BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘY TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ TUYẾT MINH
NGHIÊN CỨU ĐỘC TÍNH VÀ TÁC
DỤNG HỖ TRỢ ĐIỀU TRỊ BỆNH GÚT
MẠN CỦA CỐM TAN TỨ DIỆU TÁN
LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC
HÀ NỘI - 2018
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
ACR
ALT
AST
ATP
CD14
CMC-Na
COX-2
EDTA
EULAR
FDA
HAQ
IL-1β
IL-1R
ILAR
MSU
Interleukin 1 Beta
interleukin 1 receptor (Receptor tiếp nhận IL-1)
International League of Associations for Rheumatology
(Hiệp hội thấp khớp học Quốc tế)
Monosodium urat
Myeloid differentiation primary response 88
(Thụ thể tiếp nhận IL-1R)
NACHT, LRR and PYD domains-containing protein 3
inflamasome (Phức hợp hoạt hóa capase-1)
Nuclear factor kappa B (Yếu tố nhân kappa B)
National Institute for Health and Care Excellence
(Viện Chăm sóc sức khỏe toàn diện Quốc gia)
Nonesteroidal anti- inflamatory drugs
(Thuốc chống viêm không chứa steroid)
Organic anion transporter (Kênh vận chuyển anion hữu cơ)
Prostaglandin E2 (Chất trung gian gây viêm)
Toll-like receptor (Các thụ thể miễn dịch tự nhiên)
Tumor Necrosis factor alpha (Yếu tố hoại tử khối u dạng α)
Visual Analog Scale (Thang điểm cường độ đau dạng nhìn)
WHO
XO
YHCT
YHHĐ
World Health Organization (Tổ chức Y tế Thế giới)
Xanthin oxidase
(Men tham gia vào chuyển hóa nhân purin thành acid uric)
Y học cổ truyền
dẫn đến tử vong [7].
Hiện nay, có nhiều loại thuốc tân dược đã và đang được sử dụng để điều
trị gút do tác dụng nhanh, mạnh, hiệu quả tốt, như thuốc ức chế IL-1, thuốc ức
chế tổng hợp enzym xanthin oxidase, thuốc ức chế enzym URAT1, các thuốc
chống viêm không steroid (NSAIDs), các glucocorticoid… Tuy nhiên, do bệnh
có tính chất mạn tính, bệnh nhân dùng một số thuốc trong thời gian dài có thể
xuất hiện các tác dụng phụ như loét dạ dày, suy gan, suy thận, gây độc với tủy
xương hoặc shock phản vệ [8], [9]. Bệnh nhân sẽ phải dừng điều trị, dẫn đến
tái phát cơn gút cấp hoặc giảm đáp ứng với thuốc đang điều trị [10].
Việc nghiên cứu tìm ra thuốc mới điều trị gút, đặc biệt là thuốc có
nguồn gốc từ thiên nhiên, hạn chế tác dụng không mong muốn là rất ý nghĩa
và cần thiết. Do đó, trong một thập kỉ trở lại đây, các nhà khoa học đã tiến
hành tìm hiểu và nghiên cứu nhiều chế phẩm, thuốc y học cổ truyền (YHCT)
6
có nguồn gốc từ thiên nhiên để điều trị bệnh gút. Điều trị bằng YHCT có
những ưu điểm như phương pháp điều trị linh hoạt, có trọng điểm, giảm nhẹ
triệu chứng lâm sàng của bệnh gút, giảm số lần tái phát cơn gút cấp, nâng cao
chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân.
Việt Nam có nguồn dược liệu phong phú. Nền YHCT Việt Nam có
nhiều bài thuốc có hiệu quả điều trị bệnh gút, bài thuốc cổ phương Tứ diệu
tán là một trong số đó. Thành phần của bài thuốc gồm bốn vị: Ý dĩ, Ngưu tất,
Hoàng bá và Thương truật. Một số nghiên cứu trên thực nghiệm đã chứng
minh, chất polysaccharide trong Thương truật và baicalein, oroxylin A
trong Hoàng bá có tác dụng chống viêm cấp [11], [12]. Stigmasterol và acid pcoumaric trong Ý dĩ tham gia vào quá trình tăng thải trừ acid uric niệu [13].
