MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỘT PHÁ PHÁT
TRIỂN DU LỊCH VÙNG BIỂN VÀ VEN
BIỂN VIỆT NAM
TS.KTS.Lê Trọng Bình /2007 1
TỔNG CỤC DU LỊCH VIỆT NAM
Viện NCPT Du lịch
----------&---------
4. Mục tiêu và nội dung chủ yếu
4.1. Mục tiêu
4.2. Nội dung nghiên cứu
4.2.1. Giới hạn nghiên cứu
4.2.2. Nội dung nghiên cứu chủ yếu
PHẦN I
THỰC TRẠNG, NGUỒN LỰC PHÁT TRIỂN DU LỊCH VÙNG BIỂN VÀ VEN BIỂN
I. XÁC ĐỊNH GIỚI HẠN KHÔNG GIAN DU LỊCH BIỂN VÀ VEN BIỂN
1. Nguyên tắc xác định ranh giới
2. Tiêu chí xác định không gian
II. HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH VÙNG BIỂN VÀ VEN BIỂN VIỆT NAM
1. Thị trường khách du lịch
1.1. Khách du lịch quốc tế
1.2. Thị trường khách du lịch nội địa
2. Thu nhập du lịch
3. Sản phẩm du lịch
4. Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch
4.1. Cơ sở lưu trú:
4.2. Các cơ sở dịch vụ ăn uống
4.3. Các dịch vụ du lịch khác
5. Lao động trong ngành du lịch vùng biển và ven biển
6. Về phát triển không gian du lịch biển và vùng ven biển
7. Công tác xúc tiến quảng bá du lịch
8. Đầu tư phát triển du lịch
9. Quản lý Nhà nước về du lịch
10. Đánh giá chung
8.2. Những hạn chế và nguyên nhân
8.2.1. Tồn tại
8.2.2. Những nguyên nhân
III. TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH VÙNG BIỂN VÀ VEN BIỂN
NAM
1. Quan điểm phát triển
2. Mục tiêu
2.1. Mục tiêu tổng quát
2.2. Mục tiêu cụ thể
III. MỘT SỐ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY PHÁT TRIỂN DU LỊCH VÙNG BIỂN VÀ VEN
BIỂN VIỆT NAM
1. Tập trung ưu tiên công tác lập Quy hoạch phát triển du lịch
2. Phát triển sản phẩm du lịch
3. Phát triển thị trường
4.1. Thị trường trọng điểm
4. Phát triển không gian du lịch
4.1. Phân vùng không gian phát triển du lịch
4.2. Trọng điểm phát triển du lịch
4.3. Các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch
5. Giải pháp về đầu tư phát triển du lịch
5.1. Mục tiêu
TS.KTS.Lê Trọng Bình /2007 4
5.2. Quan điểm đầu tư
5.3. Các lĩnh vực đầu tư
5.4. Ưu tiên đầu tư
5.4.1. Các khu vực ưu tiên đầu tư
5.4.2. Ưu tiên phát triển đồng bộ cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch
5.4.2. Một số khu du lịch, điểm du lịch ưu tiên đầu tư
6. Tăng cường công tác xúc tiến quảng bá du lịch
7. Giải pháp về chính sách
7.1. Cơ chế, chính sách đầu tư phát triển du lịch
1. Luật Du lịch - Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia - Hà Nội 2005.
2. Luật đầu tư nước ngoài (sửa đổi).
TS.KTS.Lê Trọng Bình /2007 5
3. Luật đầu tư trong nước (sửa đổi).
4. Các quy hoạch phát triển du lịch:
- Chiến lược phát triển Du lịch giai đoạn 2001 – 2010, đã được Thủ tướng Chính
phủ phê duyệt ngày 22 tháng 7 năm 2002.
- Quy hoạch Tổng thể phát triển Du lịch Việt Nam (1995 – 2010) đã được Thủ tướng
Chính phủ phê duyệt ngày 24 tháng 5 năm 1995.
- Điều chỉnh Tổng thể phát triển Du lịch Việt Nam (1995 – 2010) đã được Tổng cục
Du lịch lập và đang trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.
- Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch các vùng và địa bàn du lịch trọng điểm: ba
vùng du lịch và sáu trung tâm du lịch.
- Một số Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch 64 tỉnh, thành phố trực thuộc trung
ương đã được lập, phê duyệt.
- Điều chỉnh quy hoạch phát triển du lịch quốc gia cho Việt Nam. Tổng cục Du lịch
Việt Nam và Tổ chức Du lịch Thế giới (WTO), Hà Nội 2001.
5. Báo cáo của Tổng cục Du lịch: " Phát triển du lịch biển, thực trạng và định hướng
phát triển" thực hiện Chỉ thị 339/TTg của Thủ tướng Chính phủ về kế hoạch triển khai Nghị
quyết 03/NQ-TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế biển.
6. Đề án phương hướng và giải pháp đẩy mạnh phát trỉen du lịch khu vực Miền trung -
Tây nguyên. Tổng cục Du lịch 2004
7. Quy hoạch phát triển các ngành liên quan:
- Quy hoạch bảo tồn tôn tạo và phát huy tác dụng các di tích lịch sử văn hóa và danh
lam thắng cảnh đến năm 2020;
- Định hướng quy hoạch tổng thể phát triển đô thị Việt Nam đến năm 2020;
nước. Trong những năm gần đây, với tiềm năng du lịch đặc sắc, biển và khu vực ven biển
đã thu hút hầu hết các hoạt động du lịch với 70% các khu, điểm du lịch trong cả nước
được xây dựng, khoảng 60-80% lượng khách du lịch của cả nước. Thu nhập từ hoạt động
du lịch biển chiếm tỷ trọng cao trong thu nhập du lịch cả nước. Du lịch vùng biển và khu
vực ven biển đã và đang thúc đẩy sự phát triển của nhiều ngành kinh tế khác; tạo thêm
nhiều việc làm góp phần tích cực chuyển đổi cơ cấu kinh tế, đảm bảo an ninh quốc
phòng.
