Nghiên cứu thành phần loài, phân bố, biến động của tảo độc và mối quan hệ giữa tảo độc hại và các yếu tố môi trường tại Cát Bà và Đồ Sơn, Hải Phòng - Pdf 19

Viện khoa học và công nghệ việt nam
Viện tài nguyên và môi trờng biển
=========000========= Đề tài cấp nhà nớc kc-09-19

Điều tra, nghiên cứu tảo độc, tảo gây hại ở một số vùng
nuôi trồng thuỷ sản tập trung ven biển, đề xuất giải pháp
phòng ngừa, giảm thiểu những tác hại do chúng gây ra

Chủ nhiệm đề tài: TS. Chu Văn Thuộc
Báo cáo chuyên đề
Nghiên cứu thành phần loài, phân bố, biến động
của tảo độc và mối quan hệ giữa tảo độc hại và
các yếu tố môi trờng tại cát bà và đồ sơn,
hải phòng

Ngời thực hiện:
TS. Chu Văn Thuộc,
ThS. Nguyễn Thị Minh Huyền
Phòng Sinh vật phù du và Vi sinh vật Biển,
Viện Tài nguyên và Môi trờng Biển
Tel. (031) 565 495 Fax. (031) 761 521
e-mail: [email protected]

2) Một số loài tảo nh Gymnodinium breve (=Karenia brevis) gây chết cá do
ảnh hởng trực tiếp của độc tố hoặc Pfiesteria gây chết cá hoặc mất trí nhớ tạm thời ở
ngời;
3) Tảo lam (vi khuẩn lam) Microcystis có thể gây tổn thơng hệ tiêu hoá, gan ở
ngời hoặc động vật hoặc gây tổn thơng các vùng da khi tiếp xúc trực tiếp với tảo;
4) Một số loài tảo gây nên các điều kiện thiếu ôxy khi bùng phát mật độ, từ đó
gây chết các loài cá th
ơng phẩm (chẳng hạn tảo Chaetoceros với nhiều lông gai có
thể phá huỷ hoặc làm tắc mang của nhiều cá kinh tế hoặc tảo Mesodium gây nên hiện
tợng thiếu ôxy trong máu, từ đó gây chết cá.
Tất cả các nhóm tảo mang một trong những các đặc tính gây hại nêu trên đợc
gọi là tảo độc hại.
Để bảo vệ các loài sinh vật nói chung, các loài hải sản nói riêng cũng nh đảm
bảo an toàn vệ sinh thực phẩm cho con ngời tiêu thụ, tảo độc hại hiện đang đợc
nhiều nớc trên thế giới quan tâm nghiên cứu và đã đợc đa thành các chơng trình
nghiên cứu ở quy mô toàn cầu và khu vực. Cho đến nay, nguời ta đã thu đợc nhiều
thành tựu đáng kể nhất là việc đa ra đợc các giải pháp quản lý đối tợng này tại
một số khu vực nhất định. ở Việt Nam, tảo độc hại đợc bắt đầu nghiên cứu trong
khoảng 10 năm trở lại đây, trong đó đáng kể là Dự án hợp tác quốc tế "Nghiên cứu cơ
Báo cáo chuyên đề - Đề tài KC-09-19: Điều tra, nghiên cứu tảo độc, tảo gây hại ở một số vùng nuôi trồng thuỷ
sản tập trung ven biển, đề xuất giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu những tác hại do chúng gây ra Viện Tài nguyên và Môi trờng Biển, 246 Đà Nẵng, Hải Phòng
2
bản về các loài vi tảo biển độc hại để bảo vệ nguồn lợi sinh vật biển" do Đan Mạch
tài trợ đợc thực hiện từ năm 1998 đến nay. Nội dung chủ yếu của dự án là tập trung
vào đầu t năng lực nghiên cứu tảo độc hại (đào tạo nhân lực, nâng cấp phòng thí
nghiệm cho các cơ quan tham gia dự án), đồng thời dự án cũng tiến hành nghiên cứu
tại một số khu vực ven biển Việt Nam nhằm thống kê, phát hiện các loài tảo độc hại ở