Dựa trên cơ sở tác dụng dược lý của các vị thuốc trong bài thuốc Tứ
diệu tán đồng thời kế thừa vốn quý của YHCT phương Đông một cách sáng
tạo, chúng tôi đã điều chỉnh liều lượng, sự phối ngũ các vị thuốc, cải dạng bài
đến biến chứng hình thành hạt tophi và nguy cơ lắng đọng rải rác tại thận
hoặc chứng acid uric niệu [14].
1.1.1.2. Dịch tễ học
Bệnh gút thường gặp ở nam giới tuổi trung niên, đỉnh khởi phát
bệnh là 50 tuổi, nhưng tỷ lệ mắc bệnh tăng dần cả hai giới nam và nữ ở
các nhóm tuổi cao hơn [2]. Ở những bệnh nhân khởi phát gút sau 60 tuổi,
tỷ lệ mắc bệnh của nam và nữ gần bằng nhau và nếu gút khởi phát sau 80
tuổi thì tỷ lệ nữ cao hơn nam.
1.1.2. Cơ chế bệnh sinh
1.1.2.1. Chứng tăng acid uric máu
Cơ chế sinh bệnh học của gút là do tăng acid uric máu. Tăng acid uric
máu được xác định khi nồng độ urat huyết thanh cao hơn 420µmol/l ở nam
giới và 360µmol/l ở nữ giới [15]. Nguyên nhân tăng acid uric máu do tăng sản
xuất acid uric, do giảm thải trừ acid uric hoặc kết hợp cả hai yếu tố. Trên thực
tế rất khó phân biệt rõ từng nguyên nhân vì chúng thường kết hợp với nhau.
•
Đặc điểm hóa học của acid uric
Acid uric có công thức hoá học C5H4N4O3. Do là một acid yếu nên
acid uric thường bị ion hóa thành muối urat hòa tan trong huyết tương, đại đa
số tồn tại dưới dạng monosodium urat (MSU) [16].
8
•
Tăng acid uric máu do tăng sản xuất
Những nguyên nhân gây tăng sản xuất acid uric có thể do rối loạn các
emzym tổng hợp acid uric (thiếu enzym hypoxanthin-guaninphosphoryltransferase) hoặc tăng hoạt tính của enzym phosphorybosyl-pyrophosphate
Tinh thể monosodium urate (MSU)
Các tinh thể MSU được hình thành bởi quá trình ion hóa acid uric thành
muối urat hòa tan trong huyết tương, giới hạn hoà tan của muối urat khoảng
6,8mg/dl ở nhiệt độ 37ºC [21]. Ở nồng độ cao hơn các tinh thể urat sẽ bị kết tủa.
9
•
Cơ chế gây viêm cấp tính do tinh thể urat
Các tinh thể urat lắng đọng tại khớp hoặc mô sẽ gây ra các phản ứng
viêm. Ban đầu là các phản ứng viêm tại chỗ, thu hút bạch cầu đa nhân trung
tính sản xuất các cytokine cũng như các trung gian gây viêm khác [22], [23].
Tiếp đó các đại thực bào nhận biết các tinh thể urat thông qua các thụ thể
TLR-2, TLR-4 và FDA, các tín hiệu truyền đến chất truyền tin MYD88, phân
tử này hoạt hóa NFKB gây tiết pro-IL-1β (tiền chất của interleukin-1β) đồng
thời cũng hoạt hóa phức hợp NALP3 inflamasome [24]. Phức hợp này hoạt
hóa enzym caspase-1 giúp chuyển pro-IL-1β thành IL-1β hoạt động. Tín hiệu
của IL-1β sẽ hoạt hóa IL-1R (interleukin 1 receptor), tiếp tục khởi động quá
trình viêm ở mô làm cho phản ứng viêm ngày càng trầm trọng hơn [25].