Biển và vùng ven biển còn là địa bàn quan trọng của quá trình phát triển của du lịch
Việt Nam trong tương lai theo Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam, Quy hoạch tổng
thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2010 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.
Tuy nhiên, trong thời gian qua sự phát triển du lịch khu vực ven biển và vùng biển
còn chưa tương xứng với tiềm năng, chưa theo kịp yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của
đất nước theo hướng công nghiệp hoá-hiện đại hoá.
TS.KTS.Lê Trọng Bình /2007 7
Do biển và khu vực ven biển là nơi tập trung phần lớn các hoạt động kinh tế-xã hội,
an ninh quốc phòng của dất nước, vấn đề phối kết hợp phát triển giữa các ngành kinh tế-
xã hội, yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội của đất nước trên cơ sở khai thác hợp lý và có
hiệu quả tài nguyên theo nguyên tắc phát triển bền vững, đảm bảo an ninh quốc phòng
đang đặt ra nhiệm vụ và giải pháp mới đối với mỗi ngành kinh tế trong đó có du lịch. Để
thúc đẩy phát triển vùng biển và khu vực ven biển một cách toàn diện, đòi hỏi những giải
pháp tổng hợp về nhiều lĩnh vực trong đó các giải pháp hợp lý và có tính đột phá phát
triển vùng biển và ven biển là hết sức cần thiết.
2. Căn cứ xây dựng giải pháp
Trong bối cảnh thiếu những nghiên cứu toàn diện và chi tiết về phát triển du lịch
vùng biển và ven biển, nội dung của chuyên đề được tổng hợp trên cơ sở các tài liệu có
liên quan được cấp có thẩm quyền ban hành và tổ chức thực hiện, gồm các chủ trương,
chính sách, Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng và Nhà nước, các định hướng phát triển du lịch
tính chất hoạt động du lịch gắn với tài nguyên du lịch, mối quan hệ hoạt động kinh tế xã
hội gắn với hoạt động du lịch vùng biển và ven biển, giới hạn nghiên cứu được xác định
đối với vùng biển đảo có tài nguyên du lịch và các điều kiện để tổ chức các hoạt động du
lịch biển theo quy định pháp luật và và vùng đất liền ven biển, có chiều rộng 10-20 Km
tính từ giới hạn mực nước thuỷ triều trung bình vào trong đất liền.
Để thuận tiện cho việc thu thập số liệu, dự báo các chỉ tiêu phát triển và tổ chức
không gian du lịch, giới hạn vùng đất ven biển được xác định theo ranh giới các đơn vị
hành chính cấp huyện, thành phố, thị xã có vị trí địa lý tiếp giáp với biển Đông, gồm 115
huyện, thị xã, thành phố thuộc 29 tỉnh ven biển.
3.2. Về thời gian
Các giải pháp có nội dung liên quan phù hợp với các Định hướng, Chiến lược phát
triển KTXH, phát triển du lịch cả nước, các vùng có liên quan theo các giai đoạn đến
năm 2010 và định hướng đến năo 2020.
4. Mục tiêu và nội dung chủ yếu
4.1. Mục tiêu:
- Tạo cơ sở đẩy mạnh phát triển du lịch tại vùng biển phù hợp với tiềm năng.
- Cụ thể hoá Chiến lược phát triển kinh tế Việt Nam, Chiến lược, Quy hoạch tổng
thể phát triển Du lịch Việt Nam đến năm 2010.
- Cụ thể hoá nhiệm vụ tại Nghị quyết 03/NQ-TW của Bộ Chính trị, Chỉ thị
339/TTg của Thủ tướng Chính phủ về kế hoạch triển khai Nghị quyết 03/NQ-TW của Bộ
Chính trị về phát triển kinh tế biển;
4.2. Nội dung nghiên cứu:
4.2.1. Giới hạn nghiên cứu:
- Nhiệm vụ này được thực hiện trong bối cảnh ranh giới nghiên cứu chưa được
cấp có thẩm quyền quyết định, do tác giả đề xuất; khu vực biển và ven biển Việt Nam
chưa có quy hoạch phát triển ngành được cấp có thẩm quyền phê duyệt và cơ chế quản lý
phát triển du lịch phù hợp với đặc thù vùng lãnh thổ.
- Chuyên đề chưa có điều kiện thời gian và kinh phí để tiến hành điều tra, khảo sát
các số liệu cần thiết phù hợp với yêu cầu, quy mô lãnh thổ không gian du lịch biển, chỉ
tổng hợp từ Báo cáo của Tổng cục Du lịch thực hiện Chỉ thị 339/TTg của Thủ tướng
cao nhất (triều cường) hoặc trung bình vào trong đất liền. Kinh nghiệm một số nước trên
thế giới như: Tây Ban Nha quy định vùng ven biển có ranh giới từ 500m - 25Km; Brasil
có chiều sâu từ 2-12km; Costa Rica quy định vùng ven biển là giải đất rộng 200m; Sri
Lanka quy định là giải đất rộng 300m đến 2Km. Riêng Trung Quốc tính giải đất chiều
rộng 10Km đến giới hạn vùng nước có độ sâu 15m.
2. Tiêu chí xác định không gian
2.1. Do chưa được cơ quan có thẩm quyền xác định ranh giới nghiên cứu, việc
giới hạn vùng biển và ven biển được tạm thời xác định theo những căn cứ sau:
- Các yếu tố địa lý, sinh thái, môi trường tạo vùng biển và ven biển.