đa dạng các đối tợng nuôi, tăng sản l
ợng và giá trị sản lợng trên 1 đơn vị diện tích
nuôi trồng. Các hình thức nuôi chính và năng suất tơng ứng của các đối tợng nuôi
nh sau:
Báo cáo chuyên đề - Đề tài KC-09-19: Điều tra, nghiên cứu tảo độc, tảo gây hại ở một số vùng nuôi trồng thuỷ
sản tập trung ven biển, đề xuất giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu những tác hại do chúng gây ra Viện Tài nguyên và Môi trờng Biển, 246 Đà Nẵng, Hải Phòng
3
- Hình thức nuôi bán thâm canh:
+ Tôm sú từ 500 - 550 kg/ha.
+ Cua biển từ 800 - 1000 kg/ha.
+ Rong câu 3 - 4 tấn /ha.
- Hình thức nuôi quảng canh + quảng canh cải tiến đạt 300 - 500 kg/ha (tôm sú
+ tôm rảo đạt trên 150 kg/ha)
- Hình thức nuôi 1vụ tôm sú + 1 vụ cua năng suất tôm + cua từ 0,8 -1,2
tấn/ha/năm hoặc năng suất tôm sú + tôm rảo từ 0,7 - 0,9 tấn/ha/năm.
- Riêng tôm sú các diện tích nuôi thâm canh đã đạt năng suất bình quân 2-4
tấn/ha.
Trong quá trình nghiên cứu khảo sát về tảo độc hại ở vùng nuôi trồng thuỷ sản
Đồ Sơn, chúng tôi đã lựa chọn một số địa điểm đại diện cho các hình thức nuôi trồng
thuỷ sản cụ thể nh sau:
+ Đầm nuôi tôm thâm canh thuộc xã Tân Thành (huyện Kiến Thuỵ). Đây là loại
đầm chuyên nuôi tôm Sú phục vụ cho xuất khẩu nên đợc đầu t lớn, có trang bị các
hệ thống cánh quạt nớc và hệ thống ống để sục khí khi cần thiết, bờ đầm đợc lót
bằng ni-lon, đáy đầm đợc xử lý sau mỗi vụ nuôi bằng cách hút sạch bùn đáy, bón
vôi và phơi khô. Sử dụng thức ăn công nghiệp để nuôi tôm trong đầm thâm canh. Chế
độ nớc luôn luôn đợc khống chế và kiểm soát rất nghiêm ngặt, và chỉ đợc thay
nớc khi cần thiết.
Hình 3.1. Sơ đồ địa điểm thu mẫu tại khu vực nuôi hải sản Đồ Sơn Cát Bà
(Hải Phòng)

Khu vc nghiờn cu
Báo cáo chuyên đề - Đề tài KC-09-19: Điều tra, nghiên cứu tảo độc, tảo gây hại ở một số vùng nuôi trồng thuỷ
sản tập trung ven biển, đề xuất giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu những tác hại do chúng gây ra

Viện Tài nguyên và Môi trờng Biển, 246 Đà Nẵng, Hải Phòng

5
Kết quả thống kê trong 2 năm (2001-2002) tại vùng nuôi cá lồng bè ở Cát Bà cho thấy,
số lợng lồng, bè nuôi trong khu vực tăng dần theo thời gian, cụ thể là trong năm
2000, khu vực Bến Bèo (Cát Bà) mới chỉ có 41 bè nuôi (tổng cộng 300 ô lồng) sản l-
ợng khoảng 45 tấn, nhng chỉ sau 1 năm, số lợng bè nuôi đã tăng lên 105 bè với 844
ô lồng, mỗi ô lồng có thể tích khoảng 25 m
3
(năm 2001). Năng suất nuôi các loại cá
Song, cá Mú, cá Tráp, cá Giò tại khu vực Vịnh Cát Bà khá ổn định với năng suất
khoảng 400 kg/lồng/năm.
Tại khu vực nuôi cá lồng bè Bến Bèo, Cát Bà chúng tôi đã tiến hành khảo sát, thu
mẫu định kỳ tại 2 điểm, đó là:
+ Điểm 1: Trong khu vực nuôi lồng bè
Là nơi tập trung nhiều lồng bè nuôi hải sản nh cá, nhuyễn thể hai mảnh vỏ (vẹm
xanh, tu hài), cua, ghẹ v.v. Tại đây, hàng ngày ngời ta cung cấp các thức ăn tơi sống
(cá tạp, hoặc một số thực phẩm d thừa ) cho các loài hải sản trong lồng nuôi. Đặc
trng của điểm khảo sát này nớc kém lu thông do bị ngăn cản bởi các lồng nuôi và
thờng đợc đặt gần bờ.
+ Điểm 2: Ngoài khu vực nuôi lồng bè