•
Cơ chế gây viêm khớp mạn tính do gút
Viêm khớp mạn tính do gút thường xuất hiện sau khi bệnh nhân bị gút
nhiều năm. Giữa các cơn gút cấp, tinh thể MSU liên tục lắng đọng và hình
thành những khối tophi. Khối tophi phát triển rộng, được bao phủ bởi các đại
thực bào. Đại thực bào tập trung để thực bào các tinh thể MSU đồng thời giải
phóng các cytokine và enzym [26]. Những enzym này là tác nhân gây viêm
khớp cổ tay, sụn vành tai, khớp gối.
1.1.3.4. Biến chứng
Bệnh gút nếu không điều trị kịp thời sẽ dẫn tới hình thành hạt tophi và
phá hủy khớp. Một số biến chứng nguy hiểm:
- Sỏi thận: Có từ 10 - 20% bệnh nhân gút mạn tính có sỏi thận. Tỷ lệ
bệnh nhân mắc sỏi thận phụ thuộc vào nồng độ pH trong nước tiểu và lượng
acid uric được thải ra qua đường tiết niệu. Độ pH trong nước tiểu giảm thấp
làm tăng nguy cơ lắng đọng và hình thành sỏi urat [28].
- Suy thận: Có từ 47 - 54% bệnh nhân gút mạn tính mắc suy thận [29].
Tăng acid uric máu làm tăng nguy cơ suy thận do các tinh thể MSU lắng đọng
tại bề mặt của tế bào biểu mô thận. Sự lắng đọng này gây tổn thương tế bào
hạt bài tiết ở tiểu cầu thận và tế bào biểu mô ống thận thông qua sự hoạt hóa
thụ thể miễn dịch TLR4. Sự hoạt hóa này dẫn đến kích hoạt thể viêm NLRP3
11
và IL-1β, làm khởi phát quá trình viêm tại thận [30].
1.1.4. Chẩn đoán bệnh gút
•
Chẩn đoán gút thường dựa theo tiêu chuẩn Bennett và Wood (1968)
[31]. Phương pháp này có độ nhạy là 70%, độ đặc hiệu là 82,7%.
Chẩn đoán xác định gút khi có tiêu chuẩn I hoặc ít nhất hai yếu tố của
tiêu chuẩn II.
I. Hoặc tìm thấy tinh thể MSU trong dịch khớp hoặc trong các hạt tô phi.
II. Hoặc có từ 2 tiêu chuẩn sau đây trở lên:
+ Tiền sử hoặc hiện tại có hai đợt sưng đau của một khớp với tính chất
khởi phát đột ngột, đau dữ dội và khỏi hoàn toàn trong vòng hai tuần.
Tiêu chuẩn
Điểm
≥ 1 đợt sưng đau 1 khớp
ngoại vi hay bao hoạt dịch
Bước 2: Tiêu chuẩn vàng
Phát hiện tinh thể MSU trong
dịch khớp hoặc hạt tophi
Bước 3: Nếu không phát hiện được tinh thể MSU
Lâm sàng
1. Đặc điểm của viêm 1 hay vài khớp - Khớp cổ chân hay bàn ngón
1
chân
2
- Khớp bàn ngón chân cái
2. Tính chất đợt viêm cấp
- Đỏ khớp
0 tính chất
0
- Không chịu được lực ép hoặc sờ
1 tính chất
1
vào khớp viêm
2 tính chất
2
- Khó khăn khi đi lại, vận động
3 tính chất
3
khớp
3.Đặc điểm thời gian
2
3
4
-2
4
13
- Siêu âm: Dấu hiệu đường viền đôi
- DECT: Hình ảnh bắt màu urat đặc biệt
4. X-quang
Có hình ảnh bào mòn xương
trên khớp bàn tay hoặc bàn chân
Tổng điểm
Chẩn đoán mắc bệnh gút
1.1.5. Điều trị bệnh gút
4
≥8
Nguyên tắc điều trị
- Tuân thủ chế độ dinh dưỡng và sinh hoạt đối với bệnh nhân gút.
