TÌM HIỂU kỹ NĂNG tìm KIẾM và sử DỤNG THÔNG TIN y tế điện tử của SINH VIÊN NGÀNH y TRƯỜNG đại học y dược HUẾ - Pdf 51

ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC HUẾ

LÊ THỊ BÍCH THÚY

TÌM HIỂU KỸ NĂNG TÌM KIẾM VÀ SỬ DỤNG
THÔNG TIN Y TẾ ĐIỆN TỬ CỦA SINH VIÊN
NGÀNH Y TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC HUẾ

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
BÁC SĨ Y HỌC DỰ PHÒNG

Người hướng dẫn luận văn:
PGS. TS NGUYỄN HOÀNG LAN

Huế, Năm 2018


Lời cảm ơn
Để hoàn hành được đề tài này, trước
hết, tôi xin chân thành cám ơn Ban Giám
Hiệu nhà trường, phòng Đào tạo đại học,
phòng Công tác sinh viên, khoa Y tế công
cộng, các bộ môn cùng toàn thể thầy, cô
giáo Trường Đại học Y Dược Huế đã tận tình
giảng dạy, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian
qua.
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu
sắc đến giảng viên hướng dẫn PGS.TS.
Nguyễn Hoàng Lan đã tận tình chỉ bảo và
tạo mọi điều kiện trong suốt quá trình

(Trung tâm Thông tin Công nghệ Sinh học Quốc gia)

TĐYTĐT

Thang đo kỹ năng tìm kiếm và sử dụng thông tin y tế điện tử

VHSK

Văn hóa sức khỏe

VHSKĐT

Văn hóa sức khỏe điện tử

WHO

World Health Organization
(Tổ chức Y tế Thế giới)


MỤC LỤC

PHỤ LỤC


6

ĐẶT VẤN ĐỀ
Cùng với sự phát triển mạng điện tử (internet) và công nghệ kỹ thuật số,
nguồn thông tin điện tử ngày càng đóng một vai trò quan trọng trong việc tiếp cận

không có đủ kỹ năng để tìm kiếm, định vị và/ hoặc đánh giá các nguồn thông tin y
tế [33]. Kỹ năng tìm kiếm và sử dụng thông tin y tế điện tử là một lĩnh vực quan
trọng đối với sinh viên y khoa [33], [63], tuy nhiên một số nghiên cứu cho thấy khả
năng này của sinh viên y khoa hãy còn thấp [22], [33], [37], [62].
Để có thể cung cấp những bằng chứng về kỹ năng tìm kiếm và sử dụng các
nguồn lực y tế điện tử của sinh viên ngành Y ở Việt Nam nói chung và ở tỉnh Thừa
Thiên Huế nói riêng, chúng tôi thực hiện nghiên cứu “TÌM HIỂU KỸ NĂNG TÌM
KIẾM VÀ SỬ DỤNG THÔNG TIN Y TẾ ĐIỆN TỬ CỦA SINH VIÊN NGÀNH Y
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC HUẾ” với các mục tiêu:
1. Đánh giá kỹ năng tìm kiếm và sử dụng thông tin y tế điện tử của sinh viên
ngành Y Trường Đại học Y Dược Huế.
2. Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến kỹ năng tìm kiếm và sử dụng thông tin
y tế điện tử ở đối tượng nghiên cứu.


8

Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. TỔNG QUAN VỀ VĂN HÓA SỨC KHỎE (HEALTH LITERARY)
Thực tế có nhiều định nghĩa về văn hóa sức khỏe (VHSK), mỗi định nghĩa lại
đưa ra quan điểm khác nhau [56]. Trong số đó, có thể kể đến một số định nghĩa
được chấp nhận rộng rãi như:
Hiệp hội Y khoa Hoa Kỳ (AMA) định nghĩa: “Văn hóa sức khỏe là một tập
hợp các kỹ năng, bao gồm những kỹ năng cơ bản như đọc và tính toán cần thiết để
hoạt động trong môi trường chăm sóc sức khỏe” [8].
Viện Y học Hoa Kỳ (IOM) định nghĩa, “Văn hóa sức khỏe là mức độ năng lực
của mỗi cá nhân về đánh giá, phân tích và hiểu các thông tin và dịch vụ y tế cơ bản
cần thiết để đưa ra quyết định y tế thích hợp” [36].
Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), “Văn hóa sức khỏe là các kỹ năng nhận thức

