1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Trong hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại nói chung,
ngân hàng thương mại Việt Nam nói riêng, hoạt động tín dụng vẫn là hoạt
động mang lại nguồn thu chủ yếu cho các ngân hàng. Tuy nhiên, đây cũng là
hoạt động tiềm ẩn nhiều rủi ro. Rủi ro tín dụng xảy ra sẽ ảnh hưởng đến khả
năng thu hồi được vốn vay, làm ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản của ngân
hàng, làm giảm khả năng cung cấp vốn cho nền kinh tế và cuối cùng ảnh hưởng
đến lợi nhuận của ngân hàng. Do vậy, hạn chế rủi ro tín dụng luôn là vấn đề mà
các ngân hàng thương mại quan tâm.
Cũng như các ngân hàng thương mại Việt Nam, Ngân hàng TMCP
Quốc tế Việt Nam – Chi nhánh Đăk Lăk lợi nhuận chủ yếu từ hoạt động tín
dụng (chiếm khoảng 80% tổng thu nhập của ngân hàng). Hay nói khác, chính
chức năng này có thể dẫn đến những rủi ro lớn nhất đối với một ngân hàng và
toàn bộ gánh nặng rủi ro trong kinh doanh ngân hàng. Nguyên nhân là họat
động quản lý rủi ro tín dụng của ngân hàng vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế,
chưa tiếp cận được các phương pháp quản lý ngân hàng hiện đại. Quá trình
hội nhập quốc tế và cạnh tranh ngày càng mạnh mẽ, rủi ro tín dụng có xu
hướng tăng. Do đó, việc nghiên cứu giải pháp để chủ động hạn chế rủi ro tín
dụng có ý nghĩa quyết định đối với sự tồn tại và phát triển của Ngân hàng
TMCP Quốc Tế Việt Nam - Chi nhánh Đăk Lăk .
Chính vì vậy, tôi đã chọn đề tài “Giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng tại
Ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam - Chi nhánh Đăk Lăk” làm đề tài
nghiên cứu cho luận văn của mình.
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu lý luận về hạn chế rủi ro tín dụng và phân tích, đánh giá
thực trạng hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam -
3
Trên cơ sở các tài liệu đã được tổng hợp, vận dụng các phương pháp
phân tích thống kê như số tương đối, số tuyệt đối, số bình quân gia quyền,
lượng tăng (giảm) tuyệt đối liên hoàn, tốc độ phát triển liên hoàn, tốc độ tăng
(giảm) liên hoàn, phương pháp dãy số theo thời gian và phương pháp so sánh
để phân tích thực trạng và chất lượng hoạt động tín dụng qua các năm nhằm
đáp ứng được mục đích nghiên cứu của đề tài đã đặt ra.
5. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn chia thành 3 chương chính:
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG.
Chương 2: THỰC TRẠNG HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI
NGÂN HÀNG TMCP QUỐC TẾ VIỆT NAM - CHI NHÁNH ĐĂK LĂK.
Chương 3: GIẢI PHÁP HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN
HÀNG TMCP QUỐC TẾ VIỆT NAM - CHI NHÁNH ĐĂK LĂK.
4
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. TỔNG QUAN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG KINH DOANH
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.1. Tín dụng ngân hàng
1.1.1.1. Khái niệm Tín dụng ngân hàng
Tín dụng ngân hàng là hoạt động mà ngân hàng cấp tín dụng cho khách
hàng dưới hình thức cho vay, bảo lãnh, chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có
giá, cho thuê tài chính và các hình thức khác.
Bản chất của tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng quyền sử
nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện hoặc
thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết; khách hàng phải nhận nợ và
hoàn trả cho tổ chức tín dụng theo thỏa thuận.
- Chiết khấu là việc mua có kỳ hạn hoặc mua có bảo lưu quyền truy đòi
các công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác của người thụ hưởng trước
khi đến hạn thanh toán.
- Tái chiết khấu là việc chiết khấu các công cụ chuyển nhượng, giấy tờ
có giá khác đã được chiết khấu trước khi đến hạn thanh toán.
