TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
**************
NGUYỄN THU THỦY
THỰC TRẠNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG
TỰ BẢO VỆ CHO HỌC SINH LỚP 1, LỚP 2
TRƢỜNG TIỂU HỌC QUANG MINH A
THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC
NGOÀI GIỜ LÊN LỚP
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục học
HÀ NỘI – 2018
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
**************
**************
NGUYỄN THU THỦY
NGUYỄN THU THỦY
THỰC TRẠNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG
THỰC TRẠNG GIÁO DỤC KĨ NĂNG
TỰ BẢO VỆ CHO HỌC SINH LỚP 1, LỚP 2
TỰ BẢO VỆ CHO HỌC SINH LỚP 1, LỚP 2
chế nên chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong đƣợc
sự đóng góp và tiếp tục xây dựng đề tài của các bạn đọc.
Em xin chân thành cảm ơn.
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thu Thủy
LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong khóa
luận này là trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác. Đồng thời
các thông tin trích dẫn trong khóa luận này đã đƣợc ghi rõ nguồn gốc.
Hà Nội, ngày 6 tháng 5 năm 2018
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thu Thủy
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ........................................................................................... 1
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài .................................................................... 2
3. Đối tƣợng, khách thể nghiên cứu của đề tài.................................................. 2
4. Phạm vi nghiên cứu ....................................................................................... 2
5. Giả thuyết khoa học ...................................................................................... 3
6. Nhiệm vụ nghiên cứu .................................................................................... 3
8. Cấu trúc của đề tài ......................................................................................... 4
1.5.6. Những thuận lợi, khó khăn trong giáo dục kỹ năng tự bảo vệ cho học
sinh tiểu học .................................................................................................... 30
Kết luận chƣơng 1 ........................................................................................... 32
Chƣơng 2: ........................................................................................................ 33
THỰC TRẠNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG TỰ BẢO VỆ CHO HỌC SINH
LỚP 1, LỚP 2 TRƢỜNG TIỂU HỌC QUANG MINH A THÔNG QUA
HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC NGOÀI GIỜ LÊN LỚP ..................................... 33
2.1. Vài nét về địa bàn và phạm vi nghiên cứu ............................................... 33
2.1.1. Vài nét về địa bàn nghiên cứu ............................................................... 33
2.1.2. Vài nét về phạm vi nghiên cứu ............................................................. 33
2.2. Thực trạng giáo dục kỹ năng tự bảo vệ của học sinh tiểu học thông qua
hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp tại trƣờng tiểu học Quang Minh A ...... 34
2.2.1. Thực trạng nhận thức của giáo viên, cán bộ quản lí về vai trò của kỹ
năng tự bảo vệ ................................................................................................. 34
2.1.2. Thực trạng nhận thức của học sinh về kỹ năng tự bảo vệ..................... 36
2.2.3. Thực trạng việc giáo dục kỹ năng tự bảo vệ cho học sinh tiểu học thông
qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở Trƣờng Tiểu học Quang Minh A
......................................................................................................................... 39
2.3. Thực trạng các hình thức giáo dục kỹ năng tự bảo vệ ở trƣờng tiểu học
Quang Minh A................................................................................................. 43
2.4. Thực trạng việc sử dụng các biện pháp giáo dục kỹ năng tự bảo vệ ở
trƣờng tiểu học ................................................................................................ 45
2.5. Thực trạng đánh giá hiệu quả sử dụng các biện pháp ở trƣờng tiểu học
Quang Minh A................................................................................................. 47
2.6. Nguyên nhân ............................................................................................ 49
Kết luận chƣơng 2 ........................................................................................... 52
Chƣơng 3: ........................................................................................................ 53
ĐỀ XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC KỸ NĂNG TỰ BẢO VỆ
chất lƣợng và hạnh phúc.
Xã hội hiện đại luôn nảy sinh những vấn đề phức tạp và những vấn đề
bất định đối với con ngƣời. Nếu con ngƣời không có năng lực để ứng phó
vƣợt qua những thách thức đó và hành động theo cảm tính thì rất dễ gặp rủi
ro.