phát triển của VHSK trong kỷ nguyên số [11]. Thành phần 'e' trong văn hóa sức
khỏe điện tử (eHealth literacy) được xem là sự hiểu biết về kỹ thuật số, không chỉ
đại diện cho thuật ngữ điện tử (electronic), mà nhằm nhấn mạnh khả năng sử dụng
các công nghệ điện tử và kĩ thuật số để thu thập, quản lý và sử dụng hiệu quả
thông tin y tế. Điều này chính là điểm khác biệt giữa văn hóa sức khỏe điện tử và
văn hóa sức khoẻ [11].
Một số định nghĩa phổ biến về VHSKĐT:
Eng (2001) đã định nghĩa: "Văn hóa sức khỏe điện tử (eHealth literacy) là việc
sử dụng các công nghệ thông tin và truyền thông, đặc biệt là mạng điện tử trong
chăm sóc sức khoẻ nhằm cải thiện sức khoẻ" [25].
Theo Norman và Skinner (2006) "Văn hóa sức khỏe điện tử (eHealth literacy)
là khả năng tìm kiếm, tìm thấy, hiểu và đánh giá thông tin sức khoẻ từ các nguồn
lực điện tử và áp dụng các kiến thức thu được để xem xét hoặc giải quyết vấn đề
sức khoẻ" [49].
Koss (2011) đã định nghĩa văn hóa sức khỏe điện tử (eHealth literacy) là khả
năng của con người (trực tiếp hoặc với sự hỗ trợ) sử dụng máy tính và các công


10

nghệ truyền thông khác để tìm, đọc và hiểu thông tin sức khoẻ nhằm đưa ra các
quyết định cá nhân [11].
Chan và Kaufman (2011) thừa nhận rằng văn hóa sức khỏe điện tử (eHealth
literacy) liên quan đến "những kỹ năng và kiến thức cần thiết để tương tác hiệu
quả với các công cụ y tế dựa trên công nghệ". Theo đó, mức độ sử dụng các tài
nguyên y tế trên mạng điện tử phụ thuộc vào các kỹ năng mà một cá nhân có.
Chúng bao gồm kỹ năng thu thập thông tin cũng như việc hiểu đầy đủ các khái
niệm về sức khoẻ [18].
Gilstad (2014) đã đề xuất văn hóa sức khỏe điện tử (eHealth literacy) là khả
năng nhận diện và xác định vấn đề sức khoẻ, để trao đổi, tìm kiếm, hiểu, đánh giá

Hình 1.2: Mô hình kỹ năng phân tích

Hình 1.3: Mô hình kỹ năng theo
bối cảnh cụ thể

Thành phần trong nhóm kỹ năng phân tích liên quan đến các kỹ năng được áp
dụng cho một loạt các nguồn thông tin không phân biệt chủ đề hoặc bối cảnh (Hình
1.2), trong khi thành phần trong nhóm kỹ năng theo bối cảnh cụ thể phụ thuộc vào


12

các kỹ năng cụ thể hơn về tình huống (Hình 1.3). Ví dụ, các kỹ năng phân tích có
thể được áp dụng để nghiên cứu hoặc học hỏi từ nhiều bài báo nhằm cải thiện sức
khỏe. Kỹ năng theo bối cảnh cụ thể cũng quan trọng; tuy nhiên, ứng dụng của
chúng có nhiều khả năng được bối cảnh hóa trong một vấn đề hoặc tình huống cụ
thể. Ví dụ, khả năng hiểu biết máy tính phụ thuộc vào loại máy tính được sử dụng,
hệ điều hành của nó, cũng như phần mềm ứng dụng của nó. Hiểu biết khoa học
được áp dụng cho những vấn đề có thông tin y tế liên quan đến nghiên cứu được
trình bày, giống như văn hóa sức khoẻ phải trong bối cảnh các vấn đề sức khoẻ. Tuy
nhiên, cần phải có đồng thời kỹ năng phân tích và kỹ năng theo bối cảnh cụ thể để
có thể tham gia đầy đủ vào y tế điện tử [49]. Bảng phân loại các thành phần của mô
hình VHSKĐT dưới đây sẽ cung cấp một cái nhìn tổng quan về từng kỹ năng chính.
Bảng 1.1: Mô tả sáu thành phần của mô hình văn hóa sức khỏe điện tử
Thành phần

