coi như đủ để mua những sản phẩm thiết
yếu để tồn tại”.
Tại hội nghị về chống đói nghèo khu vực Châu Á - Thái Bình Dương
do ESCAP tổ chức tại Băng Kốc, Thái Lan (9/1993) các quốc gia trong khu
vực đã thống nhất đưa ra định nghĩa: “Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư
không được hưởng và thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người mà những
nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội
và phong tục tập quán của địa phương”. Đây là định nghĩa được nhiều quốc
gia đang phát triển sử dụng, trong đó có Việt Nam.


18



sánh mức thu nhập của người dân theo thời gian và không giam một cách dễ
dàng hơn.
Sau khi nghiên cứu, trong “ Đánh giá chương trình mục tiêu quốc gia
về giảm nghèo và chương trình 135”, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội
đưa ra các khái niệm đói nghèo ở Việt Nam như sau:
Đói: Là tình trạng của một bộ phận dân cư nghèo có mức sống dưới
mức sống tối thiểu, không đảm bảo nhu cầu vật chất để duy trì cuộc sống.
Nghèo: Là tình trạng của một bộ phận dân cư chỉ có khả năng thỏa mãn
một phần nhu càu cơ bản của con người có mức sống ngang bằng mức sống
tối thiểu của cộng đồng xét trên mọi phương diện.
Hộ nghèo: Ở Việt Nam tồn tại nhiều cách xác định hộ nghèo tùy thuộc
vào điều kiện kinh tế - xã hội và chủ trương giảm nghèo của từng địa phương
trong mỗi thời kỳ khác nhau, do đó để phân loại hộ nghèo cần xem xét các
đặc trưng cơ bản như: thiếu ăn từ 3 tháng trở lên trong năm, nợ sản lượng
khoán, nợ thuế triền miên, vay nặng lãi, trẻ em không có điều kiện đến trường
(mù chữ hoặc bỏ học), thậm chí phải cho con hoặc tự bản thân đi làm thuê
cuốc mướn để kiếm sống hoặc đi ăn xin…
Xã nghèo: Là những xã có tỷ lệ hộ nghèo đói từ 40% trở lên, cơ sở hạ
tầng (đường giao thông, trường học, trạm y tế, điện sinh hoạt, nước sinh hoạt,
thuỷ lợi nhỏ và chợ) thấp kém hoặc không đủ phục vụ nhu cầu của người dân,
cụ thể là dưới 50% số hộ gia đình không được sử dụng điện sinh hoạt, dưới
30% số hộ gia đình không được sử dụng nước sạch, số phòng học không đáp
ứng được cho 70% số học sinh trở lên, không có đường giao thông đến trung
tâm xã, không có trung tâm y tế xã…
Vùng nghèo: Là một vùng liên tục gồm nhiều làng, xã, huyện hoặc chỉ
là một làng, một xã, một huyện mà tại đó chứa đựng nhiều yếu tố khó khăn,
bất lợi cho sự phát triển của cộng đồng, như đất đai khô cằn, thời tiết khí hậu




21

quân. Ví dụ nước Mỹ áp dụng mức chuẩn từ những năm 60 của thế kỷ trước,
cụ thể thu nhập 18.600 đôla/năm là ngưỡng nghèo đối với các gia đình có 4
người (gồm bố mẹ và hai con), thu nhập 9.573 đôla/năm là ngưỡng nghèo đối
với người độc thân trong độ tuổi lao động. Theo chuẩn này thì năm 1993 nước
Mỹ có 15,1% dân số nghèo khổ, năm 2000 tỷ lệ đó giảm xuống còn 11,3%
nhưng tới năm 2003 thì tỷ lệ người nghèo của nước Mỹ tăng lên 12,5% (tức là
khoảng 35,9 triệu người dân Mỹ sống trong tình trạng nghèo đói).
Một số nước khác sử dụng chỉ tiêu Kcalo/người/ngày để xác định
chuẩn nghèo, tuy nhiên chỉ tiêu này có sự chênh lệch giữa các khu vực, các
quốc gia khác nhau, thậm chí ngay trong một quốc gia cũng sử dụng nhiều
tiêu chuẩn nghèo tùy theo địa phương hoặc theo các thời kỳ khác nhau. Ví dụ
Malaixia sử dụng tiêu chuẩn 9.910 Kcalo/ngày tính trên một gia đình có 2
người lớn và 3 trẻ em để làm đường nghèo. Ấn Độ áp dụng ngưỡng nghèo với
chuẩn mực tiêu thụ bình quân đầu người hàng ngày là 2.400 Kcalo với vùng
nông thôn và 2.100 Kcalo với vùng đô thị. Pakistan lấy đường nghèo là mức
tiêu thụ 2.350 Kcalo/người/ngày. Một số nước khác như Lào, Campuchia,
Trung Quốc, Indonexia, Việt Nam sử dụng ngưỡng nghèo là mức tiêu thụ
2.100 Kcalo/người/ngày theo cách tiếp cận của Ngân hàng thế giới.
Chuẩn nghèo là một thước đo quan trọng trong việc đánh giá đói nghèo
của mỗi vùng, mỗi quốc gia cũng như của toàn thế giới, việc xây dựng một
chuẩn nghèo hợp lý, phù hợp với điều kiện thời gian, không gian, tập quán chi
tiêu của từng địa phương sẽ giúp xác định đúng đối tượng nghèo, trên cơ sở
đó đánh giá chính xác hơn thực trạng nghèo đói tại địa phương.
- Chuẩn nghèo đói của Việt Nam
+ Theo phương pháp của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
Đây là phương pháp xác định chuẩn nghèo đói dựa trên thu nhập của
hộ gia đình, các hộ gia đình được xếp vào diện nghèo nếu mức thu nhập bình

trong hộ đạt từ mức thu nhập sau trở xuống:



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status