Vì vậy học sinh phải có kĩ năng tự bảo vệ mình để cho trẻ để trẻ có nhận
thức đúng và có hành vi ứng xử phù hợp ngay từ độ tuổi tiểu học góp phần
giúp trẻ tự chăm sóc và bảo vệ bản thân tránh khỏi những nguy hiểm.
Theo số liệu từ Bộ Lao động, Thƣơng binh và Xã hội, trong 5 năm từ
2011 đến 2015, cả nƣớc có 5.300 vụ xâm hại tình dục trẻ em. Tính trung bình,
cứ 8 giờ trôi qua lại có một trẻ em Việt Nam bị xâm hại. Theo số liệu thống
kê từ Bộ Công an, năm 2014 có khoảng hơn 100 trẻ em mất tích vì bị mua
bán, bắt cóc và bị bán ra nƣớc ngoài. Nghĩa là cứ một tuần có khoảng 2 trẻ
mất tích ở Việt Nam.Theo số liệu thống kê cho thấy mỗi năm có khoảng
7.000 trẻ em tử vong do gặp phải các tai nạn thƣơng tích. Trung bình mỗi năm
trong giai đoạn 2010 đến 2015 có khoảng 2.800 trẻ em bị tử vong do đuối
nƣớc. Trong đó nhóm tuổi chiếm tỷ lệ tử vong cao từ 5 - 14 tuổi.
Các số liệu thống kê trên đã cho thấy trẻ em gặp rất nhiều nguy cơ tiềm
ẩn xung quanh cuộc sống của mình. Chính vì vậy cần giáo dục kĩ năng tự bảo
vệ cho học sinh tiểu học từ sớm để trẻ có thể nhận thức đƣợc các nguy cơ và
1
tự bảo vệ mình. Nhất là đối với học sinh lớp 1, lớp 2 các em còn rất bé, mọi
kỹ năng tự bảo vệ bản thân đều không có, thể lực cũng chƣa đủ để chống lại
những xâm hại cơ thể về mọi mặt. Giáo dục kỹ năng tự bảo vệ là cung cấp
cho các em những kiến thức cơ bản nhất với những hình thức phù hợp nhất
cho các em, giúp các em dễ nhớ, ấn tƣợng sâu sắc với các tình huống có thể
xảy ra, vận dụng những kiến thức đƣợc học để tự bảo vệ bản thân. Đây cũng
là phƣơng pháp mà ngƣời lớn có thể bảo vệ cho trẻ một cách tốt nhất khi các
lên lớp đƣợc tác động vào nhận thức của học sinh và giáo viên thì sẽ giúp học
sinh nâng cao đƣợc kỹ năng tự bảo vệ đồng thời cũng giúp giảm thiểu đƣợc
những sự việc không mong muốn.
6. Nhiệm vụ nghiên cứu
6.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về giáo dục kỹ năng tự bảo vệ cho học
sinh tiểu học
6.2. Nghiên cứu thực trạng giáo dục kỹ năng tự bảo vệ cho học sinh tiểu
học ở trƣờng tiểu học Quang Minh A thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ
lên lớp
6.3. Đề xuất một số biện pháp giáo dục kỹ năng tự bảo vệ cho học sinh
tiểu học
7. Các phƣơng pháp nghiên cứu
7.1. Phương pháp nghiên cứu lí luận
Đề tài sử dụng các phƣơng pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa cơ sở
lí luận để xây dựng cơ sở lí luận nghiên cứu
7.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phƣơng pháp quan sát: dự giờ, quan sát hoạt động của giáo viên, học
sinh để tìm hiểu thực trạng cách tiến hành của hoạt động giáo dục ngoài giờ
lên lớp để từ đó tìm hiểu hiệu quả và nguyên nhân của các hoạt động giáo dục
ngoài giờ lên lớp.
