BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ
NGUYỄN NGỌC ĐOAN TRANG
NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH HÚT THUỐC LÁ
Ở NAM GIỚI TỪ 18 TUỔI TRỞ LÊN
TẠI THỊ XÃ BÌNH MINH, TỈNH VĨNH LONG
NĂM 2015
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
BÁC SĨ Y HỌC DỰ PHÒNG
CẦN THƠ - 2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ
NGUYỄN NGỌC ĐOAN TRANG
NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH HÚT THUỐC LÁ
Ở NAM GIỚI TỪ 18 TUỔI TRỞ LÊN
TẠI THỊ XÃ BÌNH MINH, TỈNH VĨNH LONG
NĂM 2015.
Đặc biệt tôi xin chân thành cám ơn Ths Bs Huỳnh Ngọc Thanh đã tận tình
hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn này.
Cuối cùng, tôi xin cám ơn gia đình và bạn bè đã động viên, giúp đỡ tôi trong
thời gian tôi thực hiện luận văn.
Người thực hiện đề tài
Nguyễn Ngọc Đoan Trang
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BPTNMT:
Bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính
CNVC:
Công nhân viên chức
ĐTNC:
Đối tượng nghiên cứu
GATS:
Điều tra toàn cầu về hút thuốc lá ở người
trưởng thành tại Việt Nam
HTL:
4.3 Các yếu tố liên quan đến hành vi hút thuốc lá................................................47
KẾT LUẬN.............................................................................................................53
KIẾN NGHỊ............................................................................................................55
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC 1- PHIẾU NGHIÊN CỨU
PHỤ LỤC 2 - DANH SÁCH ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo tuổi...........................................................28
Biểu đồ 3.2 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo nghề nghiệp.............................................28
Biểu đồ 3.3 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo trình độ học vấn.......................................29
Biểu đồ 3.4 Nguyên nhân bắt đầu hút thuốc lá của ĐTNC..................................................30
Biểu đồ 3.5 Sự liên quan giữa trình độ học vấn và số điếu hút trong ngày.........................35
Biểu đồ 3.6 Địa điểm ĐTNC được bạn bè mời hút thuốc lá................................................36
Biểu đồ 3.7 Gia đình ĐTNC và hành vi HTL......................................................................37
Biểu đồ 3.8 ĐTNC biết kiến thức về thuốc lá......................................................................38
Biểu đồ 3.9 ĐTNC biết kiến thức về nghiện thuốc lá..........................................................38
Biểu đồ 3.10 Nguồn thông tin tiếp cận tác hại của HTL......................................................39
Biểu đồ 3.11 Ý định bỏ thuốc lá của ĐTNC........................................................................40
Biểu đồ 3.12 Khuyên người khác không HTL.....................................................................40
Biểu đồ 3.13 Ủng hộ chính sách cấm HTL..........................................................................41
1
2
người Việt Nam tuổi từ 15 trở lên (47,4% nam và 1,4% nữ) đang HTL. Ước tính
khoảng 15,3 triệu người (trong đó 14,8 triệu là nam và 477.000 là nữ).
Thị xã Bình Minh là một thị xã mới được thành lập trên cơ sở huyện Bình
Minh cũ, là cầu nối giữa 2 trung tâm kinh tế lớn là TP. Hồ Chí Minh và TP. Cần
Thơ. Tuy nhiên, tại thị xã Bình Minh có rất ít công trình nghiên cứu về tình hút
thuốc lá ở người dân, Xuất phát từ thực tế trên chúng tôi tiến hành đề tài Nghiên
cứu tình hình hút thuốc lá ở nam giới từ 18 tuổi trở lên tại thị xã Bình Minh,
tỉnh Vĩnh Long năm 2015, nhằm các mục tiêu sau:
1. Xác định tỉ lệ hút thuốc lá ở nam giới từ 18 tuổi trở lên tại thị xã Bình Minh,
tỉnh Vĩnh Long năm 2015.