- Hoạt động cho thuê tài chính là việc cấp tín dụng trung hạn, dài hạn
trên cơ sở hợp đồng cho thuê tài chính và phải có một trong các điều kiện
sau đây:
+ Khi kết thúc thời hạn cho thuê theo hợp đồng, bên thuê được nhận
chuyển quyền sở hữu tài sản cho thuê hoặc tiếp tục thuê theo thỏa thuận
của hai bên;
+ Khi kết thúc thời hạn cho thuê theo hợp đồng, bên thuê được quyền
ưu tiên mua tài sản cho thuê theo giá danh nghĩa thấp hơn giá trị thực tế của
tài sản cho thuê tại thời điểm mua lại;
6
+ Thời hạn cho thuê một tài sản phải ít nhất bằng 60% thời gian cần
thiết để khấu hao tài sản cho thuê đó;
+ Tổng số tiền thuê một tài sản quy định tại hợp đồng cho thuê tài
chính ít nhất phải bằng giá trị của tài sản đó tại thời điểm ký hợp đồng.
1.1.1.2. Phân loại tín dụng ngân hàng
a. Căn cứ vào thời hạn, tín dụng ngân hàng có các loại sau.
- Tín dụng ngắn hạn: là loại tín dụng có thời hạn dưới một năm, được
sử dụng để cho vay bổ sung vốn lưu động tạm thời của các doanh nghiệp và
cho vay phục vụ nhu cầu sinh hoạt của cá nhân.
- Tín dụng có đảm bảo: là loại cho vay được ngân hàng cung ứng phải
có tài sản thế chấp hoặc cầm cố, hoặc phải có sự bảo lãnh của bên thứ ba. Đối
với khách hàng không có uy tín cao đối với ngân hàng, khi vay vốn đòi hỏi
phải có sự bảo đảm. Sự bảo đảm này là căn cứ pháp lý để ngân hàng có thêm
một nguồn thu thứ hai, bổ sung cho nguồn thu nợ thứ nhất thiếu chắc chắn.
d. Căn cứ vào mối quan hệ giữa các chủ thể, tín dụng ngân hàng
có các loại sau.
- Tín dụng trực tiếp: Ngân hàng cấp vốn trực tiếp cho khách hàng có nhu
cầu và khách hàng trực tiếp trả nợ vay cho ngân hàng.
- Tín dụng gián tiếp: Là khoản vay được thực hiện thông qua việc mua
lại các khế ước, chứng từ nợ đã phát sinh và còn trong thời hạn thanh toán,
như chiết khấu thương phiếu, mua các phiếu bán hàng tiêu dùng…
e. Căn cứ vào phương pháp cấp tiền vay, tín dụng ngân hàng có các
loại sau.
- Tín dụng từng lần: Mỗi lần vay vốn khách hàng và ngân hàng thực
hiện thủ tục vay vốn cần thiết và ký kết hợp đồng tín dụng.
Tín dụng hạn mức: Ngân hàng và khách hàng xác định và thoả thuận
một hạn mức tín dụng duy trì trong một khoảng thời gian nhất định.
f. Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn, tín dụng ngân hàng có các loại sa
8
- Tín dụng sản xuất và lưu thông hàng hóa: là loại tín dụng dành cho các
doanh nghiệp và các chủ thể kinh doanh để tiến hành sản xuất và lưu thông
hàng hóa.
- Tín dụng tiêu dùng: là hình thức tín dụng dành cho các cá nhân để
đáp ứng nhu cầu như: mua nhà cửa, xe cộ, du học… thường do các ngân
hàng, quỹ tiết kiệm, hợp tác xã tín dụng và các tổ chức tín dụng cung cấp.
Ngoài ra, bán trả góp cũng được coi là hình thức tín dụng do các công ty,
trung chủ yếu vào danh mục tín dụng. Khi ngân hàng rơi vào tình trạng tài
chính khó khăn nghiêm trọng thì nguyên nhân là thường phát sinh từ các hoạt
động tín dụng của ngân hàng. Vì thế, rủi ro tín dụng cũng được rất nhiều tác
giả nghiên cứu và đưa ra nhiều quan niệm về rủi ro tín dụng.