Mô tả

Các thành phần nhóm kỹ năng phân tích: liên quan đến các kỹ năng áp dụng cho
một loạt các bối cảnh và nguồn thông tin.


Khả năng đọc, hiểu và hành động dựa trên thông tin sức
khoẻ.


13

Sáu thành phần này kết hợp với nhau để tạo thành các kỹ năng cơ bản và cần
thiết để tối ưu hóa trải nghiệm của người sử dụng đối với y tế điện tử.
1.2.3. Ý nghĩa của mô hình văn hóa sức khỏe điện tử
Trong bối cảnh các trang mạng điện tử và ứng dụng dựa trên các nền tảng
công nghệ khác trở thành một phần phổ biến của môi trường y tế và chăm sóc sức
khoẻ cộng đồng, kỹ năng sử dụng các công cụ này sẽ trở nên thiết yếu trong việc
nâng cao sức khoẻ và cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khoẻ (nếu sức mạnh của công
nghệ thông tin được tận dụng hiệu quả) [49].
Mô hình VHSKĐT là bước đầu tiên để hiểu những kỹ năng này là gì và chúng
liên quan đến việc sử dụng công nghệ thông tin như một công cụ cho sức khoẻ như
thế nào. Bước tiếp theo là áp dụng mô hình này vào các điều kiện hàng ngày của
việc sử dụng thông tin y tế điện tử trong chăm sóc bệnh nhân, y tế dự phòng và
nâng cao sức khoẻ, các chiến dịch truyền thông sức khoẻ ở mức độ cộng đồng, trợ
giúp các chuyên gia y tế trong công việc của họ và đánh giá tính hữu ích của nguồn
thông tin này đối với người sử dụng nói chung [49].
Sử dụng mô hình này, các công cụ đánh giá VHSKĐT có thể được tạo ra và các
hệ thống y tế điện tử được thiết kế để đảm bảo rằng có sự phù hợp giữa công nghệ và
kỹ năng của người sử dụng. Việc xem xét các kỹ năng cơ bản này sẽ mở ra cơ hội để
tạo thêm nhiều nguồn lực y tế điện tử có liên quan, thân thiện và hiệu quả nhằm thúc
đẩy việc tiếp cận thông tin y tế cho tất cả mọi người [49]. Điều này cũng được gợi ý
rằng VHSKĐT là rất quan trọng và nên được kết hợp vào chương trình học ở nhà
trường [73]. Ở nghiên cứu này, chúng tôi đề cập đến một hướng tiếp cận của văn hóa
sức khỏe điện tử đó là kỹ năng tìm kiếm và sử dụng thông tin y tế điện tử.

đo lường KNYTĐT nhất quán và đáng tin cậy [15], [42], [52].
1.3.2. Hạn chế của Thang đo kỹ năng tìm kiếm và sử dụng thông tin y tế điện tử
Thang đo kỹ năng tìm kiếm và sử dụng thông tin y tế điện tử là một công cụ tự
báo cáo dựa trên nhận thức cá nhân của người dùng về kỹ năng và kiến thức của
chính họ trong mỗi lĩnh vực được đo lường [11], [50]. Điều này dẫn đến sự khác
biệt so với các phương pháp đánh giá trực tiếp. Thang đo này bao gồm sáu loại kiến
thức, do đó mỗi kỹ năng sẽ đòi hỏi được đo lường độc lập. Chẳng hạn như các bài
kiểm tra nghiêm ngặt về khả năng sử dụng trên các thiết bị máy tính chuẩn để đánh
giá sự hiểu biết về máy tính; cũng như việc đọc các đoạn văn bản lớn nhằm đánh
giá năng lực ngôn ngữ. Đối với các chuyên gia y tế và người dân, việc đánh giá chi
tiết như vậy có thể là không thực tế [50].