2. Xác định một số yếu tố liên quan đến hành vi hút thuốc lá ở nam giới từ 18
tuổi trở lên tại thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long.
3
Chương 1- TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Khái quát chung
1.1.1 Sơ lược về lịch sử cây thuốc lá và ngành sản xuất thuốc lá
Cây thuốc lá Tên khoa học Nicotiana tabacum Lin.Thuộc họ Cà Solanaceae.
Là loại cây thảo, sống hàng năm, phần gốc thân hóa gỗ ít nhiều. Thân mọc đứng, có
nhiều lông, phần cành ở ngọn, các lá ở phía trên bé hơn, hình lưỡi mác. Phiến lá to,
có thể dài 60-75cm, rộng 30-50cm, không cuống, một mẩu lá phía dưới ôm vào
thân. Hoa nhiều, tập hợp thành chùy ở ngọn. Ðài có lông, tràng màu trắng, hồng
hoặc tím nhạt. Quả nang có 2 ô, có đài bọc ở ngoài, hạt bé, nhiều, màu đen. Cây
thuốc lá vốn nguồn gốc ở châu Mỹ, nhưng được đưa về trồng ở nhiều nước trên thế
Trong một điếu thuốc có chứa khoảng 1-3mg Nicotine. Người HTL trung bình đưa
vào cơ thể 1 đến 2 mg Nicotine mỗi điếu thuốc hút. Nicotine được hấp thụ qua da,
miệng và niêm mạc mũi hoặc hít vào phổi. HTL đưa Nicotine một cách nhanh
chóng đến não, trong vòng 10 giây sau khi hít vào. Tác dụng gây nghiện của
Nicotine chủ yếu là trên hệ thần kinh trung ương với sự có mặt của các thụ thể
Nicotine trên các cấu trúc não. Chất Alcaloide này tác động lên các thụ thể ở hệ
thống thần kinh với chất dẫn truyền thần kinh dopamine. Tuy nhiên trong cơ thể
Nicotine sẽ nhanh chóng được chuyển hóa thành cotinine và thải trừ ra nước tiểu.
- Monoxit carbon (khí CO): Khí carbon rất độc, không mùi, không màu. Trong
một điếu thuốc có chứa khoảng 20ml CO, đây là một chất ngăn cản sự vận chuyển
Oxy trong máu. Với người hút trung bình 1 bao thuốc mỗi ngày thì hàm lượng
hemoglobine khử có thể tới 7-8%. Sự tăng hemoglobine khử làm chuyển dịch
đường cong phân tách oxy-hemoglobin dẫn đến giảm lượng oxy chuyển đến tổ chức
gây thiếu máu và góp phần hình thành các mảng xơ vữa động mạch . Phổi của
người hút thuốc lá tích tụ nhiều khí carbon hơn phổi của người không hút thuốc thở
trong không khí. Vì vậy hàm lượng khí carbon trong máu của người hút thuốc rất
cao làm tăng rủi ro bị những bệnh về tim mạch.
- Các phân tử nhỏ trong khói thuốc lá: Khói thuốc lá chứa nhiều chất kích thích
dạng khí hoặc dạng hạt nhỏ. Các chất kích thích này gây nên các thay đổi cấu trúc
của niêm mạc phế quản dẫn đến tăng sinh các tuyến phế quản, các tế bào tiết nhầy
5
và làm mất các tế bào có lông chuyển. Các thay đổi này làm tăng tiết nhày và giảm
hiệu quả thanh lọc của thảm nhầy-lông chuyển. Phần lớn các thay đổi này có thể hồi
phục được khi ngừng HTL.
Có 3 kiểu khói thuốc: dòng khói chính, dòng khói phụ và khói thuốc môi
trường.
