i
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
PHẠM THỊ LUYẾN
THẾ GIỚI LOÀI VẬT TRONG TRUYỆN VIẾT CHO THIẾU NHI
CỦA NHÀ VĂN VŨ HÙNG
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 8220121
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGÔN NGỮ, VĂN HÓA VÀ VĂN HỌC VIỆT NAM
Thái Nguyên – 2018
ii
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu
trích dẫn đều có nguồn gốc rõ ràng. Các kết quả nghiên cứu trong luận văn đều
trung thực và chưa từng được công bố ở bất kỳ công trình nào khác.
Thái Nguyên, tháng 4 năm 2018
Tác giả luận văn
Phạm Thị Luyến
4. Phương pháp nghiên cứu ............................................................................... 5
5. Mục đích nghiên cứu ..................................................................................... 5
6. Bố cục ............................................................................................................ 5
7. Đóng góp của đề tài ....................................................................................... 6
NỘI DUNG ........................................................................................................... 7
CHƯƠNG 1: KHÁI LƯỢC VỀ VĂN HỌC THIẾU NHI VÀ NHÀ VĂN VŨ
HÙNG ................................................................................................................... 7
1.1. Văn học thiếu nhi ở Việt Nam .................................................................... 7
1.1.1. Những đặc trưng cơ bản của văn học thiếu nhi.................................... 7
1.1.2. Thực trạng văn học thiếu nhi và truyện viết về loài vật dành cho thiếu
nhi ở Việt Nam ............................................................................................. 10
1.2. Nhà văn Vũ Hùng – cuộc đời và sự nghiệp .............................................. 20
1.2.1 Cuộc đời nhà văn Vũ Hùng ................................................................. 20
1.2.2. Sự nghiệp sáng tác của nhà văn Vũ Hùng.......................................... 23
CHƯƠNG 2: THIÊN NHIÊN KỲ THÚ VÀ NHỮNG BÀI HỌC CUỘC SỐNG
TRONG CÁC TÁC PHẨM VIẾT CHO THIẾU NHI CỦA NHÀ VĂN VŨ HÙNG 29
2.1. Tình yêu và cuộc sống .............................................................................. 29
2.1.1. Những trật tự rừng xanh ..................................................................... 29
2.1.2. Phong tục tập quán những vùng miền đi qua ..................................... 35
2.2. Đời sống của loài vật ................................................................................ 44
v
2.2.1. Bản năng sinh tồn ............................................................................... 44
2.2.2. Thế giới nội tâm ................................................................................. 49
2.3. Những triết lí mang bóng dáng con người ............................................................ 65
CHƯƠNG 3: NHỮNG ĐẶC TRƯNG NGHỆ THUẬT TRONG SÁNG TÁC
VIẾT CHO THIẾU NHI CỦA NHÀ VĂN VŨ HÙNG ............................................ 73
3.1. Không gian và thời gian nghệ thuật .......................................................... 73
là điểm sáng để phát triển trí tưởng tượng và thu hút khả năng tìm tòi, khám phá
của trẻ thơ.
1.2. Trong quá trình phát triển, Văn học thiếu nhi xuất hiện với nhiều nhà
văn tên tuổi như: Nguyễn Nhật Ánh, Phạm Hổ, Võ Quảng... Mỗi nhà văn mang
cho mình những đề tài, đối tượng và phương thức phản ánh riêng. Nếu như
Nguyễn Nhật Ánh được coi là “Hoàng tử bé” trong thế giới trẻ thơ với bức
tranh đa màu sắc của tình yêu thương và gắn bó nghĩa tình; Phạm Hổ là những
vần thơ tươi mát, trẻ trung cùng nhiều yếu tố bất ngờ, ngộ nghĩnh; Võ Quảng
với hồn thơ sôi động và mang ý nghĩ giáo dục mạnh mẽ, thì văn chương Vũ
Hùng là những chiêm nghiệm và triết lí….
1.3. Nhưng xét về mặt nhu cầu của trẻ thơ và những gì văn học đã dành cho
lứa tuổi thần tiên này, trong bối cảnh xã hội và văn học hiện nay, văn học viết
cho thiếu nhi nói chung và truyện viết về loài vật nói riêng hầu như chưa được
sự quan tâm và đầu tư đúng như nó cần phải có. Các cây bút dường như ít để
2
tâm đến thế giới trẻ thơ đầy màu sắc. Chính vì lẽ đó, văn học thiếu nhi với mảng
đề tài loài vật đã và đang để lại nhiều khoảng trống cần lấp đầy.
1.4. Nhà văn Vũ Hùng với những tác phẩm văn học thiếu nhi nổi danh từ
những năm 60 của thế kỷ XX đã và đang hấp dẫn được thế hệ trẻ thơ bằng
những hình ảnh về thế giới thiên nhiên vừa kỳ ảo vừa chân thực nhưng lại làm
lay động trái tim con người. Một khoảng trời lung linh, rực rỡ sắc màu với cuộc
sống sôi động và náo nhiệt của thiên nhiên, muôn thú. Qua những tác phẩm của
mình, nhà văn Vũ Hùng đã tạo cho độc giả thiếu nhi nói riêng và chúng ta nói
chung hiểu biết thêm về một thời thiên nhiên, đất nước tươi đẹp và hiền hòa.