- Yếu tố tài nguyên du lịch.
- Các mối quan hệ và tính chất hoạt động du lịch gắn với tài nguyên du lịch vùng
biển và ven biển.
- Các hoạt động kinh tế xã hội gắn với hoạt động du lịch, có ảnh hưởng hoặc chịu
ảnh hưởng của du lịch vung biển và ven biển.
2.2. Ranh giới hoạt động du lịch vùng biển và ven biển Việt Nam:
TS.KTS.Lê Trọng Bình /2007 10
Trên cơ sở những tiêu chí trên, giới hạn không gian hoạt động du lịch vùng biển và
ven biển Việt Nam được xác định gồm hai khu vực: vùng biển đảo và vùng đất liền ven
biển, cụ thể như sau:
- Vùng biển:
Vùng nước có tài nguyên du lịch và các điều kiện để tổ chức các hoạt động du lịch
biển, bao gồm vùng biển, đảo thuộc chủ quyền quốc gia được phép sử dụng vào mục
đích phát triển du lịch theo quy định pháp luật.
- Vùng ven biển:
Lãnh thổ đất liền giáp biển, có chiều rộng 10-20 Km tính từ giới hạn mực nước
thuỷ triều trung bình vào trong đất liền.
Để thuận tiện cho việc thu thập số liệu, dự báo các chỉ tiêu phát triển và tổ chức
11
- Lượng khách theo phương tiện du lịch: vùng biển và ven biển đang trở thành đầu mối
phân bố thị trường khách du lịch quốc tế vào Việt Nam: tuy lượng khách quốc tế đến Việt
Nam chủ yếu bằng đường hàng không (chiếm trung bình 67,9% tổng số khách), lượng khách
đi bằng đường biển cũng bắt đầu tăng nhanh kể từ năm 1995 với tốc độ tăng trung bình rất
cao 46,1%/năm giai đoạn 1995 - 2002. Năm 1993 mới có 18.414 khách (chiếm 3,07% thị
phần) đến năm 2001 đã tăng lên 284.612 khách (chiếm 12,2 thị phần khách QT; 1-2% thị
phần về thu nhập), tốc độ tăng bình quân 40,5%/năm
- Thị trườg khách theo mùa vụ: vùng biển và ven biển Việt Nam thu hút quanh năm
khách quốc tế. Khác đến vào các tháng 2 là dịp tết Nguyên đán chiếm trung bình 10% thị
phần; tháng 12 và tháng 5 - 9%. Các tháng còn lại chiếm 7 - 8% mỗi tháng. Sau năm 2000,
tháng tập trung khách du lịch là mùa hè, tháng 7,8.
- Theo mục đích du lịch: khách quốc tế đến vùng biển và ven biển Việt Nam nói riêng
và Việt Nam nói chung theo nhiều loại hình du lịch đa dạng: tham quan di tích văn hoá, lịch
sử cách mạng; tham quan thắng cảnh thiên nhiên; nghỉ dưỡng biển, du lịch thương mại và
tham dự hội thảo, hội nghị. Một số khác kết hợp thăm người thân với tham quan nghỉ dưỡng.
Với tốc độ tăng trưởng ổn định vùng biển và ven biển Việt Nam tiếp tục là điểm du lịch thu
hút khách từ nhiều nơi đến với mục đích nghỉ dưỡng, tham quan.
- Theo phân bố vùng du lịch: khách du lịch quốc tế đến vùng ven biển Việt Nam phân
bố không đồng đều theo lãnh thổ, tập trung tại khu vực Quảng Ninh - Hải Phòng; Huế - Đà
Nẵng -Quảng Nam ; Nha Trang – Khánh Hoà, Bình Thuận - Bà Rịa – Vũng Tàu - TP Hồ Chí
Minh và Kiên Giang. Các điểm du lịch tập trung gồm các đô thị ven biển như Hạ Long,
Hải Phòng, Huế, Đà Nẵng, Hội An, Nha Trang, Phan Thiết, Vũng Tàu, Khánh Hoà, Bình
Thuận, Đà Nẵng; các nơi có di sản văn hoá thế giới: Huế, Hội An, Mỹ Sơn; các nơi có thắng
cảnh biển đảo độc đáo: Quảng Ninh, Hải Phòng, Nha Trang; các nơi có các khu nghỉ dưỡng
biển như: Hải Phòng, Quảng Ninh, Bà Rịa - Vũng Tàu, Khánh Hoà, Bình Thuận, Phú Quốc.
- Chi tiêu của khách du lịch: theo như WTO dự tính thì khách quốc tế đến Việt Nam
nhìn chung chi tiêu trung bình khoảng 60-80USD/ngày (không kể khách vùng biên giới như
Trung Quốc, Lào, Cămpuchia). Khả năng chi tiêu của các loại khách rất khác nhau. Những
địa trong cả nước. Năm 1997 toàn vùng đón được 5.742 ngàn lượt khách; năm 2000 đón được
7.465 ngàn lượt khách; và năm 2004 đạt 6.910.702 lượt khách lưu trú, chiếm 52,5 % số khách
nội địa lưu trú của cả nước. (Bảng 5). Những khu vực thu hút cao khách du lịch nội địa ( lưu
trú) năm 2004 gồm: Quảng Ninh, 10,4%; Hải Phòng, 7,9%; Thanh Hoá, 9,8%; Nghệ An,
7,9% TT Huế, 7,8%; Đà Nẵng, 6,5%; Bà Rịa Vũng tàu, 8,2%; TP Hồ Chí Minh, 16,3%; Kiên
Giang, 2,3% ( Bảng 5).