nớc triều thấp khi bề mặt bãi đã lộ ra (không bị ngập nớc triều), dùng thìa hớt lấy
một lớp mỏng trầm tích bề mặt, sau đó cho vào trong lọ mẫu và bổ sung thêm nớc
biển. Mẫu không cố định bằng hoá chất mà đợc bảo quản trong điều kiện mát và
chuyển về phòng thí nghiệm.
Phơng pháp xử lý và phân tích mẫu trong phòng thí nghiệm.
Mẫu định tính vi tảo phù du thu ở ngoài thực địa, mang về phòng thí nghiệm, để
lắng. Sau đó dùng ống hút nhỏ hút lấy một lợng mẫu cho lên lam (có thể nhuộm mẫu
bằng dung dịch Calco Fluor White MR2), quan sát và định loại các loài dới kính hiển
vi tơng phản huỳnh quang OLYMPUS BX-51, độ phóng đại 100 - 1000 lần có kèm
theo thiết bị chụp ảnh kỹ thuật số chuyên dụng OLYMPUS DP-12.
Mẫu định lợng tảo mang về, để lắng trong tối khoảng 24 - 48 giờ. Dùng xi
phông nhỏ rút dần nớc trong các lọ mẫu cho đến thể tích mẫu còn lại khoảng 10 - 20
mL. Khi phân tích, lắc đều lọ mẫu (đã rút nớc), dùng pi-pét hút lấy 1mL dung dịch
mẫu cho vào buồng đếm Sedgewick - Rafter (thể tích 1mL), để lắng khoảng 15 phút,
đếm số lợng tế bào của từng loài dới kính hiển vi huỳnh quang đảo ngợc tơng
phản huỳng quang LEICA, độ phóng đại 40 - 400 lần.
Đối với mẫu tảo sống đáy: Đặt vài tấm la-men lên trên bề mặt nớc trong lọ mẫu
trầm tích, sau đó để qua đêm và quan sát tảo bám trên các tấm la-men dới kính hiển
vi vào ngày hôm sau.
Sử dụng phơng pháp hình thái so sánh để định loại các loài tảo độc hại. Trong
quá trình định loại tảo độc hại chúng tôi đã sử dụng các tài liệu mô tả về hình thái các
loài thực vật phù du nói chung và tảo độc hại nói riêng chủ yếu nh sau: Abé (1967),
Balech (1995), Faust (1991), Faust và cs. (1999), Fukuyo (1981), Fukuyo và cs.
(1990), Hallegraeff và cs. (2004), Larsen và cs. (1992, 2004), Taylor (1976), Tomas
(1997), Yoshida (2000), v.v.
Phơng pháp thu và phân tích mẫu môi trờng nớc
Đồng thời với quá trình thu mẫu tảo độc hại, tiến hành đo đạc và thu các mẫu
n
ớc để phân tích các chỉ tiêu thuỷ lý và thuỷ hoá, trong đó:
- Nhiệt độ nớc, nồng độ muối, độ pH, độ trong, ôxy hoà tan (DO) đợc đo ngay

Toàn bộ các số liệu, kết quả phân tích đợc cập nhật, lu trữ, xử lý, tính toán vẽ
đồ thị bằng phần mềm Microft Excel.

III. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
3.1. Thành phần loài tảo độc hại ở vùng nuôi trồng thuỷ sản tập trung Đồ Sơn,
Cát Bà
3.1.1. Thành phần loài tảo độc hại ở vùng nghiên cứu
Kết quả phân tích các mẫu vật đã đợc thu thập trong thời gian từ tháng 5/2004
đến tháng 4/2005 tại các địa điểm khảo sát thuộc vùng nuôi trồng thuỷ sản tập trung
Đồ Sơn, Cát Bà (Hải Phòng) cho thấy, bớc đầu đã xác định đợc 50 loài và nhóm loài
tảo độc hại thuộc 22 chi nằm trong 4 lớp tảo. Trong đó, đa dạng nhất là lớp tảo Giáp
(Dinophyceae) có 39 loài, 16 chi (chiếm 78% tổng số loài đã phát hiện), lớp tảo Silic
(Bacillariophyceae) có 6 loài và nhóm loài, 4 chi (12%), lớp tảo Lam (vi khuẩn lam)
Cyanophyceae có 3 loài, 2 chi (6%) và lớp tảo Kim (Dictyochophyceae) có 2 loài, 1
chi (4%). Trong số 22 chi tảo có chứa các loài tảo độc hại đã đợc phát hiện ở khu vực
Đồ Sơn - Cát Bà, chiếm u thế về số lợng loài đáng kể nhất là chi Alexandrium (gặp
11 loài), tiếp theo là các chi Prorocentrum (6 loài), Dinophysis (5 loài), chi Pseudo-
nitzschia (3 loài), các chi còn lại chỉ gặp từ 1 đến 2 loài (chi tiết xem danh mục bảng
3.1).
Dới đây là một số so sánh với các kết quả nghiên cứu trớc đây về tảo độc hại ở
vùng ven biển Việt Nam. Trong kết quả nghiên cứu của Dự án HABViệt, Larsen và cs.
(2004) đã mô tả 70 loài tảo độc hại dựa trên những quan sát vật mẫu đợc thu thập từ
các thuỷ vực ven bờ nớc ta. Qua đó thấy rằng, số loài tảo độc hại đã đợc phát hiện ở
vùng nuôi trồng thuỷ sản ven biển Đồ Sơn-Cát Bà mới chỉ chiếm 62,8%. Nguyên nhân
của sự sai khác là ở chỗ, dự án HABViệt đợc tiến hành trên quy mô cả nớc nên có
số loài phong phú hơn. Mặt khác do thiếu các chuyên gia định loại sâu về một số
nhóm tảo, hơn nữa trang thiết bị cũng nh thời gian nghiên cứu hạn chế nên số loài
phát hiện đợc trong nghiên cứu này có thể còn bị bỏ sót, cụ thể nh trong khi chúng
tôi mới chỉ phân biệt đợc 3 loài tảo chi Pseudo-nitzschia thì Larsen và cs. (2004) đã
phát hiện đợc 11 loài tảo thuộc chi này. Riêng đối với 2 lớp Raphidophyceae