- Đối với gút cấp tính: chống viêm giảm đau, ngăn ngừa các cơn gút
tiếp theo.
- Đối với gút mạn tính: giảm acid uric máu, điều trị kéo dài phòng cơn
gút tái phát.
- Đối với biến chứng: điều trị nhiễm khuẩn hạt tophi, sỏi thận, suy thận.
- Can thiệp trong trường hợp cần thiết.
1.1.5.1. Chế độ dinh dưỡng và sinh hoạt cho bệnh nhân gút
thì vấn đề quan trọng nhất là giảm acid uric máu. Điều trị duy trì cho đến khi
acid uric máu đạt dưới 6mg/dl (360µmol/l), thậm chí là dưới 5mg/dl
(300µmol/l) trong gút mạn tính có hạt tophi [36], [37].
• Thuốc ức chế tổng hợp acid uric: allopurinol, tisopurin, febuxostat.
Cơ chế hoạt động của thuốc là ức chế cạnh tranh với enzym xanthin
oxidase, đây là enzym thoái giáng hypoxanthin thành xanthin và xanthin thành
acid uric, do đó làm giảm số lượng hypoxanthin và xanthin chuyển thành acid
uric, làm giảm nồng độ acid uric máu và acid uric niệu. Nhóm thuốc này được
dùng phổ biến để điều trị tăng acid uric máu [38].
- allopurinol: Thuốc được hấp thu tương đối nhanh sau khi uống, đạt
nồng độ cao nhất trong huyết tương sau 60 - 90 phút. 20% lượng thuốc được
đào thải ra ngoài theo phân và số còn lại được đào thải qua nước tiểu. Tác
dụng phụ phổ biến nhất của thuốc là phản ứng quá mẫn. Phản ứng này có thể
xảy ra trong lần đầu dùng thuốc và ngay sau khi đã dùng thuốc một thời gian
dài (vài tháng hay vài năm). Tác dụng phụ thường gặp là phát ban đỏ, rát sần,
ngứa, mày đay, ban xuất huyết… [39].
Theo khuyến nghị của Hội Thấp khớp học Hoa Kỳ (ACR), allopurinol
nên khởi đầu ở liều không quá 100mg/ngày đối với bệnh gút đơn thuần, và
không quá 50mg/ngày với những bệnh nhân suy thận giai đoạn 4 hoặc tình
15
trạng nghiêm trọng hơn [40]. Liều allopurinol có thể tăng trên 300mg/ngày để
đạt được mức hạ acid uric mục tiêu, bao gồm những bệnh nhân suy thận [36].
- Febuxostat: Thuốc được chỉ định để điều trị cho bệnh nhân chống
chỉ định dùng allopurinol hoặc không đáp ứng allopurinol [41].
Febuxostat hạn chế các tác nhân gây viêm mạch máu do tác dụng ức chế
xanthin oxidase mạnh hơn allopurinol đồng thời ngăn hiện tượng tràn dịch
ổ viêm. Thuốc ít tác dụng phụ hơn allopurinol, thường gặp nhất là gây
Kiềm hóa nước tiểu
Kiềm hóa nước tiểu bằng uống các loại nước khoáng kiềm hoặc truyền
dung dịch natri bicarbonat 1,4% 500ml/24 giờ với mục đích là làm tăng pH
nước tiểu, giảm hình thành sỏi tiết niệu [44].
1.1.5.4. Các phương pháp điều trị khác
•
Phục hồi chức năng
Trong cơn gút cấp tính, bệnh nhân được điều trị phục hồi bằng nhiệt
lạnh trị liệu, điện phân trị liệu, siêu âm trị liệu, bất động khớp nhằm giảm đau,
chống viêm.