3
- Phƣơng pháp điều tra: xây dựng các phiếu hỏi cho đối tƣợng: học sinh,
giáo viên, cán bộ quản lí, nhân viên nhằm thu thập những thông tin phục vụ
cho việc phân tích và đánh giá thực trạng của việc giáo dục kỹ năng tự bảo vệ
cho học sinh tiểu học thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trƣờng
Tiểu học Quang Minh A.
7.3. Phương pháp khác
Thống kê và xử lí số liệu thu thập đƣợc thông qua khảo sát, qua các
Tại nhiều nƣớc trên thế giới từ khi còn nhỏ học sinh đã đƣợc học những
khóa học nhằm giáo dục kỹ năng tự bảo vệ. Ví dụ nhƣ ở Nhật Bản học sinh
thƣờng xuyên đƣợc tập luyện kỹ năng ứng phó khi động đất xảy ra. Ở Hàn
quốc thì học sinh đƣợc tập luyện ứng phó với các thiên tai, hỏa hoạn … Ở các
nƣớc phƣơng Tây thì trẻ em đƣợc giáo dục về kỹ năng sinh tồn và những kỹ
năng sống khác qua những khóa học ngoại khóa rất nhiều chẳng hạn ở Mỹ từ
1 tuổi các nhà giáo dục mỹ đã khuyên nên cho trẻ đi học bơi, từ 6 đến 8 tuổi,
các bậc phụ huynh sẽ khuyến khích con mình tập nấu những món đơn giản
với rau, trứng hoặc các món bánh dễ làm, cũng trong thời điểm 5 năm tiểu
học, các em sẽ phải làm quen với việc đánh răng, vệ sinh cá nhân một mình
không có ngƣời giám sát; có thể tự đi các phƣơng tiện công cộng hoặc biết
cách quản lý thời gian. Bên cạnh đó là những kỹ năng xã hội nhƣ giao tiếp với
5
ngƣời lớn, bạn bè hoặc ngƣời nhỏ tuổi hơn. Các bài học về xử lý tình huống
cũng đƣợc thực hành nhƣ kĩ năng trốn thoát khi có hỏa hoạn, động đất, nguy
hiểm tính mạng. Đặc biệt ở nƣớc Cộng hoà Liên bang Nga đã có một số
chƣơng trình giáo dục kỹ năng xã hội, trong đó đặc biệt chú trọng đến việc
giáo dục kỹ năng tự bảo vệ bản thân trƣớc những tình huống khó khăn trong
cuộc sống dành cho học sinh và phụ huynh. Luật bảo vệ an toàn cho trẻ em
đƣợc ban hành rộng rãi trên cả nƣớc Cộng hoà Liên bang Nga. Các địa
phƣơng cũng tuyên bố cam kết bảo vệ an toàn cho trẻ em dƣới mọi hình thức.
Các nƣớc trên thế giới rất quân tâm đến việc bảo vệ an toàn cho trẻ em.
Vào khoảng những thập niên 80 của thế kỷ XX những nghiên cứu về
giáo dục kỹ năng tự bảo vệ bắt đầu đƣợc quan tâm. Có rất nhiều công trình
nghiên cứu về kỹ năng tự bảo vệ. Ngƣời đầu tiên nghiên cứu vấn đề này là
Giáo sƣ Tiến sĩ Gilbert J. Botvin. Từ năm 1979, ông và cộng sự đã lập nên
một chƣơng trình giáo dục kỹ năng sống cho giới trẻ từ 17-19 tuổi và một
chƣơng trình đƣợc lập ra nhằm giúp ngƣời học có khả năng từ chối những lời
các giảng viên trƣờng Đại học Sƣ phạm Ulianov đã đƣa ra nhận định: báo cáo
đáng sợ của tội phạm đối với trẻ em đã chứng minh về sự thụ động của trẻ khi
đối mặt với sự nguy hiểm
Ngoài ra còn có rất nhiều công trình nghiên cứu khác về kĩ năng sống
trong đó có đề cập đến kĩ năng tự bảo vệ.