2 Skeletonema costatum - nt -
3 Chaetoceros spp. - nt -
4 Pseudo-nitzschia sp.1 (= P. pungens) Tảo độc, sống phù du
5 P. pseudodelicatissima (= P. calliantha) - nt
6 P. sp.2 (= P. delicatissima) - nt -

Lớp Tảo Giáp Dinophyceae
7 Prorocentrum emarginatum Tảo độc hại, sống bám đáy
8 P. lima Tảo độc, sống bám đáy
9 P. maculosum - nt -
10 P. micans Tảo gây hại, sống phù du
11 P. cf. mexicanum (= P. rhathymum) - nt -
12 P. minimum Tảo độc, sống phù du
13 Dinophysis miles - nt -
14 D. caudata - nt -
15 D. mitra - nt -
16 D. cf. rotundata - nt -
17 Dinophysis sp. - nt -
18 Noctiluca scintillans Tảo gây hại, sống phù du
19 Ceratium furca - nt -
20 C. fusus - nt -
Báo cáo chuyên đề - Đề tài KC-09-19: Điều tra, nghiên cứu tảo độc, tảo gây hại ở một số vùng nuôi trồng thuỷ
sản tập trung ven biển, đề xuất giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu những tác hại do chúng gây ra

Viện Tài nguyên và Môi trờng Biển, 246 Đà Nẵng, Hải Phòng

9
1 2 3
21 C. trichoceros - nt -
22 Gonyaulax polygramma - nt -

49 T. thiebautii - nt -
50 Microcystis spp - nt -

Về dạng sống, hầu hết các loài tảo độc hại đã phát hiện đợc ở vùng nghiên cứu
đều thuộc nhóm tảo sống phù du (43 loài), tuy nhiên trong thành phần còn gặp cả một
Báo cáo chuyên đề - Đề tài KC-09-19: Điều tra, nghiên cứu tảo độc, tảo gây hại ở một số vùng nuôi trồng thuỷ
sản tập trung ven biển, đề xuất giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu những tác hại do chúng gây ra

Viện Tài nguyên và Môi trờng Biển, 246 Đà Nẵng, Hải Phòng

10
số loài tảo sống bám đáy điển hình (7 loài) thuộc chi Prorocentrum (P. lima, P.
maculosum, P. emarginatum) và các loài Gambierdiscus yasumotoi, Ostreopsis ovata,
Coolia monotis, Amphidinium klebsii. Đây là những loài tảo thờng chủ yếu sống bám
trên rong biển, san hô chết hoặc sống trên đáy cát bùn. Tuy không trực tiếp thu các
mẫu tảo sống trên rạn san hô, nhng trong quá trình vớt mẫu bằng lới ở khu vực nuôi
lồng bè Cát Bà, chúng tôi vẫn thu đợc mẫu của một số loài tảo đáy nh đã thống kê ở
trên. Sở dĩ nh vậy có thể là do địa điểm khảo sát ở đây tơng đối gần các rạn san hô
và các bãi đá có rong biển phân bố. Vì thế khi các đám rong biển bị khuấy động (do
sóng, gió mạnh ) đã làm các loài tảo bật ra khỏi bề mặt vật bám và bị dòng chảy đa
đến các khu vực lân cận.
Số loài và số chi của các lớp tảo có mặt ở các địa điểm nghiên cứu đợc thể hiện
trong Bảng 3.2. Từ đó thấy rằng, có sự tơng đơng về số loài và số chi ở hai khu vực
Đồ Sơn và Cát Bà. Tuy nhiên, nếu xem xét kỹ về thành phần của từng lớp tảo thì cũng
có một số sai khác, cụ thể là trong khi các chi Gambierdiscus, Ostreopsis và Coolia đã
gặp ở khu vực Cát Bà thì lại hoàn toàn vắng mặt ở khu vực Đồ Sơn.
Bảng 3.2. Thành phần cấu trúc của các lớp tảo tại các địa điểm nghiên cứu

Lớp Tảo Silic
Bacillariophyceae

cộng
Đồ Sơn 4 6 12 28 2 3 1 1 19 chi
38 loài
Cát Bà 4 6 14 37 2 3 1 1 21 chi
47 loài

3.1.2. Phân bố số loài tảo độc hại theo không gian và thời gian ở vùng nghiên cứu
3.1.2.1. Phân bố số loài theo không gian
Từ kết quả phân tích cho thấy, số loài tảo độc hại tại các địa điểm khảo sát
không giống nhau (Hình 3.1), trong đó đầm nuôi tôm thâm canh là loại hình thuỷ vực
đợc thay nớc hạn chế. Các đầm nuôi này chỉ thay nớc khi ngời nuôi tôm phát hiện
chất nớc trong đầm nuôi có vấn đề hoặc tôm nuôi trong đầm có những biểu hiện bất
thờng. Đây là điểm thu mẫu có số loài tảo độc thấp nhất (chỉ gặp 18 loài). Tiếp đến là
Đầm nuôi quảng canh là loại đầm nuôi đợc thay nớc thờng xuyên vào các kỳ thuỷ
triều và trạm Đền Bà Đế là nơi không bị hạn chế về sự trao đổi nớc, số loài tảo độc
hại có mặt tại hai điểm này tơng ứng là 32 và 36 loài. Các trạm thu mẫu trong lồng
nuôi và ngoài lồng nuôi Bến Bèo (Cát Bà) có thành phần tảo độc hại đa dạng nhất so
Báo cáo chuyên đề - Đề tài KC-09-19: Điều tra, nghiên cứu tảo độc, tảo gây hại ở một số vùng nuôi trồng thuỷ
sản tập trung ven biển, đề xuất giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu những tác hại do chúng gây ra

Viện Tài nguyên và Môi trờng Biển, 246 Đà Nẵng, Hải Phòng

11
với ba trạm còn lại, với số loài tổng số đã gặp là 47 loài. Từ kết quả trên cho thấy, có
sự chênh lệch rất lớn về số loài tảo độc hại tại khu vực nuôi cá lồng trên biển và các
đầm nuôi trồng hải sản bên trong đê. Một trong những nguyên nhân dẫn đến sự sai
khác này có thể là do việc lu thông, trao đổi nớc hạn chế với môi trờng bên ngoài ít
nhiều đã có ảnh hởng đến sự xuất hiện của các loài tảo độc hại trong các đầm nuôi,
đặc biệt là đầm nuôi tôm thâm canh. Ngoài ra, sự hiện diện của các loài tảo độc hại
còn chi phối bởi sự thay đổi của các yếu tố môi trờng nớc, trong đó yếu tố nồng độ

8 P. cf. rhathymum + + +
9 P. lima +
10 P. maculosum +
11 P. minimum +
12 P. emarginatum + + +
13 Dinophysis miles + + +
14 D. caudata + + + +
15 D. mitra +
16 D. cf. rotundata + + +
17 D. sp. +
18 Polykrikos schwartzii + + +
19 Amphidinium klebsii +
20 Noctiluca scintillans + +
21 Ceratium furca + + + +
22 C. fusus + + +
23 C. trichoceros + +
24 Gonyaulax polygramma +
25 G. spinifera + + +
Báo cáo chuyên đề - Đề tài KC-09-19: Điều tra, nghiên cứu tảo độc, tảo gây hại ở một số vùng nuôi trồng thuỷ
sản tập trung ven biển, đề xuất giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu những tác hại do chúng gây ra

Viện Tài nguyên và Môi trờng Biển, 246 Đà Nẵng, Hải Phòng

12
1 2 3 4 5 6
26 G. verior + + + +
27 Protoceratium reticulatum + + +
28 Protoperidinium crassipes + + +
29 Peridinium quinquecorne + + + +
30 Scrippsiella cf. trochoidea +

10 và 11 loài; số lợng loài trong các tháng còn lại biến động từ 4 đến 7 loài (Hình
3.2).
Báo cáo chuyên đề - Đề tài KC-09-19: Điều tra, nghiên cứu tảo độc, tảo gây hại ở một số vùng nuôi trồng thuỷ
sản tập trung ven biển, đề xuất giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu những tác hại do chúng gây ra

Viện Tài nguyên và Môi trờng Biển, 246 Đà Nẵng, Hải Phòng

13
Tại đầm nuôi quảng canh Đồ Sơn, số loài dao động từ 3 đến 13 loài, trong đó
tháng 9/2004 có số loài thấp nhất, tiếp theo là tháng 10/2004 (6 loài), tháng 6/2004 (7
loài), các tháng 5/2004 và tháng 7/2004 mỗi tháng gặp 9 loài. Các tháng còn lại có số
loài dao động từ 10 đến 12 loài, cao nhất là tháng 2/2005 có 13 loài (Hình 3.3).
Điểm Đền Bà Đế có số loài dao động từ 8 đến 21 loài, trong đó thấp nhất là tháng
11/2004 gặp 8 loài, tiếp theo là tháng 3 và tháng 4/2005 mỗi tháng gặp 9 loài, các
tháng còn lại (trừ tháng 9/2004 có số loài cao nhất là 21 loài) có số loài dao động từ 10
đến 14 loài (Hình 3.4).