+ Dòng khói chính (MS): là dòng khói do người HTL hít vào. Đó là luồng khí đi qua
ca tử vong trên toàn cầu do thuốc lá là nam giới, trong khi nữ giới là 7%. HTL là
nguyên nhân gây tử vong thứ hai trên toàn cầu (sau tăng huyết áp) và hiện nay cứ
10 người trưởng thành có 1 người chết vì thuốc lá. Ước tính cho đến năm 2030,
trung bình số người tử vong vì HTL có thể sẽ lên đến con số 8 triệu người mỗi năm.
Thuốc lá gây ra 100 triệu trường hợp tử vong trong thế kỷ 20, nếu xu hướng này
tiếp tục, nó có thể gây ra một tỷ người chết trong thế kỷ 21. Nếu không được kiểm
soát thì tử vong liên quan đến thuốc lá sẽ tăng lên hơn 8 triệu mỗi năm vào năm
2030, hơn 80% các ca tử vong sẽ ở các nước có thu nhập thấp và trung bình, nơi
gánh nặng bệnh tật và tử vong do HTL nhiều nhất.
Trong năm 2014, người hút thuốc lá tiêu thụ 5 nghìn 8 trăm tỷ điếu thuốc lá
trên toàn cầu. Trong khi nhu cầu về sử dụng thuốc lá ở các nước phát triển đang
giảm thì sản xuất và tiêu thụ thuốc lá ngày càng trở nên tập trung ở các nước đang
phát triển.
Nghiên cứu cho thấy rằng rất ít người hiểu được những rủi ro sức khỏe của
việc sử dụng thuốc lá. Ví dụ, một cuộc khảo sát năm 2009 tại Trung Quốc cho thấy
chỉ có 38% người hút thuốc biết rằng hút thuốc gây ra bệnh mạch vành và chỉ có
27% biết rằng sử dụng thuốc lá có thể gây ra đột quỵ. Trong số những người HTL
nhận thức được sự nguy hiểm của thuốc lá đối với sức khỏe hầu hết đều muốn bỏ
thuốc lá.
Theo nghiên cứu cho thấy, sử dụng thuốc lá ảnh hưởng rất nhiều đến kinh tế.
Chi phí sử dụng thuốc lá trên thế giới khoảng 500 tỷ USD mỗi năm. Chi phí chăm
sóc sức khỏe của các bệnh liên quan đến thuốc lá là rất cao. Tại Hoa Kỳ, chi phí
7
chăm sóc sức khỏe cho các bệnh có liên quan đến thuốc lá là 96 tỷ USD. Ở Đức, chi
phí này khoảng 7 tỷ USD và tại Úc là 1 tỷ USD.
1.2.2 Tại Việt Nam
Theo kết quả điều tra của GATS năm 2010, tại Việt Nam có 47,4% nam,
có 50,8% học sinh biết nghiện thuốc là rất khó cai nghiện.
Theo nghiên cứu của Nguyễn Quang Minh tại thị xã Bình Minh tỉnh Vĩnh
Long năm 2013 cho thấy tình hình HTL của nam thanh niên từ 15-24 tuổi chiếm
24,2%. Trong đó, tỉ lệ HTL hằng ngày chiếm 17,6% với số điếu thuốc từ 5-10 điếu
chiếm 63,6% và trên 15 điếu chiếm 19,3%. Nơi HTL nhiều nhất là ở nhà/ngoài sân
chiếm 56,5%, nơi hút ít nhất là nhà bếp/nhà vệ sinh trong nhà chiếm 7,8%.
Theo kết quả nghiên cứu của Lê Khắc Bảo, Nguyễn Trung Thành về thực
trạng hút thuốc lá của nhân viên y tế tại bệnh viện Nguyễn Tri Phương, thành phố
Hồ Chí Minh cho thấy Khoảng 40% biết rõ thành phần và tác hại của thuốc lá,
10% biết đến các biện pháp hỗ trợ cai thuốc lá do WHO khuyến cáo. 32,6% nam
1,3% nữ hút thuốc lá, trong đó 61,5% hút ngay trong môi trường bệnh viện. 31,6%
luôn khuyên cai thuốc lá tuy nhiên chỉ 16,3% bác sỹ luôn tư vấn các biện pháp hỗ
trợ cai thuốc lá cho bệnh nhân.