Trong bối cảnh văn học hiện nay, những trang văn của Vũ Hùng dành cho thiếu
nhi thật đáng trân trọng.
1.5. Bằng tâm huyết và tình cảm của mình, nhà văn Vũ Hùng đã gắn bó và
vừa rất thực, đủ sức lay động trái tim của độc giả. Còn nhà báo Nguyễn Như
Mai thì cho rằng, đọc sách Vũ Hùng thấy cả một thế giới động vật cựa quậy,
sống động trong đó”[59]. Và ẩn sau thế giới của muông thú, những bầy hươu
nai, bầy voi, những con bò tót hùng dũng, lũ báo gấm uyển chuyển… là cả
những bài học sâu sắc của cuộc đời, dạy trẻ em yêu thiên nhiên, yêu quê hương
và yêu đất nước.
- Bài “Vũ Hùng: Nhà văn của rừng – thiên nhiên – muôn thú” của nhà báo Tân
An đã đưa ra các nhận xét của một số nhà văn: Trần Đức Tiến, Nguyễn Như
Mai, Trần Quốc Toản, Vương Trí Nhàn. Tất cả các lời nhận xét đều khẳng định
Vũ Hùng là một nhà văn có một vị trí đặc biệt trong mảng văn học thiếu nhi.
- Bài “Những bài học cuộc sống qua thiên nhiên trong các tác phẩm của nhà
văn Vũ Hùng” của nhà văn Tuyết Loan đăng trên báo Nhân dân ngày 28/9/2015
cũng đưa ra nhiều ý kiến đánh giá của các nhà văn về Vũ Hùng. Nhà văn Viết
Linh đánh giá cao sự hiểu biết của Vũ Hùng về phong tục của nhiều dân tộc, về
tập tính và cuộc sống thiên nhiên nhiều loài thú. Nhà văn Hà Phạm Phú nhận
xét: “Cuốn sách đầu tiên của Vũ Hùng mà tôi được đọc là “Mùa săn chim”, và
tôi đã có ấn tượng rất mạnh mẽ. Cách viết về thiên nhiên, về con vật trong các
tác phẩm của ông rất tinh tế và luôn có những bài học sâu sắc”[61]. Bà Lê Thị
Dắt, nguyên Tổng Biên tập Nhà xuất bản Kim Đồng chỉ ra bài học về tình yêu
thiên nhiên, đất nước đối với thiếu nhi qua những tác phẩm về muông thú của
nhà văn Vũ Hùng. Nhà văn Lê Phương Liên đưa ra một nét đặc biệt của Vũ
Hùng: để cho nhân vật của mình có cái nhìn trẻ em trong một môi trường người
lớn với cách kể chuyện rất bình dị nhưng rất hấp dẫn.
- Bài “Nhà văn Vũ Hùng – Người lưu giữ ký ức thiên nhiên Việt Nam” đăng trên
tạp chí Văn nghệ ngày 30/9/2015của nhà báo Phi Hà đã khẳng định rằng chính
4
những năm tháng sống tại đất nước Lào đã cho nhà văn Vũ Hùng những trải
- Sao sao, Nxb Kim Đồng, 2015
5
- Sống giữa bầy voi, Nxb Kim Đồng, 2015
- Con voi xa đàn, Nxb Kim Đồng, 2015
- Người quản tượng và con voi chiến sĩ, Nxb Kim Đồng, 2015
- Những kẻ lưu lạc, Nxb Kim Đồng, 2015
- Biển bạc, Nxb Kim Đồng, 2015
- Các bạn của Đam Đam, Nxb Kim Đồng, 2015
- Phía Tây Trường Sơn, Nxb Kim Đồng, 2015
- Chim mùa, Nxb Kim Đồng, 2015
- Bí mật của rừng già, Nxb Kim Đồng, 2015
- Mùa săn trên núi, Nxb Kim Đồng, 2015
- Phượng hoàng đất Nxb Kim Đồng, 2015
- Vườn chim, Nxb Kim Đồng, 2015
4. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: trên việc phân tích các văn bản và từ
các ý kiến nhận xét để tổng hợp và đưa ra nhận định về từng vấn đề.
- Phương pháp liên ngành (Văn học – Văn hóa học): để thấy được tính liên
kết giữa văn học và đời sống thực tiễn.
- Thao tác nghiên cứu tài liệu, giải thích, bình giảng, phân tích để khám phá
vẻ đẹp và ý nghĩa của các tác phẩm.
5. Mục đích nghiên cứu
Với đề tài nghiên cứu như trên, luận văn hướng đến mục đích nghiên cứu
sau đây:
- Tìm hiểu về văn học thiếu nhi nói chung, truyện viết về thế giới loài vật
nói riêng và quá trình sáng tác của nhà văn Vũ Hùng
- Chỉ ra được những nét đặc sắc về nội dung và nghệ thuật mà nhà văn Vũ
Theo Từ điển thuật ngữ văn học, văn học thiếu nhi được hiểu là: “Theo
nghĩa hẹp, văn học thiếu nhi gồm những tác phