Nghiên cứu hình thái, giải phẫu cơ quan sinh dưỡng và một số đặc điểm sinh trưởng của loài đậu săng (canjanus cajan l millsp ) trồng tại hà nội - Pdf 50

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA SINH - KTNN
--------------***---------------

NGUYỄN LAN HƯƠNG

NGHIÊN CỨU HÌNH THÁI, GIẢI PHẪU CƠ QUAN
SINH DƯỠNG VÀ MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG
CỦA LOÀI ĐẬU SĂNG (CANJANUS CAJAN L. MILLSP.)
TRỒNG TẠI HÀ NỘI

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Thực vật học

HÀ NỘI, 2018


TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA SINH - KTNN
--------------***---------------

NGUYỄN LAN HƯƠNG

NGHIÊN CỨU HÌNH THÁI, GIẢI PHẪU CƠ QUAN
SINH DƯỠNG VÀ MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG
CỦA LOÀI ĐẬU SĂNG (CANJANUS CAJAN L. MILLSP.)
TRỒNG TẠI HÀ NỘI

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Thực vật học



Tác giả

Nguyễn Lan Hương


MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC ẢNH
DANH MỤC CÁC BẢNG
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ........................................................................................... 1
2. Mục đích nghiên cứu ..................................................................................... 2
3. Phạm vi nghiên cứu ....................................................................................... 2
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn....................................................................... 2
5. Đóng góp mới................................................................................................ 2
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU........................................................ 3
1.1. Giới thiệu đối tượng nghiên cứu ................................................................ 3
1.2. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước ................................................ 4
1.2.1. Tình hình nghiên cứu một số cây họ Đậu trên thế giới........................... 4
1.2.2. Tình hình nghiên cứu một số cây họ Đậu tại Việt Nam ......................... 6
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG, THỜI GIAN VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .................................................................. 8
2.1. Đối tượng nghiên cứu................................................................................. 8
2.2. Nội dung nghiên cứu .................................................................................. 8
2.3. Phương pháp nghiên cứu............................................................................ 8
2.3.1. Ngoài thực địa ......................................................................................... 8

NC

Nghiên cứu

2

ĐC

Đối chứng

3

KT

Kích thước

6

CS

Cộng sự

7

TN

Thí nghiệm

8


Ảnh 19: Quả và hạt ......................................................................................... 25
Ảnh 20: Hình thái hoa ..................................................................................... 26
Ảnh 21: Hình thái nhị ...................................................................................... 26
Ảnh 22: Cây ở ô che sáng ............................................................................... 28
Ảnh 23: Cây ở ô đối chứng ............................................................................. 28


DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1. Ảnh hưởng của việc che sáng tới chiều cao của thân cây Đậu săng .... 27
Bảng 3.2. Ảnh hưởng của việc che sáng tới số lá sinh ra của cây Đậu săng
(chiếc lá / cây) ................................................................................................. 29


1

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đậu săng hay còn gọi là Đậu triều, có tên khoa học là Canjanus
cajan L. Millsp., họ Đậu (Fabaceae), thân gỗ cao, thuộc nhóm cây lâu
năm. Cây Đậu săng rất dễ sống, có thể sống ở nhiều loại đất khác nhau, tuy
nhiên Đậu săng vẫn thích hợp với đất khô hơn là ngập úng hay sương giá.
Đậu săng là một nguồn thực phẩm giàu giá trị dinh dưỡng mà ít người
biết đến, đặc biệt hàm lượng protein, Đậu săng ở nhiều khu vực nước nhiệt
đới được người dân sử dụng trong các món ăn hằng ngày. Quả và hạt xanh
được sử dụng làm rau xanh. Hạt già dùng nấu súp, cơm nếp hoặc ủ nảy mầm
làm giá. Cây Đậu săng có sinh khối nhanh nên có thể sử dụng làm cây thức ăn
gia súc lưu niên hoặc làm phân xanh.
Ở Việt Nam, cây Đậu săng thường được trồng để lấy bóng mát, cây che
phủ, nên còn được gọi là cây Cọc rào. Ở Bắc Bengal - Thái Lan người ta còn
dùng Đậu săng để làm cây ký chủ sản xuất cánh kiến, nhựa cánh kiến. Ở

Ý nghĩa khoa học: Đề tài góp phần bổ sung vốn kiến thức cho chuyên
ngành Thực vật học và là cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu về cây Đậu
săng ở Việt Nam.
Ý nghĩa thực tiễn: Ứng dụng kết quả đạt được làm phong phú thêm dẫn
liệu về hình thái, giải phẫu thích nghi khi giảng dạy bộ môn Hình thái giải
phẫu học thực vật và Sinh lý học thực vật.
5. Đóng góp mới
Cung cấp một số dẫn liệu về hình thái, giải phẫu và sự sinh trưởng của
loài Đậu săng tại khu vực nghiên cứu.