Theo kết quả nghiên cứu của Đàm Thị Tuyết, Mai Anh Tuấn, Hoàng Minh
Nam, Trần Thị Hằng và Phạm Thị Ngọc về tình hình hút thuốc lá của nam sinh viên
y khoa trường Đại Học Y – Dược Thái Nguyên, năm 2011 cho thây tỷ lệ hút thuốc
lá chung của nam sinh viên y khoa là (43,63% ). Lý do hút thuốc lá của sinh viên
chuyên tu chủ yếu là do buồn, căng thẳng (31,88%), còn ở sinh viên chính quy lại
chủ yếu là do giống bạn bè (28,43%).
1.3 Các yếu tố liên quan đến hút thuốc lá
1.3.1 Tác hại của việc hút thuốc lá
1.3.1.1 Các bệnh về hô hấp
Bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính: Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính đặc trưng bởi
sự rối loạn thông khí tắc nghẽn không hồi phục hoàn toàn, là nguyên nhân tử vong
đứng hàng thứ 4 trên toàn thế giới. Thuốc lá là nguyên nhân quan trọng nhất gây ra
BPTNMT, có 15% những người HTL sẽ có triệu chứng lâm sàng BPTNMT và 8090% người mắc BPTNMT là nghiện thuốc lá.. Người HTL có tỉ lệ tử vong do bệnh
phổi tắc nghẽn mạn tính cao gấp 10 lần so với người không HTL.
là do xơ vữa động mạch. Lớp nội mạch có thể bị phá huỷ do một số tác nhân sau:
10
cao huyết áp, hoá chất độc (như các chất tìm thấy trong khói thuốc) và mỡ máu cao.
Những hoá chất như hydrocarbon thơm đa vòng là chất gây ung thư có trong thuốc
lá cũng có tác dụng gây hình thành mảng xơ vữa. HTL là nguy cơ cao gây xơ vữa
động mạch, tăng huyết áp và tăng cholesterol máu. Khi phối hợp với các yếu tố
nguy cơ này, HTL tạo ra những ảnh hưởng lớn hơn nhiều so với cộng 2 yếu tố nguy
cơ riêng rẽ lại. Hậu quả của bệnh mạch vành gây ra là đau thắt ngực, nhồi máu cơ
tim, rối loạn nhịp tim và đột tử.
Phình động mạch chủ: Những người hút thuốc có nguy cơ cao phát triển các
mảng xơ vữa động mạch ở động mạch chủ, động mạch chủ mang máu giàu oxy từ
tim đi tới các bộ phận của cơ thể. Nếu động mạch chủ bị yếu đi do những mảng xơ
vữa, tạo thành chỗ phình, và những thành mạch yếu và động mạch chủ có thể bị vỡ.
Người hút thuốc có nguy cơ bị phình mạch cao hơn 8 lần so với người không hút
thuốc.
Bệnh cơ tim: Những người HTL có nguy cơ bị bệnh cơ tim cao hơn so với
người không HTL. Khói thuốc gây bệnh bằng cách phá huỷ các động mạch nhỏ,
hoặc có lẽ CO trong khói thuốc làm tổn thương trực tiếp cơ tim. Có thể HTL còn
làm tăng tính nhạy cảm với nhiễm virus dẫn đến bệnh viêm cơ tim.
Bệnh mạch máu ngoại vi: Những người đang HTL có nguy cơ bị bệnh mạch
máu ngoại vi cao gấp 16 lần so với người chưa hút bao giờ. ở những người đã cai
thuốc thì nguy cơ này cao gấp 7 lần so nhóm chưa hút bao giờ. Khoảng 76% bệnh
nhân bị mạch máu ngoại vi là do HTL . Bệnh máu ngoại vi thường gây đau, hạn chế
vận động và có thể đe doạ tính mạng. Những bệnh nhân tiếp tục HTL khi đang điều
trị bệnh này thì hiệu quả điều trị rất kém.