- Rủi ro tín dụng được hiểu là những tổn thất do khách hàng không trả
được nợ hoặc sự giảm sút chất lượng tín dụng của những khoản vay;
- Rủi ro tín dụng phát sinh trong trường hợp ngân hàng không thu được
đầy đủ gốc và lãi của khoản vay hoặc là việc thanh toán nợ gốc và lãi không đúng
kỳ hạn;
- Rủi ro tín dụng được định nghĩa là nguy cơ mà người đi vay không
thể chi trả tiền lãi, hoặc hoàn trả vốn gốc so với thời gian đã ấn định trong hợp
đồng tín dụng. Đây là thuộc tính vốn có của hoạt động ngân hàng. Rủi ro tín
dụng tức là việc chi trả bị trì hoãn, hoặc tồi tệ hơn là không hoàn trả dược
toàn bộ. Điều này gây ra sự cố đối với dòng chu chuyển tiền tệ và gây ảnh
hưởng tới khả năng thanh khoản của ngân hàng.
- Theo quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam thì: “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng
của tổ chức tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng
của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng
thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết”.
Nếu coi tín dụng là việc “tin tưởng” mà đưa cho khách hàng sử dụng giá
10
trị hiện tại với mong muốn nhận được giá trị tương lai trong một thời gian
nhất định thì rủi ro tín dụng chính là khả năng mà mong muốn đó không được
đáp ứng hay nói một cách khác đó là khả năng xảy ra sự khác biệt không
mong muốn giữa kết quả thực tế và kết quả kỳ vọng theo kế hoạch - đúng hạn
nhận được đầy đủ gốc và lãi.
kháng)
b. Theo tính chất của rủi ro tín dụng thì chia thành 2 loại:
+ Rủi ro sai hẹn
+ Rủi ro mất vốn
c. Căn cứ vào biểu hiện của rủi ro tín dụng.
- Không thu được lãi đúng hạn:
Cấp độ thấp nhất khi người vay không trả được lãi đúng hạn, khi đó
ngân hàng sẽ chuyển số lãi đó vào khoản mục lãi treo phát sinh nhập ngoại
bảng để theo dõi. Hình thức rủi ro này được xếp vào mức rủi ro thấp vì ngoại
trừ trường hợp khách hàng muốn quỵt nợ, chiếm dụng vốn thì phần lớn đều
xuất phát từ việc thiếu cân đối trong kỳ hạn thu nợ và trả nợ của khách hàng.
- Không thu được vốn đúng hạn.
Khi không thu được vốn đúng hạn thì rủi ro sẽ ở mức cao hơn, một
phần do một lượng vốn vay lớn bị mất. Khi đó, ngân hàng sẽ chuyển số nợ đó
sang mục nợ từ nhóm 2 trở lên phát sinh. Khoản mục này phát sinh vào thời
gian đáo hạn của hợp đồng tín dụng. Tuy nhiên, đấy chưa phải là khoản mất
mát thực sự của ngân hàng vì có thể do tiến độ thực hiện hoạt động kinh
doanh của khách hàng bị chậm so với kế hoạch đã đề ra khi vay ngân hàng, và
khách hàng tạm thời chưa có đủ vốn trả nợ.
- Không thu được đủ lãi.
Trong tình trạng này tình hình kinh doanh của khách hàng có thể đã
kém hiệu quả đến mức không thể trả đủ lãi cho ngân hàng. Khi đó, ngân hàng
12
phải chuyển khoản lãi này vào khoản mục lãi treo đóng băng và thậm chí có
thể phải thực hiện miễn giảm lãi cho khách hàng.
- Không thu đủ vốn cho vay:
Tình huống xấu nhất xảy ra khi ngân hàng không thu đủ vốn cho vay và
kỹ thuật xử lí các khoản cho vay có vấn đề.