Trong giai đoạn gút mạn tính thì vận động khớp nhẹ nhàng, giảm đau
bằng dòng điện xoay chiều, xoa bóp các khớp, cơ [45].
•
Điều trị biến chứng
Nhiễm khuẩn hạt tophi có thể điều trị toàn thân bằng kháng sinh
Cephalosporin thế hệ III (Ceftriaxon 1-2g/ngày hoặc Cefotaxim 3g/ngày).
Trường hợp nghi nhiễm trùng trực khuẩn mủ xanh, cần phối hợp
cephalosporin thế hệ 3 với nhóm aminoglycosid (Gentamycin 3mg/kg/ngày).
Điều trị tại chỗ dùng nước muối sinh lý hoặc dung dịch iod (Betadin) pha
loãng rửa sạch vùng tổn thương.
Để điều trị sỏi thận, bệnh nhân cần tuân thủ chế độ dinh dưỡng, tập luyện
của bệnh nhân gút. Duy trì pH nước tiểu trên 6,5 bằng cách uống natri
bicarbonat 5 - 10g/ngày. Bệnh nhân cần được phát hiện và điều trị nội khoa
nhiễm khuẩn, viêm nhiễm ở thận.
Điều trị suy thận mạn tính cần giảm mức lọc và giảm áp lực đối với các
nephron còn hoạt động. Hạn chế các biến chứng và điều trị biến chứng của
Đánh giá sự tăng kích thước của hạt tophi.
Đánh giá mức độ đau của bệnh nhân theo VAS1, đánh giá của bệnh
nhân về hoạt động bệnh theo VAS2. đánh giá của thầy thuốc về hoạt
5)
6)
động bệnh theo VAS3.
Đánh giá chức năng vận động của bệnh nhân bằng bộ câu hỏi HAQ.
Đánh giá sự thay đổi chỉ số acid uric máu.
1.2. BỆNH GÚT THEO Y HỌC CỔ TRUYỀN
1.2.1. Bệnh danh bệnh gút
Trong YHCT, bệnh gút có tên là “Thống phong”. Danh từ Thống
phong được dùng để chỉ các chứng đau nhức do phong tà gây nên. YHCT
18
xếp bệnh thống phong thuộc phạm trù Thống tý (Tý có nghĩa là bế tắc, không
thông) [15].
Dựa vào các biểu hiện trên lâm sàng và phép biện chứng luận trị, bệnh
Thống phong trong YHCT tương đồng với bệnh gút theo YHHĐ.
1.2.2. Cơ chế bệnh sinh
Trong chương “Tê thấp”, Tuệ Tĩnh đã viết: “Nguyên nhân gây bệnh là
do nguyên khí hư yếu; phong, hàn và thấp, ba khí xâm nhập vào mà sinh
bệnh. Nếu phong thắng thì đau chạy khắp, gọi là phong tý hay hành tý. Hàn
khí thắng thì đau nhức dữ dội, gọi là hàn tý hay thống tý. Thấp khí thắng thì
đau nhức cố định một chỗ, tê dại, cấu không biết đau, gọi là thấp tý hay trước
tý” [50].
đàm trọc. Trong cơ thể người bình thường, mỗi ngày có khoảng 200mg acid
uric đào thải ra ngoài được các vi khuẩn tại ruột phân huỷ. Vì vậy, rối loạn
tiêu hoá cũng sẽ là một trong các nguyên nhân gây tăng acid uric máu [51].
Tạng can có vai trò rất quan trọng trong cơ thể con người. Can có
nhiệm vụ điều tiết tất cả mọi hoạt động của lục phủ, ngũ tạng, kinh mạch, khí
huyết trong toàn thân; điều tiết quá trình hoá - sinh - dịch - biến và các hoạt
động tinh thần, tình chí. Do đó, khi can huyết sung thịnh, can khí thư thái, thì
mọi hoạt động bên trong cơ thể được hiệp đồng nhịp nhàng, khăng khít.