3

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Giới thiệu đối tượng nghiên cứu

Ảnh 1: Hình thái cây Đậu săng (Nguồn gốc: Internet)

Đậu săng (tên khoa học Cajanus cajan L. Millsp., tên khác: Đậu
triều, Đậu cọc rào,…), họ Đậu (Fabaceae), dạng bán thân gỗ, thuộc nhóm cây
lâu năm, nhưng được trồng hàng năm để thu quả; thân khoẻ, hoá gỗ có thể cao
tới 4m [2].
Đậu săng là cây trồng dễ tính, có thể sống được ở mọi loại đất có pH
dao động từ 4,5 - 8,4. Ở những vùng khô hạn, lượng mưa hàng năm thấp hơn
650mm, Đậu săng vẫn cho năng suất hạt cao vì cây chín sớm và tỉ lệ nhiễm
sâu bệnh hại thấp. Cây sinh trưởng ở nhiệt độ 10oC - 35oC nhưng thích hợp
nhất là 18oC - 29oC [18].


4

5

mầm. Ước tính các loài trong họ này chiếm khoảng 16% các loài cây trong
vùng rừng mưa nhiệt đới Nam Mỹ. Ngoài ra, họ này cũng có mặt nhiều ở các
rừng mưa và rừng khô nhiệt đới ở châu Mỹ và châu Phi [3].
Trên thế giới đã có nhiều nhà khoa học tham gia nghiên cứu các cây
thuộc họ Đậu theo những hướng khác nhau, trong đó nghiên cứu về những
đặc điểm sinh lí, sự đa dạng di truyền, phân lập gen,…lần lượt được thảo luận
trên các tạp chí chuyên ngành.
Afzal và CS (2004) đã nghiên cứu sự đa dạng di truyền của 21 giống
Đậu xanh nhằm chọn giống Đậu xanh có năng suất cao và chống chịu bệnh.
Tác giả đã sử dụng 34 mồi ngẫu nhiên, kết quả thu được 204 phân đoạn ADN
được nhân bản trong đó có khoảng 75% phân đoạn thể hiện tính đa hình [14].
Nghiên cứu của Islam và Razzaque (2010) đã chỉ ra mối tương quan
thuận giữa các giống đậu xanh năng suất hạt cao với cường độ quang hợp của
cây, mặc dù không phải luôn có tương quan chặt chẽ nhưng khả năng quang
hợp cao sẽ cho năng suất cây trồng lớn.
Trung tâm nghiên cứu và phát triển rau màu Châu Á (AVRDC) đã thiết
lập hệ thống đánh giá (Soybean - Evaluation - Aset) giai đoạn 1, đã phân phát
được trên 20 000 giống đến 546 nhà khoa học của 164 nước Nhiệt Đới và Á
Nhiệt Đới. Kết quả đánh giá giống của Aset với các giống Đậu tương là đã
đưa vào trong mạng lưới sản xuất được 21 giống ở trên 10 quốc gia (Nguyễn
Thị Út, 2006) [15].
Đài Loan bắt đầu chương trình chọn tạo giống đậu tương từ năm 1961
và đã đưa vào sản xuất các giống Kaoshing 3, Tai nung 3, Tai nung 4 cho
năng suất cao hơn giống khởi đầu và vỏ quả không bị nứt. Đặc biệt giống Tai
nung 4 được dùng làm nguồn gen kháng bệnh trong các chương trình lai tạo
giống ở các cơ sở khác nhau như trạm thí nghiệm Major (Thái Lan), Trường
Đại học Philipines (Vũ Tuyên Hoàng và các cộng sự, 1995) [14].




