Luận văn tốt nghiệp : Rủi ro trong hoạt động tín dụng tai ngân hàng thương mại cổ phần Phương Đông – Chi nhánh Thăng Long - Pdf 51

1
1
Khóa luận tốt nghiệp

Học viện Tài chính

MỤC LỤC

1
1
Sinh viên : Vũ Thị Hương

Lớp: CQ49/15.01


2
Khóa luận tốt nghiệp

Học viện Tài chính
LỜI MỞ ĐẦU

Tính cấp thiết của khóa luận
Hoạt động của ngân hàng thương mại chủ yếu là kinh doanh tiền tệ và dịch
vụ của ngân hàng. Ngân hàng huy động tiền sau đó cho vay trong một
khoảng thời gian để kiếm lợi nhuận. Trong thời gian cho vay, phát sinh một
số khoản vay khách hàng không trả được hoặc gốc hoặc lãi hoặc cả gốc và
lãi, việc này làm cho ngân hàng mất một phần vốn. Nếu số lượng này lớn
đến một mức độ nhất định sẽ dẫn đến nguy cơ ngân hàng không trả nổi các
khoản tiền đã huy động, và nguy cơ đổ vỡ. Sự đổ vỡ này làm cho các ngân
hàng biến mất sau một đêm và kéo theo tác động rất xấu với hệ thống ngân
hàng nói riêng và nền kinh tế nói chung.



3
Khóa luận tốt nghiệp

Học viện Tài chính

Phạm vi nghiên cứu: Khảo sát hoạt động của NHTMCP Phương Đông chi
nhánh Thăng Long trong ba năm 2012, 2013, 2014. Từ đó, đưa ra giải pháp
nâng cao chất lượng biện pháp phòng ngừa rủi ro tín dụng.
Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp nghiên cứu: Sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, suy
luận logic kết hợp với phương pháp duy vật lịch sử, phương pháp so sánh,
thống kê và đồ thị…
Thu thập số liệu: các báo cáo, tài liệu của ngân hàng, thông tin trên cáo chí
và internet.
Ý nghĩa thực tiễn của đề tài:
Hệ thống hóa các lý thuyết về biện pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín
dụng.
Thấy được thực trạng của công tác phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng tại
NHTMCP Phương Đông chi nhánh Thăng Long trong ba năm: 2012, 2013,
2014.
Tham khảo, vận dụng các kiến nghị, các giải pháp nâng cao chất lượng công
tác phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng vào lĩnh vực mà mình đang hoạt
động.
Kết cấu của chuyên đề
Đề tài được chia thành ba chương:
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh
doanh của ngân hàng thương mại
Chương 2: Thực trạng rủi ro tín dụng tại NHTMCP Phương Đông – Chi

Nghiệp vụ kinh doanh tín dụng là nghiệp vụ kinh doanh chủ chốt của NHTM
để tạo ra lợi nhuận nhằm bù đắp những chi phí phát sinh trong hoạt động
kinh doanh.
Điều kiện để ngân hàng cấp tín dụng cho các doanh nghiệp:
Doanh nghiệp có năng lực pháp luật dân sự.
Doanh nghiệp có mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp.
Doanh nghiệp có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời hạn cho phép.
Doanh nghiệp phải thực hiện các quy định về bảo đảm tiền vay theo đúng
quy định của pháp luật.
Doanh nghiệp có dự án đầu tư, phương án kinh doanh khả thi và có hiệu quả.

Sinh viên : Vũ Thị Hương

Lớp: CQ49/15.01


5
Khóa luận tốt nghiệp

Học viện Tài chính

Phân loại tín dụng
Hoạt động tín dụng của ngân hàng có nhiều hình thức đa dạng. Có thể phân
loại tín dụng ngân hàng theo nhiều tiêu thức khác nhau:
Căn cứ vào thời hạn cho vay, tín dụng ngân hàng phân ra làm ba loại:
Tín dụng ngắn hạn là loại tín dụng có thời hạn tối đa dưới một năm,có lãi
suất thấp, tính thanh khoản cao, dùng để bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động và
các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn. Tín dụng ngắn hạn chiểm tỷ trọng cao nhất
trong tín dụng của NHTM.
Tín dụng trung hạn là loại tín dụng có thời hạn từ 1 đến 5 năm. Tín dụng

Sinh viên : Vũ Thị Hương

Lớp: CQ49/15.01


6
Khóa luận tốt nghiệp

Học viện Tài chính

khoản tiền lớn hơn trong tương lai với lãi suất xác định trước được coi như
hoạt động tín dụng.
Bảo lãnh: là cam kết của ngân hàng dưới hình thức thư bảo lãnh về việc thực
hiện các nghĩa vụ tài chính thay khách hàng của mình nếu khách hàng của
mình không thực hiện đúng nghĩa vụ cam kết.
Vai trò của tín dụng
Tín dụng là kênh chuyển tải tác động của Nhà nước đến các mục tiêu kinh tế
vĩ mô
Các mục tiêu vĩ mô của nền kinh tế bao gồm ổn định giá cả và tạo công ăn
việc làm. Việc đảm bảo đạt được các mục tiêu kinh tế vĩ mô hài hòa phụ
thuộc một phần rất lớn vào khối lượng và cơ cấu tín dụng xét về mặt thời
hạn cũng như đối tượng tín dụng. Trong khi đó đối tượng tín dụng lại phụ
thuộc vào điều kiện tín dụng như lãi suất, điều kiện vay, yêu cầu thế chấp
bảo lãnh và chủ trương mở rộng tín dụng được quy định trong chính sách tín
dụng từng thời kỳ. Như vậy thông qua việc thay đổi và điều chỉnh các điều
kiện tín dụng, Nhà nước có thể thay đổi quy mô tín dụng hoặc chuyển hướng
vận động của nguồn vốn tín dụng, nhờ đó ảnh hưởng đến tổng cầu của nền
kinh tế cả về quy mô cũng như kết cấu. Sự thay đổi của tổng cầu sẽ tác động
ngược lại tới tổng cung và điều kiện sản xuất khác. Điểm cân bằng cuối cùng
giữa tổng cầu và tổng cung dưới tác động của chính sách tín dụng sẽ cho

dài với ngân hàng.
Tín dụng là công cụ thực hiện chính sách xã hội
Các chính sách xã hội, về mặt bản chất được đáp ứng bằng nguồn tài trợ
không hoàn lại từ ngân sách nhà nước. Song phương thức tài trợ không hoàn
lại thường bị hạn chế về quy mô và thiếu hiệu quả do sử dụng vốn bừa bãi.
Để khắc phục hạn chế này người ta thay thế phương thức này bằng phương
thức có hoàn lại của tín dụng nhằm duy trì nguồn cung cấp tài chính và có
điều kiên mở rộng quy mô tín dụng. Chẳng hạn việc tài trợ vốn cho người
nghèo bằng việc cấp tín dụng với mức lãi suất thấp và ưu đãi khác về thời
hạn trả nợ, gia hạn nợ. Thông qua các phương thức tài trờ này các mục tiêu
chính sách này sẽ được đáp ứng một cách chủ động và có hiệu quả hơn. Khi
các đối tượng chính sách buộc phải quan tâm để đảm bảo hoàn trả nợ, lãi
đúng hạn thì họ sẽ phải có những biện pháp cải tiến tay nghề trình độ. Đây là
sự đảm bảo chắc chắn cho sự ổn định tài chính của các đối tượng chính sách
và từng bước làm cho họ có thể tồn tại độc lập với nguồn tài trợ.
Rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại
Tổng quan về rủi ro trong ngân hàng thương mại
Khái niệm
Hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực Ngân hàng cũng luôn gắn liền với rủi
ro. Rủi ro tác động trực tiếp tới kết quả doanh lợi, nguy cơ phá sản của các
Ngân hàng. Do vậy việc thừa nhận rủi ro trong hoạt động kinh doanh của
Ngân hàng và từ đó tìm kiếm nhiều phương pháp chống đỡ các rủi ro là đòi
hỏi của sự tồn tại và phát triển của Ngân hàng. Rủi ro trong kinh doanh
Ngân hàng là một tất yếu, mà các nhà quản lý Ngân hàng chỉ có thể có chính
sách giảm bớt chứ không thể gạt bỏ được chúng.
Khi nói về rủi ro, người ta thường có nhiều cách hiểu khác nhau, có ý kiến
cho rằng khi nói tới rủi ro có nghĩa nói tới điều gì đó đã xảy ra và tìm biện
pháp để giải quyết. Với quan niệm trong mọi hoạt động kinh tế rủi ro là điều
tất yếu xảy ra do vậy rủi ro là vấn đề cần phải được quan tâm ngay từ khi bắt
đầu công việc. Chính vì vậy vấn đề quan trọng là lường trước khả năng rủi

suất thị trường có sự biến đổi. Khi lãi suất thay đổi sẽ dẫn đến sự tăng hoặc
giảm giá trị của tài sản hay những khoản thu nhập từ tài sản của Ngân hàng.
Rủi ro hối đoái: Là loại rủi ro do sự biến động của tỷ giá hối đoái gây tổn
thất trong hoạt động kinh doanh ngoại tệ.
Rủi ro hoạt động: Rủi ro do giảm sút chất lượng quản lý, do cung cấp dịch
vụ không hiệu quả, do sai lầm trong công tác quản lý hay do những thay đổi
trong nền kinh tế.
Rủi ro khác: Các loại rủi ro khác là rủi ro công nghệ, rủi ro quốc gia gắn liền
với các hoạt động đầu tư cũng như khả năng xảy ra cướp Ngân hàng, nhầm
lẫn trong thanh toán, hỏa hoạn…
Biện pháp
Trong thực tế Ngân hàng có nhiều biện pháp để bảo vệ tình trạng tài chính
của mình bao gồm: Nâng cao chất lượng quản lý, đa dạng hóa các nguồn
vốn và sử dụng vốn, bảo hiểm tiền gửi, vốn chủ sở hữu.
Nâng cao chất lượng quản lý:
Nâng cao chất lượng công tác quản lý, năng lực của người quản lý trong
việc xử lý nhanh chóng các vấn đề có khả năng xảy ra trước khi nó gây ảnh
hưởng tiêu cực đến Ngân hàng.
Đa dạng hóa các nguồn vốn và sử dụng vốn:
Đa dạng hóa danh mục đầu tư: Mở rộng tín dụng và tiền gửi cho nhiều
khách hàng đa dạng phong phú.
Đa dạng hóa địa lý: Tìm kiếm khách hàng ở nhiều nơi khác nhau, điều kiện
kinh tế khác nhau.
Bảo hiểm tiền gửi:
Thông qua hệ thống bảo hiểm tiền gửi chính phủ hướng tới việc thiết lập
một cam kết về phúc lợi công cộng khi hệ thống Ngân hàng lâm vào tình
trạng mất khả năng thanh toán.
Sinh viên : Vũ Thị Hương

Lớp: CQ49/15.01

khách hàng gặp những tổn thất và thất bại trong quá trình sử dụng vốn. Hay
nói cách khác những rủi ro trong hoạt động kinh doanh của khách hàng là
nguyên nhân chủ yếu gây nên rủi ro tín dụng của Ngân hàng.
Rủi ro tín dụng có tính chất đa dạng và phức tạp: Đặc điểm này biểu hiện ở
sự đa dạng, phức tạp của nguyên nhân, hình thức, hậu quả của rủi ro tín
dụng, do đặc trưng Ngân hàng là trung gian tài chính kinh doanh tiền tệ. Do
đó, khi phòng ngừa và xử lí rủi ro tín dụng phải chú đến mọi dấu hiệu rủi ro,
xuất phát từ nguyên nhân bản chất và hậu quả do rủi ro tín dụng đem lại để
có biện pháp phòng ngừa phù hợp.
Rủi ro tín dụng có tính tất yếu tức luôn tồn tại và gắn liền với hoạt động tín
dụng của NHTM: Tình trạng thông tin bất cân xứng đã làm cho Ngân hàng
không thể nắm bắt được các dấu hiệu rủi ro một cách toàn diện và đầy đủ,
điều này làm cho bất kì khoản vay nào cũng tiềm ẩn rủi ro đối với Ngân
hàng. Kinh doanh Ngân hàng thực chất là kinh doanh rủi ro ở mức phù hợp
và đạt được lợi nhuận tương ứng.
Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng
Sinh viên : Vũ Thị Hương

Lớp: CQ49/15.01


10
Khóa luận tốt nghiệp

Học viện Tài chính

Nguyên nhân chủ quan
Nguyên nhân từ phía Ngân hàng: Ngân hàng là một ngành kinh doanh đặc
biệt đi vay với lãi suất thấp và sau đó cho vay lại với lãi suất cao hơn để
hưởng chênh lệch lãi suất. Do đó, ngân hàng luôn xem xét rất cẩn thận trước

nợ chủ yếu của khách hàng cá nhân là thu nhập của họ).
Thiếu năng lực pháp lý: khi khách hàng thiếu năng lực pháp lý thì việc thu
hồi nợ của ngân hàng cũng gặp khó khăn do cản trở về thủ tục và thời gian.
Sử dụng vốn sai mục đích: đó là việc khách hàng dùng vốn vay của mình
không đúng mục đích theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. Từ đó dẫn
Sinh viên : Vũ Thị Hương

Lớp: CQ49/15.01


11
Khóa luận tốt nghiệp

Học viện Tài chính

đến khách hàng có thể làm ăn thua lỗ và không có khả năng trả nợ cho ngân
hàng.
Do ý muốn chủ quan của người đi vay cố tình không trả nợ: đây là trường
hợp xấu nhất trong các nguyên nhân chủ quan dẫn đến rủi ro tín dụng. Loại
nguyên nhân này được xếp vào nguyên nhân về đạo đức của người đi vay.
Trên thực tế cho thấy yếu tố đạo đức là nguyên nhân rất quan trọng trong
việc trả nợ vay, người đi vay có thể có khả năng nhưng cố tình không trả nợ,
lừa đảo chiếm đoạt tiền vay của bên cho vay.
Do hoàn cảnh gia đình gặp khó khăn như: bị sa thải, thất nghiệp, tai nạ lao
động…dẫn đến mất đi nguồn thu nhập để trả nợ ngân hàng.
Đối với khách hàng doanh nghiệp: nguyên nhân gây ra có thể do:
Doanh nghiệp sử dụng vốn sai mục đích, trong quá trình kinh doanh vốn
không được sử dụng hiệu quả dẫn đến tổn thất nguồn vốn. Hoặc do người
lãnh đạo doanh nghiệp thiếu kinh nghiệm trong điều hành và quản lý, các
doanh nghiệp này đều không nắm bắt được thông tin kịp thời, thiếu thích

Khóa luận tốt nghiệp

Học viện Tài chính

rộng sản xuất kinh doanh để tăng trưởng doanh thu. Khi đó khả năng tài
chính sẽ tốt hơn, đảm bảo khả năng trả các khoản nợ tốt. Bên cạnh đó nếu hệ
thống pháp lý không ổn định, còn nhiều sơ hở sẽ dẫn tới việc không kiểm
soát được các hiện tượng hoạt động sản xuất kinh doanh không lành mạnh
trong việc sử dụng vốn của khách hàng.
Yếu tố thuộc về văn hóa xã hội: Yếu tố này được hiểu cụ thể là việc thay đổi
tập quán tiêu dùng trong xã hội nhất là trong giai đoạn nền kinh tế nước ta
đang trong quá trình phát triển và chống chọi lại với cuộc khủng hoảng toàn
cầu như hiện nay. Điều này đòi hỏi các doanh nghiệp phải nắm bắt kịp thời
mức độ thay đổi xu hướng nhu cầu của người dân để có hoạt động
Marketing một cách hiệu quả, giữ vững vị thế của doanh nghiệp trên thị
trường.
Ngoài ra, những rủi ro từ môi trường thiên nhiên như động đất, bõa lụt, hạn
hán, tác động xấu đến phương án đầu tư của khách hàng, làm cho khách
hàng khó có nguồn trả nợ ngân hàng từ đó cũng gây ra rủi ro tín dụng. Cũng
như việc hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta với các nước khác trên thế giới
có mối quan hệ mật thiết với nhau về kinh tế, cho nên sự bất ổn về kinh tế,
khủng hoảng tài chính trên thế giới xảy ra dây chuyền từ một hay một vài
nước sau đó lan sang nhiều nước, đây cũng là nguyên nhân làm phá sản các
ngân hàng thương mại.
Hậu quả của rủi ro tín dụng
Thứ nhất , đối với các chủ thể tham gia trực tiếp vào quan hệ tín dụng là
khách hàng, khi phát sinh RRTD thì phần lớn đều nằm trong tình trạng kinh
doanh sa sút hoặc nằm trên bờ vực phá sản.
Thứ hai, đối với các ngân hàng thương mại thì hậu quả rủi ro tác động trên
nhiều phương diện:

Quy mô RRTD càng lớn thì càng ảnh hưởng đến khả năng thanh toán của
ngân hàng , ngân hàng không thu hồi được vốn trong khi vẫn phải trả lãi cho
khách hàng. Kết quả là ngân hàng rơi vào trạng thái thiếu hụt thanh khoản.
Nếu tình trạng này kéo dài và quy mô rủi ro lớn thì việc sụp đổ ngân hàng là
khó tránh khỏi.
Các chỉ tiêu đo lường rủi ro tín dụng
Phân loại nợ
Nhóm 1 : Nợ đủ tiêu chuẩn
Các khoản nợ trong hạn mà tổ chức tín dụng đánh giá là có đủ khả năng thu
hồi đầy đủ cả gốc và lãi đúng hạn
Các khoản nợ quá hạn dưới 10 ngày và Ngân hàng đánh giá là có khả năng
thu hồi đầy đủ gốc và lãi bị quá hạn và thu hồi đầy đủ gốc và lãi đúng thời
hạn còn lại.
Nhóm 2: Nợ cần chú ý
Các khoản nợ quá hạn từ 10 ngày đến 90 ngày
Các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu
Nhóm 3: Nợ dưới tiêu chuẩn
Các khoản nợ quá hạn từ 91-180 ngày
Các khoản nợ gia hạn nợ lần đầu
Các khoản nợ được miễn hoặc nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng
không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng.
Nhóm 4: Nợ nghi ngờ
Các khoản nợ quá hạn từ 181-360 ngày
Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo
thời hạn trả nợ được cơ cấu lần đầu
Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai.
Nhóm 5: Nợ có khả năng mất vốn
Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày
Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên
tính theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lần đầu


=

Dư nợ xấu
Tổng dư nợ tín dụng
Theo Thông Tư 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013của Ngân hàng Nhà
nước thì nợ xấu là nợ từ nhóm 3 đến nhóm 5 và tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ
là tỷ lệ đánh giá chất lượng tín dụng của tổ chức tín dụng. Chỉ tiêu này càng
thấp càng chứng tỏ độ an toàn tín dụng của ngân hàng cao. Đối với trường
hợp doanh nghiệp có nhiều hơn một khoản nợ với tổ chức tín dụng mà có bất
kỳ khoản nợ bị chuyển sang nhóm nợ rủi ro cao hơn thì tổ chức tín dụng bắt
buộc phải phân loại các khoản nợ còn lại của doanh nghiệp đó vào các nhóm
nợ rủi ro cao hơn tương ứng với mức độ rủi ro. Ngoài ra, nếu các khoản nợ
của khách hàng mà ngân hàng đánh giá khả năng trả nợ kém, cũng có thể
xếp vào nhóm nợ cao hơn.
Tỷ lệ nợ quá hạn so với tổng tài sản:
Dư nợ quá hạn
Tỷ lệ nợ quá hạn so
=
với tổng tài sản
Tổng tài sản
Tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng:
Dự phòng rủi ro tín dụng
Tỷ lệ dự phòng rủi ro
=
tín dụng
Tổng dư nợ
Theo Thông Tư 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013của Ngân Hàng Nhà
Nước, các khoản nợ được phân loại từ Nhóm 1 đến 5 có mức trích lập dự
Sinh viên : Vũ Thị Hương

ro không những do nguyên nhân chủ quan của mình, mà còn phải gánh chịu
những rủi ro khách hàng gây ra. Vì vậy “rủi ro tín dụng của Ngân hàng
không những là cấp số cộng mà có thể là cấp số nhân rủi ro của nền kinh tế”.
Khi rủi ro xảy ra, trước tiên lợi nhuận kinh doanh của Ngân hàng sẽ bị ảnh
hưởng. Nếu rủi ro xảy ra ở mức độ nhỏ thì Ngân hàng có thể bù đắp bằng
khoản dự phòng rủi ro (ghi vào chi phí) và bằng vốn tự có, tuy nhiên nó sẽ
ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng mở rộng kinh doanh của Ngân hàng.
Nghiêm trọng hơn, nếu rủi ro xảy ra ở mức độ lớn, nguồn vốn của Ngân
hàng không đủ bù đắp, vốn khả dụng bị thiếu, lòng tin của khách hàng giảm
tất nhiên sẽ dẫn tới phá sản Ngân hàng. Vì vậy, việc phòng ngừa và hạn chế
rủi ro tín dụng là một việc làm cần thiết đối với các ngân hàng thương mại.
Đối với nền kinh tế
Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động kinh doanh của Ngân hàng liên quan
đến rất nhiều các thành phần kinh tế từ cá nhân, hộ gia đình, các tổ chức
kinh tế cho tới các tổ chức tín dụng khác. Vì vậy, kết quả kinh doanh của
Ngân hàng phản ánh kết quả kinh doanh của nền kinh tế và đương nhiên nó
phụ thuộc rất lớn vào tình hình tổ chức sản xuất kinh doanh của các doanh
nghiệp và khách hàng. Hoạt động kinh doanh của Ngân hàng không thể có
Sinh viên : Vũ Thị Hương

Lớp: CQ49/15.01


16
Khóa luận tốt nghiệp

Học viện Tài chính

kết quả tốt khi hoạt động kinh doanh của nền kinh tế chưa tốt hay nói cách
khác hoạt động kinh doanh của Ngân hàng sẽ có nhiều rủi ro khi hoạt động

phần vào sự phát triển chung của cộng đồng và xã hội.
Tên tiếng Việt: NGÂN HÀNG TMCP PHƯƠNG ĐÔNG
Tên tiếng Anh: ORIENT COMMERCIAL JOINT STOCK BANK
Tên viết tắt: NGÂN HÀNG PHƯƠNG ĐÔNG hoặc OCB
Hội sở chính: Số 45 Lê Duẩn, quận 1, tp. Hồ Chí Minh, Việt Nam.
Giấy phép hoạt động số 0061/NH-GP ngày 13/04/1996 do NHNN Việt Nam
cấp.
Tính đến cuối năm 2014, vốn điều lệ đạt 3547 tỷ đồng.
Website: www.ocb.com.vn
Hiện nay, mạng lưới OCB bao gồm 1 sở giao dịch, 2 quỹ tiết kiệm, 33 chi
nhánh và 98 điểm giao dịch tại hầu hết các địa bàn kinh tế trọng điểm toàn
quốc. Hướng đến năm 2015 sẽ tăng thêm 10 điểm giao dịch.
OCB đặt sứ mệnh xây dựng một tập thể cán bộ nhân viên về nghiệp vụ, năng
động, hiểu rõ nhu cầu của từng đối tượng khách hàng cá nhân và khách hàng
doanh nghiệp, trên cơ sở đó đưa ra các giải pháp thiết thực, tối ưu hóa các
giá trị cho khách hàng và nhà đầu tư, góp phần vào sự phát triển chung của
cộng đồng và xã hội. Nỗ lực phấn đấu xây dựng Ngân hàng Phương Đông
trở thành ngân hàng đa năng với cốt lõi là ngân hàng bán lẻ, đến năm 2015 là
một trong 10 Ngân hàng TMCP hàng đầu Việt Nam.
Bên cạnh nhiệm vụ kinh doanh, OCB còn thể hiện trách nhiệm xã hội của
một doanh nghiệp An sinh xã hội của đất nước. Cụ thể, trong năm 2008,
thực hiện Nghị quyết 30a/2008/ NQ-CP của Chính Phủ, OCB đã triển khai
chương trình hỗ trợ 160 tỷ đồng cho tỉnh Điện Biên. Bên cạnh đó, OCB còn
ủng hộ xây nhà tình nghĩa, tài trợ phí mổ tim, tài trợ xây dựng bệnh viện ung
thư miền Trung, và nhiều hoạt động tình nghĩa khác nữa.
Với vị thế là NHTM, OCB đã và đang không ngừng nỗ lực hết mình, đạt
được nhiều thành tựu đáng khích lệ, đóng góp to lớn vào sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển của đất nước.
2.1.1.2. Quá trình hình thành và phát triển của Ngân hàng TMCP Phương
Đông – Chi nhánh Thăng Long.

Dịch vụ kinh doanh ngoai hối
Dịch vụ thanh toán trong nước
Dịch vụ bảo lãnh
Dịch vụ ngân quỹ
Dịch vụ ATM
Dịch vụ bảo hiểm dịch vụ chứng khoán
Dịch vụ chuyển tiền
Dịch vụ thế chấp, cầm cố…
OCB chi nhánh Thăng Long là đơn vị thành viên trực thuộc ngân hàng
TMCP Phương Đông có quyền tự chủ hoạt động kinh doanh theo quy chế,
có con dấu riêng, có bảng cân đối tài sản và nhận khoán tài chính theo quy
định của NHNN Việt Nam. Kể từ ngày thành lập đến nay, OCB chi nhánh
Thăng Long đã và đang kinh doanh trên cơ sở tự kinh doanh, tự bù đắp và có
lãi.
Trải qua thời gian xây dựng và phát triển, chi nhánh ngày càng hoàn thiện cơ
cấu tổ chức và hoạt động có những bước phát triển vững chắc, khẳng định
uy tín, vị thế trên xu thế đổi mới hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ
ngân hàng. Tuy vậy, chi nhánh hiện vẫn đang nỗ lực đa dạng hóa khách hàng
không chỉ nông nghiệp nông thôn mà thuộc mọi thành phần kinh tế. Phát
triển và nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ ngân hàng, nâng cao hiệu
quả an toàn hệ thống theo đòi hỏi cua cơ chế thị trường và lộ trình hội nhập.
2.1.2. Cơ cấu tổ chức

Sinh viên : Vũ Thị Hương

Lớp: CQ49/15.01


19
Khóa luận tốt nghiệp

khách hàng

Ban lãnh đạo: Ban lãnh đạo bao gồm 1 Giám đốc và 2 Phó Giám đốc có
chức năng lãnh đạo và điều hành mọi hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Phòng khách hàng doanh nghiệp: Là phòng nghiệp vụ trực tiếp giao dịch với
khách hàng là các doanh nghiệp lớn về khai thác vốn bằng VND và ngoại tệ,
thực hiện các nghiệp vụ liên quan đến tín dụng, quản lý các sản phẩm phù
hợp với chế độ, thể lệ hiện hành và hướng dẫn của Ngân hàng Phương
Đông. Trực tiếp quảng cáo, tiếp thị, giới thiệu và bán các sản phẩm dịch vụ
ngân hàng cho các doanh nghiệp.
Phòng khách hàng các nhân: Là phòng nghiệp vụ trực tiếp giao dịch với
khách hàng là các cá nhân để huy động vốn bằng VND và ngoại tệ, xử lý các
nghiệp vụ liên quan đến cho vay, quản lý các sản phẩm cho vay phù hợp với
chế độ, thể lệ hiện hành của NHNN và hướng dẫn của Ngân hàng Phương
Đông, quản lý hoạt động các quỹ tiết kiệm, diểm giao dịch.
Phòng kế toán: Là phòng tổ chức thực hiện va kiểm tra công tác kế toán chi
tiết, kế toán tổng hợp và chế độ báo cáo kế toán, theo dõi quản lý tài sản(giá
trị ) vốn, quỹ thực hiện công tác hậu kiểm,thực hiện quản lý tài sản, đề xuất

Sinh viên : Vũ Thị Hương

Lớp: CQ49/15.01


20
Khóa luận tốt nghiệp

Học viện Tài chính

tham mưu với giám đốc sở giao dịch về hướng dẫn thực hiện chế độ kế toán,

xuất biện pháp xử lý thông tin phản hồi, khiếu nại từ khách hàng. Xây dựng
và thực hiện nghiên cứu thị trường, tổ chức lập báo cáo theo định kỳ hàng
tuần, quý, năm hoặc đột xuất theo yêu cầu của các cấp quản lý. Hỗ trợ các
đơn vị trong việc thực hiện thẩm định và viết tờ trình tín dụng. Thực hiện
các nhiệm khác theo sự phân công của cán bộ quản lý có thẩm quyền.
Phòng giao dịch: Phòng giao dịch chịu sự quản lý trực tiếp của chi nhánh:
thực hiện các nghiệp vụ chủ yếu là tiếp nhận khách hàng, hướng dẫn khách
hàng làm thủ tục gửi tiền tiết kiệm, hay thực hiện các chương trình khuyến
Sinh viên : Vũ Thị Hương

Lớp: CQ49/15.01


21
Khóa luận tốt nghiệp

Học viện Tài chính

mại dự thưởng của OCB đưa ra, trực tiếp nhận tiền mặt,kiểm tra tiền mặt,
phân loại mệnh giá tiền mặt, đồng thời xuất tiền mặt ra theo yêu cầu, thực
hiện trích nộp ngân sách các khoản phải nộp theo luật thuế, thực hiện các
nghiệp vụ về kho.

Sinh viên : Vũ Thị Hương

Lớp: CQ49/15.01


22
Khóa luận tốt nghiệp

( %)
Tổng nguồn vốn huy 1437,0
động
9
100
1. Theo kỳ hạn

Năm 2013

Chênh
(2013/2012)

Năm 2014

lệch Chênh
(2014/2013)

lệch

Chỉ tiêu

Không kỳ hạn
Kỳ hạn
2. Theo thành phần KT

287,95
1149,1
4

20,04

100

392,25

27,29

329,28

18

26,34

16,94

5,88

263,69

86,49

73,66

375,31

32,66

65,59

4,3


Sinh viên : Vũ Thị Hương

61,77

947,42

51,79

Số tiền
Tỷ lệ (%)

Lớp: CQ49/15.01

Tỷ lệ (%)


24
Khóa luận tốt nghiệp

Học viện Tài chính

Qua bảng 1, ta thấy OCB chi nhánh Thăng Long có quy mô nguồn vốn huy
động tương đối cao. Mặc dù giữa bối cảnh khủng hoảng kinh tế tài chính vẫn
đang diễn ra trong giai đoạn này, mà nguồn vốn huy động vẫn có mức tăng
trưởng cao và liên tục. Tổng nguồn vốn huy động năm 2012 là 143,09 tỷ
đồng; năm 2013 đạt 1829,34 tỷ đồng, tăng 392,25 tỷ đồng tương ứng tăng
27,29% so với năm 2012; năm 2014 đạt 2158,62 tỷ đông, tăng 329,28 tỷ
đồng tương ứng tăng 18,00% so với năm 2013.
Trong những năm qua, OCB đã tập trung thực hiện các giải pháp huy động
vốn như: thực hiện phân khúc khách hàng tập trung phục vụ các khách hàng


Lớp: CQ49/15.01


25
Khóa luận tốt nghiệp

Học viện Tài chính

Nhìn chung, trong những năm vừa qua, sự cạnh tranh huy động vốn gay gắt
giữa các ngân hàng và tình hình tài hình bất ổn chung nhưng công tác huy
động vốn của chi nhánh vẫn có nhiều dấu hiệu tích cực. Chi nhánh có nhiều
biện pháp hiệu quả để đáp ứng được nhu cầu vốn, duy trì cơ cấu vốn tăng
trưởng và ổn định.
Cơ cấu tiền giửi theo thành phần kinh tế:
Qua bảng trên ta thấy, năm 2013 nguồn vốn huy động từ các tổ chức đạt
947,42 tỷ đồng tăng 59,77 tỷ đồng tương ứng với 6,73% so với năm 2012.
Đến năm 2014 nguồn vốn đạt 1074,13 tỷ đồng tăng 126,71 tỷ đồng tương
ứng với 13,37% so với năm 2013. Nguồn vốn huy động từ các tổ chức kinh
tế chiếm tỷ trọng trong tổng nguồn vốn huy động nhưng lại có xu hướng
giảm dần (61,77% năm 2012; 51,79% năm 2013; 49,76% năm 2014). Năm
2012 và 2013, tình hình kinh tế có dấu hiệu phục hồi theo đà của nền kinh tế
thế giới nhưng vẫn khó khăn, bất ổn tạm thời được giữ ổn định bởi có sự can
thiệp của Chính phủ trên thị trường, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp hoạt
động kinh doanh ổn định trở lại. Đến năm 2014, tình hình kinh tế đã có
những chuyển biến tích cực, các tổ chức kinh tế đẩy mạnh hoạt động đầu tư,
kinh doanh chính. Điều này là lý do giải thích cho sự gia tăng tốc độ tăng
trưởng của việc huy động vốn từ các tổ chức kinh tế (tốc độ tăng trưởng năm
2013: 6,73%, năm 2014: 13,37%).
Bên cạnh đó, tiền gửi từ cá nhân đều tăng trưởng qua các năm (38,23% năm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status