Ngược lại, khi can khí uất kết, can huyết không đầy đủ, thì chức năng điều tiết
sẽ rối loạn. Quan niệm của YHCT về chức năng của tạng can rất rộng, liên
quan đến nhiều cơ quan của cơ thể sống.
Ngày nay, trên cơ sở của sinh lý học hiện đại, nhiều tác giả nghiên cứu
về tạng can đã nhận thấy có sự tương đồng giữa chức năng sơ tiết với chức
20
năng của hệ thống thần kinh thể dịch, bao gồm cả thần kinh chức năng, thần
kinh cao cấp và hệ thống nội tiết của cơ thể [51].
1.2.2.2. Ngoại nhân
Các yếu tố ngoại nhân như phong, hàn, thấp, nhiệt tà nhân lúc tấu lý sơ
hở thâm nhập vào cơ thể, làm cho khí huyết bất túc, doanh vệ tổn thương. Lâu
ngày tà khí thâm nhập sâu và lưu trú ở kinh mạch, gân cơ, khớp dẫn đến bế
trở, gây bệnh [15].
Phong tà là nguyên nhân gây bệnh rất thường gặp và thường phối hợp
với các tà khí khác như hàn, thấp, táo, hoả, gây ra các chứng bệnh trên lâm
sàng. Đặc tính gây bệnh của phong là khởi phát nhanh, triệu chứng rầm rộ,
luôn biến hoá thay đổi. Trong các bệnh cơ khớp, nếu đau không có điểm cố
định mà thường di chuyển, thay đổi sẽ được quy vào chứng “hành tý” do
phong thắng (phong tà đóng vai trò chính).
gia súc, tôm, cua…), đều có tương quan tỷ lệ thuận với nồng độ acid uric
trong máu [51].
Trong cơ thể khoẻ mạnh, công năng các tạng phủ kiện toàn, thì đàm
ẩm, huyết ứ không xảy ra. Đàm ẩm chỉ sinh ra khi chức năng của lục phủ, ngũ
tạng, đặc biệt là ba tạng: tỳ, can, thận, bị suy giảm. Đàm và ẩm đều có cùng
nguồn gốc từ thuỷ dịch. Đông y cho là: “tích thuỷ thành ẩm, ẩm ngưng thành
đàm”. Chất dịch trong, loãng gọi là ẩm; chất dịch nặng, đục gọi là đàm. Thuỷ
ẩm ứ đọng lâu ngày sẽ kết dính lại thành đàm. Đàm lắng đọng lâu dần thành
trọc. Đàm trọc sẽ làm cho lòng mạch hẹp lại, độ nhớt của máu tăng lên, lưu
tốc huyết dịch bị chậm.
1.2.3. Biện chứng luận trị các thể lâm sàng
Theo YHCT, Thống phong là một chứng có đặc điểm: “Bản hư, tiêu
thực”. “Bản” là công năng các tạng phủ suy giảm, chủ yếu là ba tạng: thận,
22
can, tỳ. “Tiêu” là đàm trọc, huyết ứ. Do vậy nguyên tắc chữa bệnh cần trị căn
nguyên, lúc cấp tính thì chữa triệu chứng, khi mạn tính phải chữa nguyên
nhân [52].
Theo Hồ Âm Kỵ và Đường Tiên Bình - Trung Quốc (2008), Thống
phong được chia thành 5 thể: Thể phong hàn thấp, thể phong thấp nhiệt, thể
đàm trệ huyết ứ, thể tỳ thận dương hư, thể can thận âm hư [53].
1.2.3.1. Thể phong hàn thấp
- Triệu chứng: Đau có tính chất di chuyển (thiên về yếu tố phong gây
bệnh), đau cố định (thiên về yếu tố hàn), đau dữ dội, đau có tính chất nặng nề,
thường nhức mỏi vùng chi dưới (thiên về yếu tố thấp), bì phu tê dại. Chất lưỡi
nhợt, rêu lưỡi trắng nhờn, mạch phù hoãn hoặc nhu hoãn.