1.3.1.3 Bệnh ung thư
Ung thư phổi: Cách đây gần 50 năm Doll và Hill đã chỉ ra rằng HTL gây ung
thấp và làm tăng nồng độ horrmon kích thích nang. HTL làm giảm số lượng tinh
dịch, làm giảm khả năng sản xuất tinh trùng, giảm số lượng tinh trùng, giảm chất
lượng của tinh trùng, giảm khả năng di chuyển của tinh trùng gây vô sinh. Bên cạnh
đó, HTL còn làm thay đổi hình dạng của tinh trùng. Điều này có thể liên quan đến tỉ
lệ cao bị sảy thai, dị tật bẩm sinh. Những người HTL có nguy cơ bị liệt dương cao
gấp 2 lần, do gây xơ vữa động mạch ở dương vật làm giảm tưới máu hoặc do co
12
mạch (làm giảm dòng chảy do động mạch bị co hẹp lại), chỉ cần hút 2 điếu thuốc có
thể gây ra co thắt động mạch dương vật cấp.
Ở nữ giới, hút thuốc có thể gây ảnh hưởng hoặc thậm chí huỷ diệt noãn bào
do vậy dẫn tới làm giảm khả năng sinh sản, bất thường về hormone. Hút thuốc thay
đổi mật độ của một số hormone. Vì vậy sự rụng trứng có thể không xảy ra bình
thường đối với người hút thuốc. Một số nghiên cứu đã phát hiện rối loạn trong chức
năng vòi trứng, thay đổi hoạt động bình thường của trứng qua vòi trứng. Ở một số
trường hợp, sự thay đổi mức hormone có thể làm tăng quá trình phôi thai vào trong
tử cung, nếu phôi sớm vào tử cung có thể dẫn tới hỏng vì chưa bám chặt và dễ dẫn
tới sẩy thai tự phát với tỷ lệ cao hơn từ 1,5-3,2 lần ở người không hút thuốc. Hút
thuốc có xu hướng dẫn tới mãn kinh sớm do hút thuốc giảm mức estrogen trong cơ
thể người phụ nữ. Đối với phụ nữ hút thuốc thường có xu hướng bắt đầu vào giai
đoạn mãn kinh sớm hơn 2-3 năm so với người không hút thuốc, nguy cơ sớm của
các bệnh tim và chứng loãng xương.
1.3.1.5 Ảnh hưởng đến trẻ em
Trẻ em HTL thụ động có nguy cơ lớn bị nhiễm trùng đường hô hấp dưới, bao
gồm viêm phế quản và viêm phổi. Các chuyên gia ước tính rằng mỗi năm khoảng
150.000-300.000 trẻ em dưới 18 tháng tuổi bị viêm phế quản hoặc viêm phổi có liên
quan đến khói thuốc lá. Những trẻ dưới 1 tuổi là con của những người HTL bị viêm
phế quản hoặc viêm phổi cao gấp đôi những người không HTL. Trên toàn thế giới
Nghiện thuốc lá được xem là một tính cách xã hội phức tạp, là sự kết hợp giữa các
thói quen, suy nghĩ, tình cảm, các hoạt động và công việc hàng ngày. Có nhiều
người hút thuốc lá vì thói quen, và thói quen này dường như gắn liền với các công
việc hàng ngày ở nhà cũng như ở nơi làm việc. Có người cho rằng hút thuốc lá giúp
kích thích khả năng sáng tạo, có người lại hút thuốc lá để giết thời gian, để thư giãn,
để tay chân đỡ thừa thải… Thậm chí có thời gian, trên các phương tiện truyền thông
đại chúng, hình ảnh của thuốc lá được xem như một biểu tượng của sự sành điệu, tự
do và hiện đại…Vì vậy, thật khó mà cắt đứt một thói quen hay một nếp suy nghĩ lâu
đời.