0
2
4
6
8
10
12
5/04 6/04 7/04 8/04 9/04 10/04
Thời gian
Số loàiHình 3.2. Phân bố số loài tảo độc hại theo thời gian tại đầm nuôi thâm canh


0
5
10
15
20
25
5/04 6/04 7/04 8/04 9/04 10/04 11/04 12/04 1/05 2/05 3/05 4/05
Thời gian
Số loàiHình 3.4. Phân bố số loài tảo độc hại trong năm tại trạm trạm Đền Bà Đế (Đồ Sơn)

0
5
10
15
20
25
30
5/04 6/04 7/04 8/04 9/04 10/04 11/04 12/04 1/05 2/05 3/05 4/05
Thời gian
Số loàiHình 3.5. Biến động số loài tảo độc hại trong năm tại trạm thu mẫu trong lồng nuôi
Bến Bèo (Cát Bà)
Báo cáo chuyên đề - Đề tài KC-09-19: Điều tra, nghiên cứu tảo độc, tảo gây hại ở một số vùng nuôi trồng thuỷ
sản tập trung ven biển, đề xuất giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu những tác hại do chúng gây ra

3.2. Biến động mật độ tảo độc hại ở vùng nuôi trồng hải sản Đồ Sơn Cát Bà
3.2.1. Biến động của nhóm loài tảo có khả năng sản sinh độc tố
3.2.1.2. Nhóm loài tảo sinh độc tố PSP
Chi Alexandrium
Theo các tài liệu đã công bố về các nhóm loài tảo có khả năng sản sinh độc tố
PSP, bao gồm: các loài tảo chi Alexandrium, Pyrodinium bahamense, Gymnodinium
catenatum [Andersen, 1996], [Hallegraeff và cs., 2004], trong đó đáng kể nhất là chi
Alexandrium. Cho đến nay, tổng cộng có khoảng 30 loài Alexandrium đã đợc phát
hiện trên toàn thế giới, trong đó có 8 loài đã đợc xác định là có khả năng sản sinh độc
tố [Andersen, 1996]. ở vùng ven bờ Việt Nam, ngời ta đã phát hiện đợc 15 loài tảo
thuộc chi này [Larsen và cs., 2004]. Một số công bố gần đây cho thấy, đã phát hiện
một số loài tảo chi Alexandrium có khả năng sản sinh độc tố, cụ thể nh Alexandrium
Báo cáo chuyên đề - Đề tài KC-09-19: Điều tra, nghiên cứu tảo độc, tảo gây hại ở một số vùng nuôi trồng thuỷ
sản tập trung ven biển, đề xuất giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu những tác hại do chúng gây ra

Viện Tài nguyên và Môi trờng Biển, 246 Đà Nẵng, Hải Phòng

16
affine phân bố ở vùng ven bờ Việt Nam [Nguyen Ngoc L., 2004], Alexandrium
minutum phân bố trong ao nuôi tôm Quảng Ninh [Yoshida và cs., 2000]. Trong khuôn
khổ của đề tài nghiên cứu này, chúng tôi đã phát hiện tảo A. minutum phân bố trong
đầm nuôi thâm canh Tân Thành (Kiến Thuỵ), sau đó tiến hành phân lập nuôi thuần
chủng trong phòng thí nghiệm và thử nghiệm phân tích độc tố loài này. Kết quả cho
thấy, chủng tảo A. minutum phân lập đợc ở đầm nuôi thâm canh kể trên có khả năng
sinh độc tố PSP [Lim Po Teen và cs., 2005 - tài liệu cha công bố].
Nh đã trình bày ở phần 3.1 về thành phần loài tảo độc hại ở vùng nuôi trồng hải
sản Đồ Sơn - Cát Bà hiện đã thống kê đợc khoảng 11 loài tảo chi Alexandrium. Kết
quả khảo sát còn cho thấy rằng, có những sai khác về phân bố mật độ chi tảo này tại
các địa điểm nghiên cứu. Chi tiết về biến động mật độ tế bào chi Alexandrium ở khu
vực Đồ Sơn - Cát Bà trong các năm 2004, 2005 đợc thể hiện trên các hình 3.8, 3.9,

Báo cáo chuyên đề - Đề tài KC-09-19: Điều tra, nghiên cứu tảo độc, tảo gây hại ở một số vùng nuôi trồng thuỷ
sản tập trung ven biển, đề xuất giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu những tác hại do chúng gây ra

Viện Tài nguyên và Môi trờng Biển, 246 Đà Nẵng, Hải Phòng

17
0
50
100
150
200
250
300
5/04 6/04 7/04 8/04 9/04 10/04 11/04 12/04 1/05 2/05 3/05 4/05
Thời gian
Mật độ (TB/L)Hình 3.8. Biến động mật độ tảo Alexandrium spp theo thời gian tại đầm nuôi tôm
quảng canh Đồ Sơn