1.1.2. Ở Việt Nam
Ở Việt Nam hiện nay việc rèn luyện kỹ năng tự bảo vệ đƣợc rất nhiều
quan tâm của xã hội. Có rất nhiều chƣơng trình đƣợc thực hiện nhằm giáo dục
và rèn luyện kỹ năng tự bảo vệ cho học sinh tiểu học nhƣ: dự án: “Giáo dục
phòng tránh tai nạn bom mìn cho học sinh tiểu học” đƣợc tiến hành với sự
phối hợp giữa Sở giáo dục và đào tạo tỉnh Quảng Trị với Tổ chức Cứu trợ Phát triển Mỹ Cathilic Relief Services, chƣơng trình “Phòng tránh tai nạn
7
thương tích” do Ủy ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em phối hợp với Tổ chức
UNICEF triển khai, Bộ Giáo dục đã phối hợp với Ngành Công An, Ủy ban
An toàn giao thông quốc gia đƣa ra “Chương trình giảng dạy thí điểm và tổ
chức nhiều cuộc thi tìm hiểu luật an toàn giao thông” cho trẻ em các trƣờng
từ mẫu giáo đến phổ thông trung học để trang bị những kiến thức ban đầu về
luật giao thông, … [15]
Bên cạnh các chƣơng trình giúp giáo dục kỹ năng tự bảo vệ cho học sinh
tiểu học còn có các tác phẩm, công trình nghiên cứu đề cập đến kỹ năng tự
bảo vệ.
Tác giả Huyền Linh trong cuốn sách: “Cẩm nang tự vệ an toàn trong
nhà” và “Cẩm nang tự vệ an toàn ra ngoài” của nhà xuất bản Thanh niên, năm
2011 đã hƣớng dẫn trẻ chi tiết cách xử lý các tình huống thiếu an toàn với bản
thân.[8],[9]. Trong tác phẩm: “Cẩm nang tự vệ cho con bạn”, “Cẩm nang an
toàn cho con bạn” của tác giả Lâm Trinh do nhà xuất bản Văn Hóa Thông Tin
phát hành năm 2011 đã đƣa ra những cách giúp trẻ biết ứng phó trong những
tình huống nguy hiểm, những hoàn cảnh thiếu an toàn.[11],[12]
1.2.1. Khái niệm kỹ năng
Có rất nhiều quan điểm khác nhau về kỹ năng nhƣ
Tác giả Trần Trọng Thủy cho rằng: “Kỹ năng là mặt kỹ thuật của hành
động con người nắm được cách thức hành động tức là hành động có kỹ năng”
.[27]
Theo tác giả V.A.Kruteski trong cuốn sách Tâm lý học xuất bản năm
1980, cho rằng: “Kỹ năng là các phương thức thực hiện hoạt động- cái mà
con người lĩnh hội được”. [27]
A.G.Kovaliov thì nhấn mạnh: “Kỹ năng là phương thức thực hiện hành
động phù hợp với mục đích và điều kiện của hành động” .[27]
9
Tác giả K.K.Platonov và G.G.Golubev cho rằng: “Kỹ năng là năng lực
của người thực hiện công việc có kết quả với chất lượng cần thiết trong
những điều kiện mới và trong khoảng thời gian tương ứng” .[18]
N.D.Levitov quan niệm rằng: “Kỹ năng là sự thực hiện có kết quả một
động tác nào đó hay một hoạt động phức tạp hơn bằng cách lựa chọn và áp
dụng những cách thức đúng đắn, có tính đến những điều kiện nhất định” .[18]
Tác giả Vũ Dũng đã định nghĩa: “Kỹ năng là năng lực vận dụng có kết
quả những tri thức về phương thức hành động đã được chủ thể lĩnh hội để
thực hiện những nhiệm vụ tương ứng” .[32]
Theo tác giả Huỳnh Văn Sơn quan niệm: “Kỹ năng là khả năng thực
hiện có kết quả một hành động nào đó bằng cách vận dụng những tri thức,
kinh nghiệm đã có để hành động phù hợp với những điều kiện cho phép. Kỹ