- Rủi ro danh mục
Là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do
những hạn chế trong quản lí danh mục cho vay của ngân hàng , được phân
chia thành hai loại: rủi ro nội tại (Intrinsic risk) và rủi ro tập trung
(Concentration risk).
* Rủi ro nội tại: Xuất phát từ các yếu tố, các đặc điểm riêng có,mang
tính riêng biệt bên trong của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế .
Nó xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của khách
hàng vay vốn.
* Rủi ro tập trung: Là trường hợp ngân hàng tập trung vốn cho vay quá
nhiều đối với một số khách hàng, cho vay quá nhiều doanh nghiệp hoạt động
trong cùng một ngành, lĩnh vực kinh tế, hoặc trong cùng một vùng địa lí nhất
định, hoặc cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao.
1.1.2.3. Hậu quả của rủi ro tín dụng
a. Đối với ngân hàng cấp tín dụng:
Rủi ro tín dụng làm ảnh hưởng đến uy tín, thu nhập của ngân hàng, làm
giảm khả năng thanh toán của ngân hàng và có nguy cơ dẫn đến phá sản ngân
hàng. Rủi ro tín dụng là kết quả tất yếu của một hoạt động tín dụng không
lành mạnh cả về số lượng và chất lượng. Rủi ro tín dụng xảy ra làm cho ngân
hàng không thu được vốn và lãi theo đúng thời hạn để tiếp tục thực hiện hoạt
động cấp tín dụng. Do vậy, rủi ro tín dụng sẽ làm giảm tốc độ quay vòng vốn
14
của ngân hàng, làm giảm hiệu quả sử dụng vốn, kết quả là uy tín và sức cạnh
tranh của ngân hàng sẽ giảm theo. Nếu mức độ rủi ro trong tầm kiểm soát của
ngân hàng thì ngân hàng có thể bù đắp bằng các quỹ dự phòng rủi ro hoặc vốn
tự có, còn nếu rủi ro xảy ra ở mức độ nghiêm trọng thì sẽ làm mất khả năng
thích hợp.
Hạn chế rủi ro tín dụng bao gồm cả hai nội dung cơ bản: ngăn ngừa,
giảm thiểu khả năng xuất hiện rủi ro tín dụng và giảm bớt mức độ tổn thất khi
rủi ro tín dụng xảy ra từ đó giảm các tác động tiêu cực của rủi ro tín dụng
(giảm lợi nhuận; giảm khả năng thanh khoản; giảm giá trị tài sản; dẫn tới
nguy cơ phá sản ngân hàng...)
Các nghiên cứu về rủi ro tín dụng đã chỉ ra hai thành phần dẫn đến rủi
ro tín dụng đối với một người vay cụ thể là: khả năng trả nợ của người vay và
ý muốn trả nợ của người vay. Tiếp cận dưới góc độ thông tin bất đối xứng, rủi
ro tín dụng phát sinh do tình trạng thiếu thông tin của ngân hàng về hai thành
phần trên của người vay dẫn đến hai hậu quả: sự lựa chọn đối nghịch và rủi ro
đạo đức. Thông tin trên thị trường thường bị nhiễu loạn bởi người đi vay,
người không có khả năng trả được nợ là người tích cực vay và họ cố tạo ra
hình ảnh đầy đủ để được vay. Kết quả họ là người đầu tiên được lựa chọn, sự
lựa chọn này gọi là sự lựa chọn đối nghịch. Nếu chọn họ, ngân hàng sẽ đứng
trước nguy cơ rủi ro không thu được nợ đồng thời bỏ mất cơ hội kiếm lợi
nhuận từ những khách hàng đáng tin cậy không được lựa chọn.