15

1.3.3. Ý nghĩa và ứng dụng của Thang đo kỹ năng tìm kiếm và sử dụng thông
tin y tế điện tử
Việc tìm kiếm, đánh giá và áp dụng các bài học kinh nghiệm từ các nguồn lực
y tế điện tử là phổ biến ở mọi lứa tuổi, giới tính và nhóm văn hoá. Do đó việc áp
dụng thang đo này như là một công cụ đánh giá chuẩn về kỹ năng tìm kiếm và sử
dụng thông tin y tế điện tử trong chăm sóc sức khoẻ là một nhu cầu rất cao [50].
Trong môi trường lâm sàng, thang đo này có khả năng như một phương tiện để
xác định những người có thể hoặc không thể hưởng lợi khi nhận được sự trợ giúp
của thông tin y tế điện tử [9]. Đánh giá sự thích hợp của người dùng cho phép xác
định sự hạn chế về kỹ năng và có thể hỗ trợ tốt hơn cho những người có mức độ
thích ứng thấp nhằm tận dụng các lợi ích thông tin y tế điện tử mang lại. Mặt khác,
có thể thúc đẩy sự phát triển của công cụ điện tử để đáp ứng được những nhu cầu
của người dùng, đồng thời hỗ trợ xây dựng các chiến lược phù hợp để cải thiện chất
lượng chăm sóc sức khoẻ của họ [17], [50]. Bên cạnh đó, thang đo cũng có ích
trong việc đo lường sự thành công của các nghiên cứu can thiệp [58], [66], [74].

thông qua điện thoại của Tennant và cộng sự năm 2015 với điểm trung bình là 29,05
(SD=5,75) [65].
Năm 2014, Tomas và cộng sự nghiên cứu trên 1215 thanh thiếu niên ở Leiria,
Bồ Đào Nha cho thấy KNYTĐT trung bình là 27,65 điểm (SD= 4,66) [67]. Cuộc
khảo sát trên web được tiến hành trên 296 người sống ở khu vực nói tiếng Ý của
Thụy Sĩ cho thấy điểm kỹ năng trung bình là 26,65 (SD= 6,28) [23].
Brown và Dickson (2010) báo cáo sinh viên chuyên ngành trị liệu có
KNYTĐT trung bình 28,45 điểm. Tuy nhiên, kết quả có thể đã bị ảnh hưởng bởi
thực tế là các sinh viên này đang học thạc sĩ, do đó có thể đã có nhiều kinh nghiệm
học tập. Park và Lee (2014) tiến hành nghiên cứu trên 176 sinh viên điều dưỡng ở
Hàn Quốc có điểm kỹ năng trung bình là 27,06 (SD=4,2) và phát hiện ra hơn một
nửa số mẫu của họ (51,1%) có khả năng tốt [55]. Năm 2016, nghiên cứu của
Tubaishat and Habiballah báo cáo KNYTĐT trung bình là 28,96 điểm (SD= 4,64)
trên 541 sinh viên điều dưỡng ở Jordan [68], tương tự nghiên cứu cùng lúc của
Dashti trên sinh viên y khoa Iran là 28,21 điểm (SD= 6,95) [22].


17

Pokharel năm 2015 báo cáo gần 50% số sinh viên tại Học viện Khoa học Sức
khoẻ Koirala không chắc chắn/ không biết cách thức tìm kiếm và cách sử dụng
mạng điện tử để tìm các nguồn thông tin y tế hữu ích. Việc sử dụng mạng điện tử
giữa các sinh viên y khoa và bác sĩ ở Sudan cho thấy họ không hiểu lắm về nguồn
thông tin hữu ích [9]. Nghiên cứu Dashti (2016) [22], nghiên cứu của Tubaishat và
Habiballah (2016) [68] đã báo cáo khả năng xác định các trang web tin cậy và khả
năng phân biệt thông tin có chất lượng từ các nguồn thông tin cấp thấp chiếm điểm
thấp nhất trong thang đo. Một khía cạnh khác, nghiên cứu của Brown (2010) cho
biết sinh viên chuyên khoa đã thể hiện sự tự tin vào khả năng đánh giá chính xác
thông tin điện tử, tuy nhiên lại không đủ tự tin khi sử dụng thông tin đó để đưa ra
quyết định sức khỏe mà không tham khảo ý kiến của một nhà cung cấp dịch vụ y tế.