Nguyên nhân chính của việc tăng trưởng này là: các khu du lịch biển có sức hấp dẫn
nhiều khách nghỉ dưỡng theo mùa vào dịp hè ở phía Bắc và vào mùa khô ở phía Nam; các
hoạt động du lịch lễ hội khu vực ven biển ngày càng phát triển; các khu, điểm du lịch được
đầu tư, phát triển và đưa vào khai thác ngày một nhiều, với chất lượng dịch vụ ngày càng
được nâng cao. Nhu cầu của khách nội địa đa dạng, có nhu cầu hưởng thụ các dịch vụ vui
chơi giải trí gắn với du lịch biển nhiều hơn trước.
2. Thu nhập du lịch
Trong những năm gần đây cùng với sự gia tăng nhanh về khách du lịch, thu nhập từ du
lịch của cả nước tăng trưởng với tốc độ tương đối cao. Năm 1995 thu được trên 8.000 tỉ đồng,
năm 2000 thu nhập du lịch đạt 17.400 tỷ và đến năm 2005 ước tính thu nhập do ngành du lịch
thu được khoảng 30.000 tỷ đồng. Tốc độ trăng trưởng bình quân về thu nhập du lịch thời kỳ
1992 - 2002 đạt 23,29%/năm.
Thu nhập du lịch ở các tỉnh ven biển luôn chiếm tỷ lệ lớn (trên 70%) trong tổng thu
nhập xã hội từ du lịch của cả nước. Năm 2002 tỷ lệ này là 73,21% tức đạt khoảng 17.204 tỷ
đồng .
Về cơ cấu doanh thu từ khách du lịch quốc tế năm 1999 chiếm khoảng 77,7% tổng
doanh thu du lịch Việt Nam; doanh thu từ khách du lịch nội địa chiếm tỷ trọng nhỏ, khoảng
22,3%. Đến năm 2001 các tỷ lệ này là 79,8% và 20,2%. Hiện nay khách du lịch quốc tế và
khách nội địa ở Việt Nam đều dành phần lớn cho chi phí cho ăn uống và lưu trú. Khách quốc
tế chi khoảng 55-60% cho ăn uống và lưu trú, khách nội địa khoảng 50-55%. Các phần chi
cho vận chuyển, mua sắm, và các dịch vụ khác chiếm tỷ trọng nhỏ. Đây là một điểm hạn chế
TS.KTS.Lê Trọng Bình /2007
phương vùng ven biển: 59 % khách sạn 1 sao, 64,5% khách sạn 3 sao, 68,3% khách sạn 4
sao, 55,5 % khách sạn 5 sao. Nơi có nhiều cơ sở lưu trú và khách sạn từ 3 sao trở lên chủ
yếu là TP Hồ Chí Minh, Quảng Ninh, Khánh Hoà, Thanh Hoá, Nghệ An, Hải Phòng, Đà
Nẵng (bảng 9).
Tuy nhiên trong thời gian gần đây, do sự phát triển thiếu qui hoạch, số lượng các cơ sở
lưu trú, đặc biệt là các khách sạn mini, ở vùng ven biển tăng nhanh, tạo tình trạng thừa vào
mùa vắng khách, ảnh hưởng đến công suất sử dụng phòng trung bình năm. Mặc dù số lượng
cơ sở lưu trú ở vùng ven biển nhiều, song qui mô nhìn chung còn nhỏ, chất lượng chưa cao,
các dịch vụ bổ sung còn nghèo nàn.
TS.KTS.Lê Trọng Bình /2007 14
Nhìn chung chất lượng của hệ thống khách sạn vùng biển và ven biển Việt Nam còn ở
mức độ thấp so với các nước trong khu vực. Số lượng khách sạn và phòng khách sạn đạt tiêu
chuẩn từ 3 sao trở lên còn ít. Khách sạn đạt tiêu chuẩn từ 1 đến 2 sao chiếm tỷ trọng lớn trong
số khách sạn được xếp hạng. Đây cũng là một trong những yếu tố làm cho sản phẩm du lịch
vùng này chưa có sức hấp dẫn khách, chưa chiếm được ưu thế cạnh cạnh tranh trên thị trường
du lịch quốc tế.
4.2. Các cơ sở dịch vụ ăn uống
Cùng với sự gia tăng nhanh của khách du lịch cũng như các cơ sở lưu trú, hệ thống các
cơ sở ăn uống ở các tỉnh trong vùng phát triển nhanh. Hầu hết các khách sạn, nhà nghỉ đều có
các phòng ăn (restaurant), quầy bar v.v... không những chỉ phục vụ cho khách nghỉ tại khách
sạn mà còn phục vụ cả khách bên ngoài. Ngoài ra, các cơ sở ăn uống nằm ngoài khách sạn
cũng phát triển mạnh, chất lượng đa dạng, đáp ứng được nhu cầu không những cho nhiều loại
đối tượng khách du lịch khác nhau mà còn cho cả nhân dân địa phương.
Tuy nhiên kinh doanh ăn uống trong khách sạn thường có hiệu quả thấp. Doanh thu từ
nhà hàng ăn uống trung bình chiếm 22-25% trong tổng doanh thu của khách sạn. Sản phẩm
phục vụ nhu cầu ăn uống mặc dù rất đa dạng, phong phú ở nhưng việc khai thác để phục vụ
khách du lịch còn bị hạn chế.
khách sạn năm 1994 đạt khoảng 1,35 (ở nhiều nước trên thế giới tỷ lệ này dao động từ 1,2 -
1,7 lao động), có thể thấy rằng ở thời kỳ này lực lượng lao động ngành đạt mức trung bình
của thế giới và khu vực.
Đối với lao động trong ngành du lịch vùng ven biển cũng tăng nhanh, nhằm đáp ứng
nhu cầu, từ 3,5 vạn lao động trực tiếp năm 1992 lên 9,9 vạn năm 1996, 13 vạn lao động năm
1999 và năm 2003 đạt 22,0 vạn. Tốc độ tăng trung bình hàng năm đạt gần 25%.
Đội ngũ lao động du lịch ở vùng ven biển hiện chiếm khoảng 65% tổng số lao động
trực tiếp của cả nước, tập trung nhiều nhất ở TP Hồ Chí Minh – Vũng Tàu (trên 60%); Huế -
Đà Nẵng – 8,5%; Hải Phòng – Quảng Ninh chiếm 8,1%. Tỷ lệ được đào tạo nghiệp vụ ở các
trường du lịch hay các khoá đào tạo tại chỗ đạt 75%, tỉ lệ đạt trình độ đại học và trên đại học
khoảng 7,5%.
Chất lượng lao động, nhìn chung chưa được đào tạo chuyên môn nghiệp vụ một cách
có hệ thống và chuyên sâu theo từng công đoạn của quy trình công nghệ phục vụ du lịch; số
lao động chưa qua đào tạo lại lớn gấp khoảng 3,5 lần số lao động được đào tạo, bên cạnh đó
có rất ít lao động được đào tạo chuyên ngành du lịch mà chủ yếu là từ các ngành khác chuyển
sang như ngoại ngữ, khoa học xã hội và tự nhiên...
6. Về phát triển không gian du lịch biển và vùng ven biển
Không gian du lịch vùng biển và ven biển Việt Nam trong thời gian qua đã được tổ
chức trên cơ sở Chiến lược và Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm
2010, theo hệ thống phân vị các vùng, tiểu vùng, trung tâm, tuyến điểm du lịch đã phát huy
tác dụng làm căn cứ để các tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương đã tiến hành lập, phê
duyệt quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tại địa phương làm cơ sở thực hiện quản lý đầu tư
phát triển du lịch theo quy hoạch, cụ thể:
- Vùng du lịch Bắc Bộ: có tiểu vùng du lịch duyên hải Đông Bắc (Hải Phòng - Quảng
Ninh), Trung tâm tiểu vùng là thành phố Hạ Long. Là địa bàn có tiềm năng du lịch thiên
nhiên phong phú với vịnh Hạ Long, đã được UNESCO xếp vào danh sách những di sản văn
hoá và tự nhiên của thế giới. Từ lâu khu vực này đã trở thành khu du lịch nổi tiếng luôn hấp
dẫn du khách quốc tế và nội địa.
- Tiểu vùng Nam Bắc Bộ: Gồm 3 tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An và Hà Tĩnh, vùng có tài
nguyên du lịch văn hoá phong phú với các khu du lịch biển nổi tiêngs, hấp dẫn khách du lịch
được quan tâm thực hiện như du lịch nghỉ dưỡng, tham quan cảnh quan biển đảo, du lịch sinh
thái biển và vùng ngập nước ven biển, du lịch văn hoá,.. nâng cao sức cạnh tranh của du lịch
biển và vùng ven biển so với trong nước và khu vực, góp phần thu hút khách du lịch quốc tế.
Các khu du lịch biển đã được đầu tư xây dựng trên lãnh thổ các địa phương như khu
du lịch Tuần Châu, khu du lịch biển đảo Hạ Long - Cát Bà (Quảng Ninh, Hải Phòng); khu du
lịch Furama, khu du lịch giải trí thể thao biển Cảnh Dương - Hải Vân - Non Nước (Thừa
Thiên -Huế, Đà Nẵng); các khu du lịch chuyên đề văn hoá - lịch sử Kim Liên - Nam Đàn
(Nghệ An); khu du lịch nghỉ dưỡng biển Thiên Cầm, Hà Tĩnh; khu du lịch sinh thái hang
động Phong Nha - Kẻ Bàng, Quảng Bình; khu du lịch văn hóa Hội An - Mỹ Sơn, Quảng
Nam; khu du lịch nghỉ dưỡng biển Phước Mai, Bình Định; khu du lịch Hòn Tre (Nha Trang),
khu du lịch biển Phan Thiết - Mũi Né, Bình Thuận; khu du lịch biển Long Hải - Phước Hải,
khu du lịch lịch sử - sinh thái Côn Đảo Bà Rịa - Vũng Tàu; khu du lịch sinh thái rừng Sác
Cần Giờ, TP. Hồ Chí Minh, ngập mặn Đất Mũi, Cà Mau; du lịch đảo Phú Quốc, Kiên Giang.
Các địa bàn du lịch trọng điểm được tập trung đầu tư gồm: Hải Phòng - Quảng Ninh;
Huế - Đà Nẵng - Quảng Nam; Văn Phong - Nha Trang - Ninh Chữ - Đà Lạt; thành phố Hồ
Chí Minh và phụ cận; Long Hải - Vũng Tàu - Côn Đảo; Rạch Giá - Hà Tiên - Phú Quốc.
Nhà nước đã hỗ trợ nâng cấp và phát triển hạ tầng du lịch các khu vực trên. Trong 4
năm (2001 - 2004), Nhà nước đã hỗ trợ các địa phương ven biển 939,5 tỷ đồng, chiếm
58,86% tổng vốn ngân sách hỗ trợ nâng cấp cơ sở hạ tầng du lịch cả nước.