7

năng chịu hạn của cây thuộc họ Đậu (Nguyễn Văn Mã, Nguyễn Văn
Đính,...),... [8], [14], [15].
Tác giả Điêu Thị Mai Hoa, Nguyễn Văn Mã (1995) nghiên cứu ảnh
hưởng của phân vi lượng tới khả năng chịu hạn và quang hợp ở các thời kì
sinh trưởng và phát triển của cây Đậu xanh. Qua nghiên cứu nhóm tác giả đã
rút ra được kết luận: Nguyên tố vi lượng làm tăng khả năng chịu hạn của cây,
tăng cường độ quang hợp thể hiện rõ rệt khi xử lí ở giai đoạn ra hoa, làm tăng
năng suất, tăng hàm lượng protein [8].
Lần đầu tiên ở Việt Nam, tác giả Điêu Thị Mai Hoa (2007), đã sử dụng
kĩ thuật RAPD để xác định mức độ tương đồng di truyền của 57 giống Đậu
xanh có thời gian chín, mức độ chín tập trung khác nhau; tác giả cùng đã đi
phân tích và giải trình tự thành công gen mã hóa ACO tham gia tổng hợp
etylen ở đậu xanh [14].
Như vậy, những nghiên cứu liên quan đến các cây thuộc họ Đậu trên
thế giới được bắt đầu làm từ sớm với một lượng đề tài rất phong phú, đa dạng.
Các tác giả đã đi sâu nghiên cứu các hướng khác nhau, song vẫn chủ yếu tập
trung khai thác ở mặt chỉ tiêu sinh lý, di truyền, năng suất của cây mà chưa
nghiên cứu nhiều về hình thái, giải phẫu của cây, đặc biệt là ở cây Đậu săng.
Do đó, việc nghiên cứu đặc điểm hình thái và cấu tạo giải phẫu của cây Đậu
săng là cần thiết và phù hợp với thực tế.


8

CHƯƠNG 2
ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG, THỜI GIAN VÀ

10

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

1

2

3

4


10


9

Ảnh 2: Hình thái mẫu cây Đậu săng nghiên cứu

* Quan sát, mô tả, chụp ảnh về hình thái loài nghiên cứu.
* Thu mẫu.
* Ngâm mẫu: Các mẫu sau khi lấy được rửa sạch bùn đất rồi để khô nước,
sau đó tiến hành ngâm vào dung dịch cồn 30 - 40% để giữ mẫu.
2.3.2. Trong phòng thí nghiệm
2.3.2.1. Sử dụng phương pháp làm giải phẫu thông thường của tác giả
Klein R.M., Klein D.T (1979) [10].
Các cơ quan sinh dưỡng thuộc các đối tượng nghiên cứu có kích thước
trung bình nên chúng tôi dùng phương pháp cắt mẫu bằng tay:


10

Cầm vật cắt ở tay trái, kẹp mẫu ở ngón cái và ngón giữa, ngón trỏ được
dùng như điểm tựa cho lưỡi dao.
Tay phải cầm lưỡi dao để cắt (có thể dùng một miếng cà rốt, khoai tây,
hay khoai lang làm thớt cắt). Chú ý cắt lát thật mỏng vuông góc với trục của
mẫu vật, không nháy lại lát cắt.
Nhuộm lát cắt: Chúng tôi tiến hành các bước nhuộm kép với quy trình
như sau:
- Bước 1: Lát cắt được ngâm vào dung dịch nước Javen trong 15-30
phút để tẩy sạch nội chất của tế bào.
- Bước 2: Rửa sạch Javen bằng nước cất 2-3 lần.

0.01mm ứng với 10 µm.
* Cách đo:
Đặt trắc vi vật kính lên mâm kính, điều chỉnh kính hiển vi để nhìn rõ
vạch chia trên đó, lắp trắc vi thị kính vào thị kính.
Nhìn vào thị kính và điều chỉnh trắc vi vật kính cho hai thước đo nằm
song song và hơi chập vào nhau.
Tiếp tục điều chỉnh trắc vi vật kính để cho một vạch ở trắc vi thị kính
trùng với một vạch trên trắc vi vật kính, rồi tìm vạch thứ hai cũng trùng như
vậy là được.
10xb
* Cách tính chiều dài một vạch: a .


12

Trong đó:
a: Số vạch của trắc vi thị kính.
b: Số vạch của trắc vi vật kính.
Chúng tôi tiến hành đo với số lần: n ≥ 30.
2.3.2.3. Phương pháp chụp ảnh qua kính hiển vi quang học: Chúng tôi
chụp ảnh qua kính hiển vi quang học nối với máy ảnh kĩ thuật số.
2.4. Địa điểm tiến hành nghiên cứu
Vườn cây của Phòng Thực vật học, Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh
vật, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam; Phòng thí nghiệm bộ
môn Thực vật, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2.