Việc được tiếp cận các nguồn cung cấp sự hiểu biết về chất lượng thông tin
điện tử từ thầy cô, bạn bè, hội thảo hoặc kinh nghiệm tích lũy sẽ giúp cho sinh
viên có kỹ năng tìm kiếm tốt hơn. Nghiên cứu Stellefson và cộng sự (2012) cũng
như nghiên cứu của Civilcharran và cộng sự (2015) đã chỉ ra rằng sinh viên đại
học có thể đạt được những kỹ năng tìm kiếm thông tin cần thiết bằng kinh
nghiệm tự tích lũy [20], [63].


19

Chương 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu
- Sinh viên ngành bác sĩ y đa khoa và bác sĩ y học dự phòng đang học tại
Trường Đại học Y Dược Huế.
- Tiêu chuẩn lựa chọn: Sinh viên đang học năm thứ năm tại thời điểm nghiên
cứu (năm học 2017-2018) và đồng ý tham gia trả lời bộ câu hỏi khảo sát.
2.1.2. Thời gian nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu từ tháng 07/2017 đến tháng 12/2017.
2.1.3. Địa điểm nghiên cứu
Tại Trường Đại học Y Dược Huế, Thành phố Huế ,tỉnh Thừa Thiên Huế.
2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu
Theo phương pháp mô tả cắt ngang.
2.2.2. Cỡ mẫu
Công thức tính cỡ mẫu:

p( 1 − p )
n = Z(21− α / 2 )

- Giới tính: nam, nữ.
- Năm sinh.
- Ngành học: y đa khoa, y học dự phòng.
- Nơi cư trú tại Huế: tại nhà cùng gia đình, kí túc xá, phòng trọ, ở nhà người
quen. Chia thành 2 nhóm:
• Nhóm 1: Ở trọ: phòng trọ, kí túc xá, nhà người quen.
• Nhóm 2: Sống cùng gia đình.

- Tình trạng kinh tế hộ gia đình: chia thành hai mức hộ nghèo, cận nghèo và
không nghèo theo chuẩn qui định của chính phủ.
Dựa theo quy định của Thủ tướng Chính phủ tại Quyết định số 59/2015/QĐTTg ngày 19/11/2015, về việc ban hành chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho
giai đoạn 2016 – 2020 [3].
+ Hộ nghèo là hộ có mức thu nhập bình quân từ 700.000 đồng/người/tháng ở
khu vực nông thôn và 900.000 đồng/người/tháng ở khu vực thành thị trở xuống.
+ Hộ cận nghèo là hộ có mức thu nhập bình quân từ 1.000.000 đồng/người/tháng
ở khu vực nông thôn và 1.300.000 đồng/người/tháng ở khu vực thành thị trở xuống.


21

- Xếp loại học tập năm học vừa qua: giỏi, khá, trung bình, yếu.
- Ngoại ngữ (nhiều lựa chọn): Anh, Pháp, Nhật, khác. Số ngoại ngữ chia thành
2 nhóm:
• Nhóm 1: Một ngoại ngữ.
• Nhóm 2: Nhiều ngoại ngữ: biết hai ngoại ngữ trở lên.

- Tự đánh giá khả năng tiếng Anh (chủ yếu khả năng đọc, hiểu): tốt, khá, trung
bình, yếu. Chia trình độ tiếng Anh tự đánh giá thành 2 nhóm:
• Nhóm Tốt: tốt hoặc khá.
• Nhóm Không tốt: trung bình hoặc yếu.