Ngoài ra, thông tin không cân xứng cũng dẫn đến rủi ro đạo đức (diễn
ra sau khi thực hiện giao dịch tài chính). Nhiều người vay tiền có ý muốn thực
hiện những hoạt động không đạo đức (xét trên quan điểm người cho vay), sau
khi vay được tiền, họ đầu tư vào những dự án rủi ro cao, hoặc sử dụng vốn
không đúng với cam kết, hoặc có ý định chiếm đoạt vốn ngân hàng. Họ có thể
16
có hành vi thiếu đạo đức ngay từ ban đầu hoặc xuất hiện trong quá trình sử
dụng vốn vay (do yếu kém về quản lý, khả năng cạnh tranh và năng lực kinh
doanh dẫn đến thất bại trong kinh doanh mà nảy sinh).
Xem xét dưới góc độ này, bản chất của các hoạt động hạn chế rủi ro tín
dụng của ngân hàng thương mại. Chỉ tiêu này càng lớn thì khả năng tổn thất
rủi ro tín dụng của ngân hàng càng cao, việc quản lý rủi ro tín dụng của ngân
hàng kém hiệu quả.
Tỷ lệ các khoản nợ từ nhóm 2 trở lên: Tỷ lệ này càng cao thì mức độ
rủi ro tín dụng của ngân hàng càng lớn. Theo quy định của Ngân hàng Nhà
nước cho phép tỷ lệ các khoản nợ từ nhóm 2 trở lên không quá 5% có thể
chấp nhận được.
Tỷ lệ các khoản nợ từ nhóm 2 trở lên được xác định như sau:
Tỷ lệ các khoản nợ từ
nhóm 2 trở lên trong kỳ
=
Nợ từ nhóm 2 trở lên trong kỳ
Tổng dư nợ trong kỳ
x
100%
- Mức độ giảm tỷ lệ các khoản nợ từ nhóm 2 trở lên : Tỷ lệ các khoản nợ
từ nhóm 2 trở lên cuối kỳ - Tỷ lệ các khoản nợ từ nhóm 2 trở lên đầu kỳ .
1.2.2.2. Sự thay đổi trong cơ cấu nhóm nợ.
Theo thông lệ nợ được phân thành các nhóm căn cứ vào mức độ rủi ro
tín dụng. Phổ biến nợ được chia thành năm nhóm căn cứ vào hai tiêu chí: tiêu
chí thời gian quá hạn và các tiêu chí định tính.
Tại Việt Nam, theo quy định của Ngân hàng Nhà nước, việc phân loại nợ
và trích lập dự phòng rủi ro theo QĐ 493/2005/QĐ – NHNN. Theo đó, nợ được
phân loại vào 5 nhóm nợ: Nợ nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn), Nợ nhóm 2 (Nợ cần
chú ý), Nợ nhóm 3 (dưới chuẩn), nhóm 4 (nghi ngờ), và nhóm 5 (có khả năng
trích lập dự phòng dựa trên việc phân loại nợ theo mức độ rủi ro.
Tỷ lệ trích lập dự
phòng
=
Số đã trích lập dự phòng
Tổng dư nợ
x
100%
Do đó, mức giảm tỷ lệ này phản ảnh khả năng kiểm soát rủi ro tín dụng
tốt hơn của ngân hàng. Ngược lại, chỉ tiêu này tăng lên so với kỳ trước thể
hiện mức độ rủi ro tín dụng tổng thể của ngân hàng là cao hơn trước.
1.2.2.5 Mức giảm lãi treo:
Chỉ tiêu này phản ảnh những dấu hiệu có khả năng xảy ra rủi ro tín
dụng vì khách hàng không thực hiện được việc trả lãi vay theo cam kết trong
hợp đồng tín dụng, chứng tỏ rằng khả năng về tài chính của khách hàng bị
giảm sút có nguy cơ dẫn đến rủi ro tín dụng.