0
50
100
150
200
250
300
350
400


Hình 3.10. Biến động mật độ tảo Alexandrium spp theo thời gian tại trạm
trong lồng nuôi Bến Bèo0
20
40
60
80
100
120
140
160
180
200
5/04 6/04 7/04 8/04 9/04 10/04 11/04 12/04 1/05 2/05 3/05 4/05
Thời gian
Mật độ (TB/L)Hình 3.11. Biến động mật độ tảo Alexandrium spp theo thời gian tại
trạm ngoài lồng nuôi Bến Bèo

Biến động mật độ tảo Alexandrium spp. theo thời gian tại đầm nuôi tôm quảng
canh Đồ Sơn đợc thể hiện trên hình 3.8. Qua đó cho thấy tảo Alexandrium phân bố
với mật độ rất thấp (dới 100 TB/L) tại hầu hết các tháng trong năm, duy nhất vào
tháng 10 chúng có mật độ cao nhất nhng cũng chỉ đạt 240 TB/L.
Tại trạm khảo sát Đền Bà Đế, tảo Alexandrium thờng chỉ dao động dới
200TB/L, chỉ có một lần vào tháng 5/2004 tảo này có mật độ đạt trên 400 TB/L (Hình

Theo Andersen (1996) cho đến nay ở trên thế giới ngời ta đã thống kê đợc
khoảng 10 loài tảo có khả năng sản sinh độc tố gây tiêu chảy (DSP), trong đó các loài
thuộc chi tảo giáp Dinophysis chiếm tới 9 loài. ở vùng ven biển Việt Nam, Larsen và
cs. (2004) đã phát hiện tổng cộng có 5 loài thuộc chi Dinophysis đợc xếp vào nhóm
loài tảo độc hại. Riêng ở vùng ven bờ phía Bắc, Chu Văn Thuộc (2002) đã mô tả 5 loài
tảo độc hại chi Dinophysis hiện diện ở vùng nghiên cứu. Tiếp đó, Nguyễn Văn Nguyên
và cs. (2003) khi nghiên cứu về tảo độc hại tại vùng ngao tập trung các tỉnh Thái Bình,
Nam Định và Thanh Hoá cũng đã thống kê đợc 7 loài tảo Dinophysis. Kết quả khảo
sát của chúng tôi tại vùng nuôi trồng hải sản ven biển Đồ Sơn Cát Bà từ tháng 5/2004
đến 4/2005 cho thấy, đã phát hiện đợc 4 loài tảo thuộc chi này. Nh
vậy, nếu so sánh
với các kết quả trớc đây thì thành phần tảo Dinophysis ở vùng ven biển Đồ Sơn Cát
Bà ít hơn. Nguyên nhân có thể là phạm vi của các nghiên cứu trớc đây rộng hơn, cụ
thể đã điều tra, thu mẫu tới độ sâu 15 m nớc [Nguyễn Văn Nguyên và cs. (2003)]
trong khi đó chúng tôi mới chỉ tiến hành thu mẫu tại các vùng nuôi hải sản ven bờ nên
cha thu đợc mẫu những loài thờng phát triển ở độ mặn khá cao (chẳng hạn nh
Dinophysis hastata). Kết quả khảo sát hàng tháng tại vùng nuôi trồng hải sản Đồ Sơn
Báo cáo chuyên đề - Đề tài KC-09-19: Điều tra, nghiên cứu tảo độc, tảo gây hại ở một số vùng nuôi trồng thuỷ
sản tập trung ven biển, đề xuất giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu những tác hại do chúng gây ra

Viện Tài nguyên và Môi trờng Biển, 246 Đà Nẵng, Hải Phòng

20
Cát Bà đã phản ánh sự biến động khá mạnh về phân bố về lợng loài và mật độ tế
bào tảo Dinophysis theo không gian và thời gian thu mẫu. Trong số 4 loài tảo
Dinophysis hiện diện ở vùng nghiên cứu, trừ D. caudata là loài gặp khá phổ biến, 3
loài còn lại phân bố rất tha thớt, có mật độ thấp và chỉ gặp vào một thời điểm nào đó
trong năm. Nhìn chung, so với tảo Alexandrium thì chi tảo này có phạm vi phân bố hẹp
hơn. Biến động mật độ tế bào tảo D. caudata theo thời gian tại các địa điểm nghiên
cứu đợc thể hiện trên các hình 3.12, 3.13, 3.14 và 3.15 dới đây.