+

Cần tìm ra một giải pháp cho vấn đề sức khỏe cá nhân và/ hoặc người thân.

Phục vụ việc học tâp (làm bài tập nhóm, tìm kiếm kết quả cho bài kiểm tra, thi…).
+

Nhằm nâng cao kiến thức về y tế, sức khỏe và trình độ chuyên môn.

+

Khác.
- Trang web thường sử dụng để tìm kiếm (nhiều lựa chọn).
- Tự đánh giá những trang web cung cấp thông tin y tế tin cậy (nhiều lựa chọn).
- Nguồn cung cấp sự hiểu biết về chất lượng thông tin y tế điện tử.

+

Thầy cô giáo ở trường.

+

Kinh nghiệm của bạn bè.

+

Hội thảo, chuyên đề hướng dẫn.

+



+

Không có mạng điện tử.

+

Khác.

2.3.2.2. Đánh giá kỹ năng tìm kiếm và sử dụng thông tin y tế điện tử
Thang đo kỹ năng tìm kiếm và sử dụng thông tin y tế điện tử của chúng tôi
được phát triển dựa trên TĐYTĐT [50] và có một số điều chỉnh để phù hợp với
địa điểm, đối tượng của nghiên cứu này (xem Phụ lục 2). Thang đo gồm 8 câu và
đã được đánh giá độ tin cậy là tốt (hệ số Cronbach alpha 0,83 trên 50 sinh viên
thử nghiệm).


23

Phần trả lời ở mỗi nội dung được chia làm 5 mức điểm (từ 1= hoàn toàn không
đồng ý đến 5=hoàn toàn đồng ý). Tổng điểm tối thiểu là 8, tối đa 40, điểm càng cao
phản ánh kỹ năng tìm kiếm và sử dụng thông tin y tế điện tử càng tốt và ngược lại.
Mỗi nội dung chia thành 2 nhóm:
• Nhóm Đạt: mức điểm 4 hoặc 5.
• Nhóm Không đạt: từ mức điểm 3 trở xuống.

Kỹ năng tìm kiếm và sử dụng thông tin y tế điện tử chia thành 2 nhóm:
• Nhóm Đạt: tổng điểm từ 32 điểm trở lên.
• Nhóm Không đạt: tổng điểm từ 31 điểm trở xuống.


khảo sát thì bỏ qua và chọn đối tượng kế tiếp theo danh sách lớp.


24
+

Nhóm nghiên cứu giám sát quá trình điền phiếu và giải thích những điểm đối tượng
chưa rõ ở bộ câu hỏi.
- Bước 3: Tổng hợp các phiếu, kiểm tra thông tin, bổ sung đủ thông tin trước
khi rời lớp.
2.5. XỬ LÝ SỐ LIỆU:
- Thông tin thiếu được hiệu chỉnh trong thời gian thu thập số liệu. Số liệu được
mã hóa, làm sạch trước và sau khi nhập vào máy tính.
- Số liệu được nhập bằng phần mềm EpiData 3.1, xử lý bằng phần mềm
SPSS 16.0.
- Áp dụng các phương pháp phân tích thống kê mô tả các thông tin chung của
đối tượng, đặc điểm tiếp cận nguồn thông tin y tế điện tử, … cho các bảng phân bố
tần số, phân tích hồi quy tuyến tính đa biến được sử dụng để đánh giá mối liên quan
giữa các đặc điểm nghiên cứu và kỹ năng tìm kiếm, sử dụng thông tin y tế điện tử.
Chúng tôi xây dựng bốn mô hình hồi quy đa biến tuyến tính.

+

Mối liên quan KNYTĐT và các đặc điểm cá nhân.

+

Mối liên quan KNYTĐT và các đặc điểm học tập.

+

Nữ
23
Tuổi
24
25
Tại nhà cùng gia đình
Ký túc xá
Nơi cư trú
Phòng trọ
Nhà người quen
Tình hình kinh Hộ nghèo, cận nghèo
Không nghèo
tế gia đình

Tần số
184
226
328
73
9
34
15
352
9
48
362

Tỷ lệ (%)
44,9
55,1


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status