- Pháp điều trị: Khu phong, tán hàn, trừ thấp, thông kinh lạc.
- Phương dược: Dùng bài “Quyên tý thang” (Y học tâm ngộ) gia giảm:
phương “Tứ diệu tán” hợp “Long đởm tả can thang” gia giảm. Nếu chi dưới
đau nhiều, gia thêm Ngưu tất 15g, Độc hoạt 15g, Mộc qua 12g, có tác dụng
thông đạt các khớp chi dưới. Nếu chi trên đau nhiều, gia Khương hoạt 15g,
Khương hoàng 12g, Uy linh tiên 12g, có tác dụng sơ thông kinh lạc chi trên.
1.2.3.3. Thể đàm trệ huyết ứ
- Triệu chứng: Bệnh lâu ngày, tái phát nhiều lần, khớp sưng phù, phù nề
tại khớp, tê bì, chỗ đau thường cố dịnh, chỗ đau cự án, có thể biến dạng khớp,
khớp bầm tím, không đỏ. Sắc mặt thường xạm đen, bì phu khô, trạch không
nhuận. Người bệnh thường hoa mắt, chóng mặt, ngực bụng đầy trướng, buồn
nôn, ăn kém, tâm phiền. Chất lưỡi bệu, có điểm ứ huyết, rêu trắng hoặc vàng.
Mạch trầm huyền hoặc hoạt sác.
- Pháp điều trị: Hoạt huyết khứ ứ, hóa đàm tiết trọc.
24
- Phương dược: “Phục nguyên hoạt huyết thang” (Y học phát minh)
phối hợp với bài “Nhị trần thang” (Hòa tễ cục phương): Sài hồ 12g, Qua lâu
căn 12g, Đương qui 12g, Hồng hoa 8g, Xuyên sơn giáp 8g, Đại hoàng tẩm
rượu 5g, Đào nhân tẩm rượu 8g, Trần bì 12g, Bán hạ 12g, Phục linh 12g, Cam
thảo 4g. Thuốc được làm thành thang, sắc uống ngày 01 thang chia 2 lần. Mỗi
liệu trình điều trị từ 10 - 15 ngày [54].
Nếu khớp sưng nhiều có thể gia thêm Phòng kỷ 10g, Hoạt thạch 15g,
Xa tiền tử 12g, có tác dụng lợi thủy, hóa thấp, tiêu thũng. Nếu khớp đau lâu
ngày kèm co cứng biến dạng, gia thêm Toàn yết 5g, Ngô công 3g, Ô tiêu xà
10g, có tác dụng khu phong, trừ tà, chỉ thống.
1.2.3.4. Thể tỳ thận dương hư
- Triệu chứng: Bệnh lâu ngày, tái phát nhiều lần, cơ nhục teo nhẽo,
tay chân lạnh, cứng khớp, biến dạng khớp, vận động khó khăn. Người bệnh
đoản hơi, đoản khí, ăn uống kém, đại tiện lỏng, thường ngũ canh tả, có thể
hoặc mấy lần trong ngày.
Nghiên cứu độc tính cấp của thuốc trên động vật thí nghiệm, chủ yếu là
xác định liều chết trung bình (Mean lethal dose) tức là liều làm chết 50% số con
vật thí nghiệm trong những điều kiện nhất định (Lethal dose 50% - LD50) [55].
- Độc tính bán trường diễn được tiến hành nghiên cứu trên đối tượng là
loài gặm nhấm hoặc không gặm nhấm [56], [57]. Thời gian dùng thuốc trên
thực nghiệm gấp 2 hoặc 3 lần thời gian dùng thuốc trên lâm sàng, thời gian
dùng thuốc tối thiểu là 1 tháng. Theo dõi tình trạng chung, thể trọng của động