năng không chỉ đơn thuần về mặt kĩ thuật mà còn biểu hiện năng lực của con
người” .[10]
Từ những khái niệm trên tôi cho rằng: kỹ năng dạng hành động cụ thể
của chủ thể thực hiện thuần thục một hay một chuỗi hành động trên cơ sở
Trong tài liệu tập huấn hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp của Bộ Giáo
dục và Đào tạo, Kỹ năng sống là khả năng thực hiện những hành vi thích ứng
tích cực, những cách hành xử hiệu quả, giúp cá nhân hoà nhập vào môi trƣờng
xung quanh (gia đình, 5 lớp học, thế giới bạn bè…), giúp cá nhân hình thành
các mối quan hệ xã hội, phát triển những nét nhân cách tích cực thuận lợi cho
sự thành công học đƣờng và thành công trong cuộc sống.[40]
Theo Bách khoa toàn thƣ mở (Wikipedia) thì kỹ năng sống là tập hợp
các kỹ năng mà con ngƣời có đƣợc thông qua giảng dạy hoặc kinh nghiệm
trực tiếp đƣợc sử dụng để xử lý những vấn đề thƣờng gặp trong cuộc sống
hàng ngày của con ngƣời.
Ngoài ra cũng có một số khái niệm khác về kỹ năng sống là
11
Theo tác giả Xkomni thì kỹ năng sống là khả năng con ngƣời thực hiện
những hành vi thích ứng với thách thức và những đòi hỏi của cuộc sống. Kỹ
năng sống thể hiện năng lực sống của con ngƣời trong cuộc sống cá nhân,
trong mối quan hệ xã hội,…[10]
Kỹ năng sống là hành động tích cực, có liên quan đến kiến thức và thái
độ trực tiếp hƣớng vào hoạt động của cá nhân, hoặc tác động vào ngƣời khác,
hoặc hƣớng vào những hoạt động làm thay đổi môi trƣờng xung quanh, giúp
mỗi cá nhân ứng phó có hiệu quả với các yêu cầu, thách thức của cuộc sống
hằng ngày.[2]
Có rất nhiều khái niệm về kỹ năng sống nhƣng có thể đƣa ra nhƣ sau: kỹ
năng sống là năng lực, khả năng vận dụng những kiến thức, những kinh
nghiệm đã tích lũy được để xử lý, ứng phó hiệu quả với các tình huống xảy ra
và những thách thức ở trong cuộc sống hằng ngày.
Kỹ năng sống có những đặc tính sau đây:
- Đó là khả năng con ngƣời sống một cách phù hợp và hữu ích; (từ góc
độ sức khỏe thể hiện ngay cả biết ăn thực phẩm dinh dƣỡng trong mỗi bữa).
đình, đến môi trƣờng cộng đồng…
Cách phân loại của tổ chức Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF)
gồm 3 nhóm:
- Nhóm kỹ năng tự nhận thức và sống với chính mình gồm một số kỹ
năng nhƣ: tự nhận thức và đánh giá bản thân, kỹ năng xây dựng mục tiêu cuộc
sống, kỹ năng bảo vệ bản thân,…
- Nhóm kỹ năng nhận thức và sống với ngƣời khác gồm các kỹ năng
nhƣ: kỹ năng thiết lập quan hệ, kỹ năng hợp tác, kỹ năng làm việc nhóm,…
13
- Nhóm kỹ năng ra quyết định và làm việc hiệu quả gồm một số kỹ năng
nhƣ: phân tích vấn đề, nhận thức thực tế, ra quyết định, ứng xử, giải quyết vấn
đề,…
Tùy theo từng quan điểm mà có những cách phân chia khác nhau.
1.2.3. Khái niệm kỹ năng tự bảo vệ
Nói đến tự bảo vệ thì ngƣời ta thƣờng nghĩ ngay đến việc tự giữ an toàn
của bản thân khi gặp một tình huống bất lợi hay khó khăn gì đó ảnh hƣởng
đến thể chất và tình thần của chính bản thân mình.