Nguồn hỗ trợ trên đã tạo được sức hút đối với các dự án đầu tư phát triển du lịch với
hàng ngàn tỷ đồng từ các thành phần kinh tế để phát triển các sản phẩm, khu du lịch ở vùng
ven biển. Đặc biệt sự hỗ trợ trên đã tạo sức hấp dẫn đối với các dự án đầu tư nước ngoài
TS.KTS.Lê Trọng Bình /2007 17
(ĐTNN) vào lĩnh vực du lịch. Tổng số dự án ĐTNN vào lĩnh vực du lịch ở các địa phương
ven biển đến năm 2003 là 143 dự án với tổng số vốn đăng ký đạt 3.779,92 triệu USD, chiếm
khoảng 60% tổng số dự án và 62% số vốn đăng ký ĐTNN vào lĩnh vực du lịch trên phạm vi
cả nước.
lịch - Thương mại và 19/47 Sở Thương mại - Du lịch. Ban Chỉ đạo về du lịch các cấp từ
Trung ương đến địa phương được thành lập, trong đó Ban Chỉ đạo Nhà nước về du lịch do
một Phó Thủ tướng làm trưởng Ban, Ban chỉ đạo về du lịch ở các địa phương do Phó Chủ
tịch UBND tỉnh hoặc thành phố trực thuộc Trung ương làm trưởng Ban để chỉ đạo công tác
phát triển du lịch trên từng vùng, địa phương và cả nước. Hệ thống các sở chuyên ngành ngày
càng được củng cố, góp phần tăng cường chức năng QLNN về du lịch trên địa bàn các địa
phương.
10. Đánh giá chung
TS.KTS.Lê Trọng Bình /2007 18
Trong thời gian qua tình hình phát triển du lịch tại vùng biển và ven biển Việt Nam đã
đạt những kết quả chủ yếu sau:
- Thị trường du lịch được mở rộng, sản phẩm du lịch không ngừng tăng và được đa
dạng hoá trên cơ sở phát triển thế mạnh tiềm năng tài nguyên du lịch.
- Lượng khách, thu nhập và GDP du lịch, tỷ trọng dịch vụ du lịch trong thu nhập quốc
dân tăng hàng năm thúc đẩy các ngành kinh tế, xã hội phát triển, góp phần chuyển đổi cơ cấu
kinh tế của từng địa phương, vùng và cả nước, tạo thêm nhiều việc làm, nâng cao đời sống
vật chất và tinh thần của nhân dân, góp phần xóa đói giảm nghèo, trở thành động lực phát
triển kinh tế xã hội, tạo tiền đề đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của địa phương
vùng ven biển.
- Hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch đang dần được xây dựng đồng bộ, tạo điều
kiện thúc đẩy tăng trưởng các chỉ tiêu phát triển du lịch.
- Công tác đầu tư được chú trọng và đúng hướng, thu hút nhiều nguồn lực đầu tư,
nhiều thành phần kinh tế tham gia phát triển du lịch, đem lại hiệu quả cao về kinh tế xã hội và
bảo vệ môi trường.
- Bộ máy tổ chức quản lý được kiện toàn, hệ thống cơ chế chính sách phát triển du lịch
được hình thành và hoàn thiện từng bước tạo môi trường thuận lợi cho du lịch phát triển.
8.2. Những hạn chế và nguyên nhân
hội, kể cả một số hoạt động đầu tư phát triển du lịch.
- Tình trạng chồng chéo trong quản lý, thiếu phối hợp liên ngành và lãnh thổ, thiếu quy
hoạch thống nhất trong khai thác tài nguyên, đặc biệt ở những vùng biển và ven biển tập
trung những tài nguyên có giá trị cao không chỉ về du lịch mà còn đối với các ngành kinh tế
khác (vùng ngập mặn, hệ thống đảo, các vịnh,..) đang từng bước làm suy kiệt tài nguyên du
lịch biển.
- Tốc độ và quy mô phát triển đô thị, khu dân cư, khu công nghiệp và cơ sở hạ tầng
kinh tế, kỹ thuật ngày càng tăng tại các vùng ven biển làm nảy sinh những vấn đề môi trường
mang tính liên vùng, ảnh hưởng lớn đến phát triển du lịch biển bền vững.
- Công tác bảo tồn, tôn tạo tài nguyên và bảo vệ môi trường của hoạt động du lịch biển
ở vùng ven biển và vùng biển, hải đảo còn nhiều bất cập, ảnh hưởng đến sự phát triển bền
vững chung ở khu vực này.
8.2.2. Những nguyên nhân
Nhận thức về bảo vệ, khai thác tài nguyên và môi trường du lịch, quản lý phát triển du
lịch biển bền vững chưa đầy đủ, thiếu nhất quán;
Thiếu quy hoạch bảo tồn các tài nguyên nguồn lực phát triển nói chung và du lịch nói
riêng, trong QHPT du lịch các địa phương, vùng, chưa xác định cụ thể có chính sách bảo tồn
các vùng tài nguyên có giá trị phục vụ phát triển du lịch.
Hiệu lực pháp lý các quy hoạch du lịch còn thấp, nhiều quy hoạch phát triển du lịch
các vùng, địa phương chưa được các ngành, các cấp coi trọng và thực hiện.
Thiếu những biện pháp có hiệu quả nhằm tăng cường huy động nguồn lực nhất là nội
lực để tạo bước đột phá phát triển du lịch;
Vốn đầu tư cho du lịch còn thấp; cơ cấu đầu tư chưa thật sự hợp lý, hiệu quả chưa cao.
Công tác quản lý quy hoạch, quản lý đầu tư xây dựng các khu du lịch, điểm du lịch vùng biển
và ven biển còn bất cập.
Hệ thống cơ sở hạ tầng chưa đáp ứng nhu cầu phát triển du lịch; trình độ công nghệ và
ứng dụng khoa học công nghệ trong quản lý phát triển du lịch còn thấp, chưa đáp ứng yêu cầu
của quá trình hội nhập với khu vực và quốc tế.