Không có phương pháp nào được gọi là “tuyệt vời” để cai thuốc lá. Điều
kiện kiên quyết để cai thuốc lá thành công chính là quyết tâm cai thuốc lá của bản
thân người hút thuốc lá. Để giảm nhẹ khó chịu khi cai thuốc lá, khoa học ngày nay
14
đã tìm ra các phương pháp hỗ trợ có hiệu quả như sử dụng nicotine thay thế
bupropion, varenicilline giúp giảm nhẹ các triệu chứng khó chịu của hội chứng cai
thuốc lá. Tuy nhiên vì là hỗ trợ nên các phương pháp này không thể thay thế cho
quyết tâm của người cai thuốc lá được.
1.3.3 Phòng chống hút thuốc lá
1.3.3.1 Trên thế giới
Công ước khung của WHO về kiểm soát thuốc lá có hiệu lực vào tháng 2
năm 2005 là một trong những điều ước quốc tế áp dụng rộng rãi nhất trong lịch sử
của Liên Hợp Quốc với 180 nước tham gia gồm 90% dân số thế giới. Công ước
khung của WHO là công cụ kiểm soát thuốc lá quan trọng nhất và là một mốc quan
trọng trong việc thúc đẩy sức khỏe cộng đồng. [13]
Năm 2008, WHO đã mở rộng quy mô thực hiện các quy định của Công ước
khung của WHO: MPOWER. Mỗi biện pháp MPOWER tương ứng với ít nhất 1
điều khoản của Công ước khung của WHO về kiểm soát thuốc lá. Gồm 6 biện pháp:
phòng, chống tác hại của thuốc lá.
- Bảo đảm quyền của mọi người được sống, làm việc trong môi trường không có
khói thuốc lá và được thông tin đầy đủ về tác hại của thuốc lá.
Bộ luật cũng đề ra các địa điểm cấm hút thuốc lá:
- Địa điểm cấm hút thuốc lá hoàn toàn trong nhà và trong phạm vi khuôn viên bao
gồm: Cơ sở y tế, cơ sở giáo dục, cơ sở chăm sóc, nuôi dưỡng, vui chơi, giải trí dành
riêng cho trẻ em, cơ sở hoặc khu vực có nguy cơ cháy, nổ cao.
- Địa điểm cấm hút thuốc lá hoàn toàn trong nhà bao gồm: Nơi làm việc, trường cao
đẳng, đại học, học viện, địa điểm công cộng
- Phương tiện giao thông công cộng bị cấm hút thuốc lá hoàn toàn bao gồm ô tô, tàu
bay, tàu điện.
- Địa điểm cấm hút thuốc lá trong nhà nhưng được phép có nơi dành riêng cho
người hút thuốc lá: Khu vực cách ly của sân bay, quán bar, karaoke, vũ trường,
khách sạn và cơ sở lưu trú du lịch, phương tiện giao thông công cộng là tàu thủy,
tàu hỏa.
- Nơi dành riêng cho người hút thuốc lá phải bảo đảm các điều kiện sau đây: có
phòng và hệ thống thông khí tách biệt với khu vực không hút thuốc lá; có dụng cụ
16
chứa các mẩu, tàn thuốc lá; có biển báo tại các vị trí phù hợp, dễ quan sát; có thiết
bị phòng cháy, chữa cháy.
Xử lý vi phạm pháp luật về phòng, chống tác hại của thuốc lá:
- Cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật về phòng, chống tác hại
của thuốc lá thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi
phạm hành chính, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật;
cá nhân vi phạm có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
- Việc xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng, chống tác hại của thuốc lá
được thực hiện theo quy định của pháp luật xử lý vi phạm hành chính.