- Mức giảm lãi treo : Số lãi treo phát sinh - Số lãi treo đã thu hồi được
19
1.2.2.6 Mức giảm tỷ lệ xóa nợ ròng so với tổng dư nợ:
Xóa nợ ròng = Dư nợ xóa trong bảng – số tiền đã thu hồi được
Chỉ tiêu này phản ánh mức độ nợ xấu đã được xoá nợ, và cho biết mức
độ tổn thất tín dụng thực sự của ngân hàng.
mức cho vay đối với một khách hàng, một nhóm khách hàng, định giá khoản
vay và kỳ hạn cho vay, tài sản đảm bảo, cho đến việc đa dạng danh mục đầu
20
tư tín dụng, sử dụng công cụ tín dụng phát sinh và chứng khoán hóa tài sản.
thông qua chính sách tín dụng, cán bộ tín dụng biết được họ phải làm gì và
làm như thế nào khi thực hiện một khoản vay, trách nhiệm của họ tới đâu,
đồng thời nhà quản lý có định hướng để đạt được một danh mục tín dụng đa
mục đích như tăng khả năng sinh lợi, kiểm soát rủi ro và đáp ứng các đòi hỏi
từ phía nhà quản lý.
- Sự tuân thủ trong việc thực thi chính sách tín dụng và quy trình quản
trị rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay:
Việc xây dựng quy trình cho vay chặt chẽ và thực hiện đúng quy trình
này sẽ hạn chế được điều bất lợi xảy ra và đảm bảo được độ an toàn được
đồng vốn. Trên thực tế, nhiều cán bộ tín dụng không chấp hành đầy đủ quy
trình nghiệp vụ cho vay như : Thực hiện không đúng các nguyên tắc, thể lệ
cho vay, thiếu khả năng hoặc sự phân tích các báo cáo tài chính chưa chính
xác, xác định kỳ hạn các khoản cho vay không thích hợp, thiếu sự giám sát
sau khi cho vay sẽ dẫn đến rủi ro tín dụng.
Về phương diện quản trị rủi ro tín dụng, quy trình tín dụng trong cho
vay được bắt đầu từ khâu nhận dạng, đo lường rủi ro tín dụng, quyết định tín
dụng, giải ngân, kiểm tra quá trình sử dụng vốn vay đến khi thu hồi được nợ.
Trong quá trình thực hiện quy trình cho vay, công tác nhận dạng, đánh giá rủi
ro tín dụng là khâu quan trọng nhất quyết định đến việc tăng hay giảm rủi ro
tín dụng đối với mỗi khoản vay. Làm tốt khâu này sẽ tạo tiền đề cho việc thu
hồi vốn và lãi khi đến hạn thanh toán, tạo điều kiện cho vốn tín dụng luân
chuyển nhanh. Tuy nhiên, nhận dạng và đo lường rủi ro khó có thể đạt đến
mức dự đoán chính xác về một khoản vay hoàn trả đúng hạn hay không. Vì
biện pháp khắc phục kịp thời, do vậy rủi ro tín dụng sẽ gây ra.
- Cơ sở vật chất và công nghệ ngân hàng: Với sự xuất hiện ngày càng
nhiều các trung gian tài chính càng làm cho mức độ cạnh tranh ngày càng gây
gắt. Nếu không thường xuyên đầu tư mở rộng cơ sở vật chất, cải tiến công
22
nghệ, ngân hàng sẽ có thể mở rộng quy mô hoạt động, địa bàn hoạt động sẽ bị
thu hẹp, khả năng thu hút các khoản tín dụng có chất lượng sẽ bị hạn chế. Vì
vậy, rủi ro tín dụng sẽ có nguy cơ xuất hiện nhiều, việc thua lỗ và thất bại đối
với ngân hàng là điều khó tránh khỏi.
Nhân tố công nghệ ở đây còn được hiểu là việc ứng dụng công nghệ
trong quá trình quản trị rủi ro tín dụng. Do các mô hình đo lường rủi ro tín
dụng hiện đại đòi hỏi phải xử lý một khôi lượng dữ liệu lớn và phức tạp nên
cần phải áp dụng các công nghệ xử lý dữ liệu hiện đại. Mặt khác, hệ thống
quản lý tín dụng bao gồm: hệ thống quản lý cơ sở dữ liệu về khách hàng; hệ
thống xếp hạng tín dụng nội bộ; hệ thống xử lý quyết định...cũng yêu cầu các
đầu tư công nghệ phù hợp để nâng cao hiệu quả của quá trình hạn chế rủi ro
tín dụng của ngân hàng.