Thiếu sự sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước, các ngành, các địa phương
trong quản lý thực hiện quy hoạch phát triển du lịch, quy hoạch phát triển ngành, phát triển
III. TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH VÙNG BIỂN VÀ VEN BIỂN
1. Tài nguyên du lịch tự nhiên
Vùng biển và ven biển Việt Nam có điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên thuận
lợi cho phát triển nhiều loại hình du lịch. Dọc theo chiều dài đất nước 3.260km, tài nguyên
du lịch tự nhiên tập trung tại các tiểu vùng du lịch theo một số loại như sau:
1.1. Cảnh quan danh thắng
Hệ thống địa hình núi kéo dài từ đất liền ra bờ biển, kết hợp với địa hình các cửa
sông, các vịnh và hệ thống đảo trên 2.700 hòn đảo tạo nên nhiều cảnh quan biển, đảo vùng
biển, cảnh quan núi, vịnh tại khu vực ven bờ hấp dẫn khách du lịch, cụ thể gồm:
+ Tiểu vùng du lịch duyên hải Đông Bắc có vùng núi ven biển Quảng Ninh với hơn
3000 hũn đảo lớn nhỏ khác nhau kéo dài thành hỡnh vũng cung song song với ven bờ biển,
cỏc đảo lớn như Cái Bầu, Cái Bàn, Vĩnh Thực, Vĩnh Trung, Cái Chiên... quần đảo Cô Tô, đảo
Quan Lạn, Cát Bà, .. và các vịnh biển , trong đó nổi bật là các vịnh Cái Lân, Hạ Long, Bái Tử
Long,..
+ Tiểu vùng du lịch Nam Bắc Bộ - Thanh Hóa - Nghệ An có vùng Nga Sơn-Hoằng
Hoá, Quỳnh Lưu, Cửa Lò, Hà Tĩnh với hệ thống đảo, các vịnh-bãi biển, trong đó nổi bật đảo
Hòn mê, Mắt, Hòn Ngư.. các vịnh biển, bãi biển như Hải Tiến, Sầm Sơn, Hải Hoà, Thiên
Cầm, Vũng áng..
+ Vùng du lịch Bắc Trung Bộ có các đèo Ngang, đèo Hải Vân, .. tạo nên các vịnh
Chân Mây, Đà Nẵng..
TS.KTS.Lê Trọng Bình /2007 21
+ Tiểu vùng du lịch duyên hải Nam Trung Bộ có hệ thống các núi, đèo, đảo và vịnh
biển có giá trị cảnh quan hấp dẫn du lịch trong đó nổi bật các đảo Cù Lao Chàm, Phú Quý;
đèo Cả, vịnh Văn Phong, Cam Ranh, Nha Trang (được công nhận là một trong 29 vịnh đẹp
nhất thế giới), v.v.
+ Khu vực duyên hải tiểu vùng du lịch Đông Nam Bộ, Tây Nam Bộ có cảnh quan các
đảo nổi tiếng như Côn Đảo, Phú Quốc,..
những tài nguyên có giá trị lớn để phát triển du lịch sinh thái vùng ngập nước.
Ngoài hệ sinh thái vùng ngập nước ven bờ và vùng biển, giá trị sinh thái còn được
hình thành tại các rừng đặc dụng, rừng quốc gia tập trung chủ yếu ở hệ thống 13/28 vườn
quốc gia; 22/55 khu bảo tồn thiên nhiên, cụ thể như: VQG Bái Tử Long, có mối liên hệ mật
thiết với di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long (Quảng Ninh), VQG Xuân Thuỷ (Nam
TS.KTS.Lê Trọng Bình /2007 22
Định), VQG, Di sản thiên nhiên thế giới Phong Nha - Kẻ Bàng (Quảng Bình), VQG Bạch Mã
(Thừa Thiên - Huế); VQG Núi Chúa (Ninh Thuận), VQG Tràm Chim (Đồng Tháp), VQG U
Minh Thượng( Kiên Giang), VQG Phú Quốc (Kiên Giang); 02 khu bảo tồn biển là Hòn Mun
(Khánh Hoà) và Cù Lao Chàm (Quảng Nam); 17/34 khu rừng văn hoá lịch sử và môi trường
ở vùng ven biển và hải đảo ven bờ, trong đó tiêu biểu là vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng
được công nhận là di sản thiên nhiên thế giới; rừng ngập mặn Cần Giờ là Khu dự trữ sinh
quyển thế giới, v.v..
2. Tài nguyên du lịch nhân văn
Bên cạnh giá trị tự nhiên, các yếu tố nhân văn giàu bản sắc văn hoá truyền thống tập
trung với mật độ cao ở vùng ven biển. Hiện nay có tới 915/2509 di tích lịch sử văn hoá được
xếp hạng quốc gia nằm ở vùng ven biển, đặc biệt trong số đó có 4 di sản văn hoá thế giới
được UNESCO công nhận.
Tiểu vùng du lịch duyên hải Đông Bắc và Tiểu vùng du lịch Nam Bắc Bộ là nơi tập
trung nhiều nguồn tài nguyên du lịch nhân văn, vật thể và phi vật thể như: Đền Cửa Ông,
Bãi cọc Bạch Đằng, cửa Lục Triều, núi Bài Thơ.... nhà thờ đá Phát Diệm (Ninh Bình); Chùa
Keo (Thái Bình), thành Nhà Hồ, Lam Kinh (Thanh Hoá)...các di tích văn hoá lịch sử đặc biệt
quan trọng như di tích Nguyễn Du, di tích Kim Liên...