Theo từ điển Tiếng Việt tự bảo vệ có nghĩa là: Tự che chở, tự bảo vệ lấy
mình, tự mình giữ lấy mình, chống lại sự xâm hại của kẻ khác.[13]
Theo tác giả Yayne Dendhire, trong bộ sách Healthy Habits của nhà xuất
bản giáo dục Macmillan, Úc đã đƣa ra khái niệm về giữ an toàn (safety) nhƣ
sau: “Giữ an toàn là tránh khỏi những nguy hại, khỏi những mối nguy hiểm
như bị tổn thương về thể xác hoặc tinh thần” [34]
Nhƣ vậy theo tôi kĩ năng tự bảo vệ có thể hiểu nhƣ sau: Kỹ năng bảo vệ
bản thân là năng lực của chủ thể nhận thức về những sự việc xung quanh
mình cũng như cách để hành động đúng, an toàn đối với sự vật đó. Trẻ có kỹ
năng bảo vệ bản thân sẽ biết cách làm thế nào để tránh xa những mối nguy
cho phù hợp đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi học sinh tiểu học. Hoạt động giáo
dục trong giờ lên lớp đƣợc tiến hành thông qua việc dạy học các môn học bắt
buộc và tự chọn trong chƣơng trình giáo dục phổ thông cấp Tiểu học do Bộ
trƣởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành. Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên
lớp bao gồm hoạt động ngoại khoá, hoạt động vui chơi, thể dục thể thao, tham
quan du lịch, giao lƣu văn hoá; hoạt động bảo vệ môi trƣờng; lao động công
ích và các hoạt động xã hội khác.[6]
Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp là những hoạt động đƣợc tổ chức
ngoài giờ học các môn học. Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp là sự tiếp
15
nối và thống nhất hữu cơ với hoạt động dạy học, tạo điều kiện gắn lí thuyết
với thực hành, góp phần quan trọng vào sự hình thành và phát triển nhân cách
toàn diện của học sinh. Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp (HĐGDNGLL)
là một bộ phận quan trọng không thể thiếu đƣợc trong toàn bộ quá trình giáo
dục của các trƣờng phổ thông nói chung, của trƣờng tiểu học nói riêng.[3]
Theo tôi hoạt động ngoài giáo dục giờ lên lớp là những hoạt động đƣợc
tổ chức ngoài giờ lên lớp truyền thống, giúp ứng dụng các kiến thức đã học
trên lớp vào thực tiễn để góp phần hoàn thiện nhân cách cho học sinh.
1.3.2. Đặc điểm hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
Hoạt động ngoài giáo dục giờ lên lớp có những đặc điểm sau:
- Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp phù hợp với đặc điểm lứa tuổi HS
tiểu học
- Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp mang tính linh hoạt, mềm dẻo,
hơn hoạt động dạy học.
- Nội dung hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp mang tính tích hợp, tổng
hợp kiến thức của nhiều môn học, nhiều lĩnh vực học tập và giáo dục sống
một cách dễ dàng, thuận lợi hơn.
- Các hình thức đa dạng của hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp giúp
Hình thức tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp:
- Hoạt động thƣ viện
- Trò chơi tập thể, trò chơi dân gian (bịt mắt bắt dê, kéo co, rồng rắn lên
mây, nhảy dây, ô ăn quan, mèo đuổi chuột, chim bay cò bay, ném còn, …)
- Hát các bài hát thiếu nhi, hát dân ca, múa tập thể, múa dân gian (múa
nón, múa quạt, nhảy sạp, xòe Thái,…), đọc thơ, kể chuyện, diễn kịch. Vẽ
tranh, triển lãm tranhLàm báo tƣờngThể dục thể thao (thể dục nhịp điệu, đá
cầu, cầu lông, bóng bàn, bóng đá, khiêu vũ thể thao, nhảy Hip hop,..)Tổ chức
các ngày Hội (Ngày hội môi trƣờng, Hội vui học tập, Hội hóa trang, vui
17