Tuy nhiên, việc đầu tư công nghệ trong quản trị rủi ro tín dụng nói
riêng, trong quản trị tín dụng nói chung cần cân nhắc để tránh các kiểu rủi ro
công nghệ. Những yếu tố cần được quan tâm kỹ là: quy mô đầu tư, trình độ
công nghệ, phạm vi ứng dụng...
1.2.3.2. Các nhân tố bên ngoài ngân hàng thương mại
a. Nhân tố từ phía khách hàng:
Khách hàng là một trong những nhân tố chính và cổ điển nhất gây ra
rủi ro tín dụng cho ngân hàng, bởi khách hàng là người trực tiếp sử dụng
vốn vay. Khách hàng có thể do vô ý hay cố ý không thực hiện trả nợ vay
cho Ngân hàng đúng hạn. Nhân tố từ phía khách hàng có thể xem xét trên
tạp vì khách hàng của ngân hàng rất đa dạng, trình độ khác nhau, kinh doanh
trong nhiều lĩnh vực. Do đó, ngân hàng phải nâng cao chất lượng thẩm định
dự án trước khi cho vay, tăng cường công tác giám sát thực hiện khoản vay và
đa dạng hoá đầu tư nhằm phân tán rủi ro.
b. Nhân tố môi trường kinh tế:
Bất kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh nào cũng chịu tác động trực tiếp
24
của môi trường kinh tế. Môi trường kinh tế không thuận lợi làm cho các doanh
nghiệp hoạt động kinh doanh kém hiệu quả, làm cho khả năng trả nợ vay
của doanh nghiệp bị hạn chế, dẫn đến rủi ro cho ngân hàng do không thu
hồi được nợ.
Trong một nền kinh tế tăng trưởng lành mạnh, tiềm năng sản xuất và
tiêu dùng của xã hội còn lớn thì hoạt động sản xuất kinh doanh có nhiều điều
kiện để phát triển. Nhưng một nền kinh tế bị khủng hoảng, tỷ lệ lạm phát cao,
sản xuất bị đình trệ, đầu tư giảm sút, tất cả đều tác động đến khả năng thu hồi
vốn tín dụng của ngân hàng.
Đặc biệt, trong xu thế hội nhập như hiện nay, không chỉ môi trường
kinh tế trong nước mà các biến động về kinh tế tài chính trên thế giới cũng có
ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động tín dụng của ngân hàng. Bởi quá trình tự
do hoá tài chính và hội nhập quốc tế có thể làm cho nợ xấu gia tăng khi tạo ra
một môi trường cạnh tranh gay gắt, khiến hầu hết các doanh nghiệp phải đối
mặt với nguy cơ thua lỗ và quy luật chọn lọc khắc nghiệt của thị trường. Bên
cạnh đó, bản thân sự cạnh tranh của các ngân hàng thương mại trong nước
và quốc tế trong môi trường hội nhập kinh tế cũng khiến cho các ngân hàng
trong nước với hệ thống quản lý yếu kém gặp phải nguy cơ rủi ro nợ xấu tăng
lên bởi hầu hết các khách hàng có tiềm lực tài chính lớn sẽ bị các ngân hàng
nước ngoài thu hút.
Ngoài ra, rủi ro tín dụng còn chịu sự tác động của các nhân tố khác như
thiên tai, chiến tranh hoặc những thay đổi ở tầm vĩ mô như thay đổi Chính
phủ, chính sách kinh tế, hàng rào thuế quan… Những nhân tố này vượt quá
tầm kiểm soát của người vay lẫn người cho vay. Khi các thay đổi xảy ra sẽ tác
động tới người vay, có thể tạo thuận lợi hoặc khó khăn cho người vay, do đó
cũng có thể ảnh hưởng đến khả năng thu hồi nợ của ngân hàng.