Vùng du lịch Bắc Trung Bộ, gồm các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế,
Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, là vùng rất giàu nguồn tài nguyên du lịch nhân văn. Số
lượng di tích xếp hạng cho đến nay ở vùng du lịch Bắc Trung Bộ là 157 di tích, trong đó có
các di sản văn hoá Thế giới, gồm quần thể di tích Huế, phố cổ Hội An và Thánh địa Mỹ Sơn;
a/ Giao thông:
- Đường bộ: hiện cả nước có 1.200 km đường quốc lộ được xây dựng mới; 3.790km
đường bộ các loại, 11.550m cầu, trong đó tuyến quốc lộ xuyên Việt QL1A, QL 10 khu vực
ven biển Đông Bắc được nâng cấp; một số đường quốc lộ, tỉnh lộ các địa phương vùng ven
biển đã và đang được nâng cấp tạo gắn kết hoạt động du lịch giữa các vùng, tiểu cùng, 2
Trung tâm du lịch, các khu điểm du lịch khu vực ven biển, giữa khu vực ven biển với các
vùng khác trong mỗi địa phhương và cả nước.
- Đường sắt : Trong tổng số các tuyến đường sắt với tổng chiều dài 3.142km đường
sắt, quan trọng nhất và có ý nghĩa du lịch là tuyến đường sắt Thống Nhất Bắc - Nam từ Hà
Nội vào TP. HCM. Tuyến đường sắt này sẽ thúc đẩy nhanh sự phát triển của du lịch biển khi
nó được hoà vào hệ thống đường sắt xuyên Á.
- Đường biển : Trên tổng số 90 cảng biển các loại phần lớn tập trung ở miền Trung và
Đông Nam Bộ, trong đó có một số cảng biển được nâng cấp thành cảng du lịch như Bãi
Cháy, Đà Nẵng, Nha Trang, Vũng Tàu, Sài Gòn tạo điều kiện thuận lợi cho các tàu du lịch
lớn đưa khách đến Việt Nam.
Từ các đô thị, cảng biển, hệ thống quốc lộ Đông Tây, nối liền vùng ven biển Việt Nam
với những lãnh thổ phía Tây đất nước và xa hơn với các nước trong khu vực, góp phần thúc
đẩy sự phát triển của du lịch biển.
Hiện có nhiều tuyến đường biển trong nước và quốc tế đang hoạt động như tuyến Hải
Phòng – TP Hồ Chí Minh, Hải Phòng - Đà Nẵng, TP Hồ Chí Minh – Rạch Giá... và các tuyến
quốc tế như TP Hồ Chí Minh – Vladivôstốc, Hồng Kông, Singapo, Băngcốc, Hải Phòng đi
Hồng Kông, Manila, Tôkyô...
- Đường hàng không : Đến nay cả nước có 52 sân bay các loại, trong đó có 17 sân bay
đang được khai thác, 2/3 số sân bay nằm ở vùng ven biển, nhiều sân bay mới đã và đang được
nâng cấp, mở rộng đủ tiêu chuẩn sân bay quốc tế phục vụ đón khách du lịch đến vùng ven
biển và cả nước, gồm: Cát Bi (Hải Phòng); Vinh (Nghệ An); Phú Bài (Huế); Đà Nẵng; Phù
Cát (Bình Định); Tuy Hoà ( Phú Yên); Nha Trang, Cam Ranh (Khánh Hoà); Vũng Tàu, Côn
Đảo (Bà Rịa - Vũng Tàu); Tân Sơn Nhất (TP Hồ Chí Minh); Cà Mau (Cà Mau); Rạch Giá,
Phú Quốc (Kiên Giang).
b. Cấp điện:
làm phong phú thêm các dịch vụ viễn thông.
5.2. Hệ thống đô thị, khu dân cư
Hiện nay cả nước có 656 đô thị các loại gồm 5 thành phố trực thuộc Trung ương, 17
thành phố trực thuộc tỉnh, 59 thị xã, 575 thị trấn, trong đó lãnh thổ ven biển có 125 đô thị loại
5 trở lên, gồm: 01 đô thị đặc biệt (TP. HCM); 03 đô thị loại 1 (bao gồm cả TP. Huế mới được
công nhận năm 2004); 05 đô thị loại 2; 06 đô thị loại 3 và 18 đô thị loại IV và 92 đô thị loại
V.
Nhiều đô thị đã được đầu tư phát triển, nâng cấp trở thành các trung tâm kinh tế, đầu
mối giao thông, các trung tâm dịch vụ - du lịch thúc đẩy sự phát triển du lịch cho cả quốc gia
hay một vùng, một số đô thị đang dần trở thành đô thị du lịch như: Hạ Long, Đồ Sơn, Sầm
Sơn, Cửa Lò, Huế, Hội An, Phan Thiết, Hà Tiên. Một số là đô thị trung tâm của vùng du lịch
như Đà Nẵng, Vũng Tầu. Những đô thị mới đang hình thành và phát triển gắn với hệ thống
khu công nghiệp, khu kinh tế mở như Vân Đồn (Quảng Ninh), Vũng Áng (Hà Tĩnh), Chân
Mây (TT Huế), Chu Lai ( Quảng Nam), Dung Quất- đô thị mới Vạn Tường ( Quảng Nam),
Khu kinh tế Nhơn Hội (Quy Nhơn),vv.. cùng với hệ thống đô thị, khu dân cư ven biển có vị
trí quan trọng là động lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển của du lịch biển.
5.3. Cơ sở hạ tầng xã hội
a. Các công trình văn hóa thể thao:
- Nhà hát: Các nhà hát chủ yếu tập trung ở các thành phố lớn như Hà Nội, Huế, Đà
Nẵng, TP. Hồ Chí Minh trong đó có nhiều nhà hát mang bản sắc văn hóa dân tộc cao như