13

CHƯƠNG 3

Một số tế bào biểu bì kéo dài ra phía ngoài tạo thành lông hút. Tầng cuticun
không xuất hiện giúp rễ sơ cấp thích nghi với chức năng hấp thụ nước và muối
khoáng hòa tan trong đất. Lông hút chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn sau đó
được thay thế bởi lông hút mới. Sự có mặt của rất nhiều lông hút làm tăng khả
năng hấp thụ nước và chất dinh dưỡng.
Nằm phía trong biểu bì là hệ thống mô mềm vỏ (8-10 lớp). Tế bào mô
mềm có dạng hình trứng chứa chất dự trữ là chủ yếu, vách mỏng, xếp không
sít nhau để lại nhiều khoảng gian bào.
Vỏ trong tạo thành đai caspari, tế bào hóa bần 2 mặt tại các vách xuyên
tâm, vách tiếp tuyến vẫn phát triển bình thường, nước và các chất dinh dưỡng
khoáng vẫn có thể đi vào trụ dẫn qua vách tiếp tuyến.
+ Trụ giữa (chiếm khoảng 30% bề mặt cắt ngang rễ).
Trụ dẫn được cấu tạo gồm 3 phần: Nằm phía ngoài cùng là vỏ trụ (2-3
lớp tế bào) hoạt động phân sinh, vách mỏng, rễ bên được hình thành từ đây
theo con đường nội sinh.
Hệ thống dẫn của rễ sơ cấp phát triển kém, các bó gỗ và libe riêng biệt
nhau tạo thành bó mạch xen kẽ, có bao nhiêu bó libe thì có bấy nhiêu bó gỗ.
Mạch gỗ có kích thước nhỏ, không đều nhau, gỗ sau lớn hơn gỗ trước. Gỗ và
libe sơ cấp phân hóa hướng tâm, số lượng mạch gỗ ít (2-3 mạch / bó).
Nằm trong cùng là những tế bào mô mềm có vách mỏng xếp sít nhau


15

tạo thành tia ruột, rễ sơ cấp chỉ tồn tại một thời gian ngắn và sau đó nhanh
chóng được thay thế bởi rễ thứ cấp, cứng rắn hơn về mặt cơ học, đáp ứng nhu
cầu phát triển mạnh cả về chiều dài lẫn chiều rộng của cây.
* Cấu tạo thứ cấp
Quan sát trên lát cắt ngang qua rễ cây Đậu săng chúng tôi thấy phần vỏ
và phần trụ rễ thứ cấp phân biệt nhau rất rõ ràng.

Ảnh 4. Phần vỏ rễ cây Đậu săng

Ảnh 5. Cắt ngang rễ thứ cấp cây Đậu săng
1. Bần. 2. Tầng sinh vỏ. 3. Mô mềm vỏ.
4. Libe thứ cấp. 5. Gỗ thứ cấp. 6. Tinh thể
canxi oxalat

* Phần trụ
Trụ giữa chiếm 50% - 60% diện tích mặt cắt ngang rễ (ảnh 5).
Bó mạch sắp xếp theo kiểu chồng chất, libe nằm phía ngoài, tiếp theo là
tầng sinh trụ có 4 - 5 lớp tế bào xếp theo hướng xuyên tâm. Sự hoạt động của
chúng cho ra phía ngoài là libe thứ cấp, phía trong là gỗ thứ cấp (ảnh 5). Libe
chiếm tỉ lệ nhỏ so với gỗ. Phần gỗ chủ yếu là mạch gỗ, chúng liên kết nhau bởi
các tế bào mô mềm. Các mạch gỗ có kích thước nhỏ. Gỗ của rễ phân hóa hướng
tâm, gỗ trước xuất hiện đầu tiên nằm dưới vỏ trụ, gỗ sau nằm ở gần giữa bó mạch.
Trên lát cắt ngang của rễ cây Đậu săng có 6 - 7 bó dẫn, mỗi bó có 30 - 40
mạch. Gỗ thứ cấp và mô mềm gỗ chiếm khối lượng chủ yếu của trụ dẫn. Các bó
mạch nằm không sít nhau, chúng được nối với nhau bởi hệ thống tia ruột do mô
phân sinh ngọn tạo nên. Số lượng bó dẫn tương ứng với số tia.
3.1.2. Đặc điểm hình thái và cấu tạo giải phẫu của thân
3.1.2.1. Đặc điểm hình thái của thân
Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi thấy Đậu săng có dạng thân bụi,
mọc thẳng đứng, nhánh đâm tự do. Phần thân trưởng thành cũng như tại các



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status