Báo cáo chuyên đề - Đề tài KC-09-19: Điều tra, nghiên cứu tảo độc, tảo gây hại ở một số vùng nuôi trồng thuỷ
sản tập trung ven biển, đề xuất giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu những tác hại do chúng gây ra

Viện Tài nguyên và Môi trờng Biển, 246 Đà Nẵng, Hải Phòng

21
0
50
100
150
200
250
300
350
5/04 6/04 7/04 8/04 9/04 10/04 11/04 12/04 1/05 2/05 3/05 4/05
Thời gian
Mật độ (TB/L)

Hình 3.14. Biến động mật độ tảo Dinophysis caudata theo thời gian tại trạm
trong lồng nuôi Bến Bèo (Cát Bà)
0
50
100
150
200
250
300

TB/L (Hình 3.13).
Tại khu vực nuôi lồng bè Bến Bèo (Cát Bà), biến động mật độ tảo D. caudata
dờng nh theo xu thế ngợc lại so với trạm Đồ Sơn, tức là chúng có mật độ cao hơn
vào các tháng từ tháng 5 đến tháng 8, với mật độ dao động trong khoảng 20 đến 460
TB/L. Các tháng còn lại tảo này có mật độ rất thấp hoặc không gặp.
So sánh với kết quả nghiên cứu năm 1999 thấy rằng, ở khu vực Đồ Sơn tảo
Dinophysis caudata thờng đạt mật độ cao vào các tháng mùa khô và đầu mùa ma,
cụ thể từ tháng 1 đến tháng 5, mật độ cao nhất xuất hiện vào tháng 3 (755 TB/L), các
tháng còn lại có mật độ không đáng kể. Còn ở khuvực Hạ Long, tảo này thờng gặp và
có mật độ khá đồng đều vào các tháng mùa ma (từ tháng 6 đến tháng 8), tuy nhiên
đỉnh cao mật độ lại gặp vào tháng 3, đạt tới 5740 TB/L [Chu Văn Thuộc, 2002]. Trong
khi đó sự phân bố của tảo D. caudata tại vùng nuôi ngao Tiền Hải (Thái Bình), Hoằng
Hoá (Thanh Hoá) cũng có xu thế biến động gần giống với khu vực ven biển Đồ Sơn,
đó là chúng có mật độ cao và khá đồng đều trong các tháng từ tháng 3 đến tháng 6
[Nguyễn Văn Nguyên và cs., 2003]. Tại vùng ven biển Nghệ An Hà Tĩnh, mật độ
cao nhất của loài D. caudata (khoảng 1500 TB/L) mới chỉ đợc phát hiện ở Cửa Sót
vào tháng 8/2002 [Dự án HABViệt- Pha 2].
Từ đó thấy rằng, kết quả nghiên cứu của chúng tôi trong thời gian 2004 - 2005 đã
góp phần khẳng định xu thế biến động mật độ của tảo Dinophysis caudata trong năm
ở khu vực ven biển Đồ Sơn và vùng Cát Bà - Hạ Long. Trong đó, nồng độ muối có thể
là một trong những yếu tố môi trờng nớc ít nhiều đã chi phối sự phân bố của tảo
này. Mặc dù vậy, tuỳ theo từng năm mà đỉnh cao về mật độ tảo D. caudata có thể có
những sai khác. Điểm đáng chú ý là trong thời gian khảo sát, thu mẫu vào các năm
2004, 2005, chúng tôi cha phát hiện thấy những bùng phát về mật độ của loài này ở
vùng nuôi trồng hải sản Đồ Sơn - Cát Bà.

3.2.1.4. Nhóm loài tảo sinh độc tố ASP
Trong số các loài tảo có khả năng sản sinh độc tố gây mất trí nhớ (ASP),
Pseudo-nitzschia đ
ợc xem là chi có nhiều loài sản sinh ra độc tố này. Vì thế nó đã trở

Mật độ (TB/L)

Hình 3.16. Biến động mật độ tảo Pseudo-nitzschia spp theo thời gian
tại đầm nuôi quảng Đồ Sơn 0
2000
4000
6000
8000
10000
12000
14000
16000
18000
6/04 7/04 8/04 9/04 10/04 11/04 12/04 1/05 2/05 3/05 4/05
Thời gian
Mật độ (TB/L)

Hình 3.17. Biến động mật độ tảo Pseudo-nitzschia spp. theo thời gian
tại trạm Đền Bà Đế, Đồ Sơn Báo cáo chuyên đề - Đề tài KC-09-19: Điều tra, nghiên cứu tảo độc, tảo gây hại ở một số vùng nuôi trồng thuỷ
sản tập trung ven biển, đề xuất giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu những tác hại do chúng gây ra

Viện Tài nguyên và Môi trờng Biển, 246 Đà Nẵng, Hải Phòng

24

trạm ngoài lồng nuôi Bến Bèo (Cát Bà)

Trên cơ sở phân tích, đánh giá các kết quả nghiên cứu về phân bố mật độ của tảo
Pseudo-nitzschia ở vùng nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy rằng, nhìn chung xu thế biến
động mật độ của tảo Pseudo-nitzschia ở đầm nuôi quảng canh Đồ Sơn và trạm Đền Bà
Đế là tơng đồng với nhau. Chúng đều có một đỉnh cao mật độ vào tháng 1/2005 với
giá trị mật độ khoảng 15000 TB/L, mật độ tế bào trong các tháng còn lại hầu hết chỉ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status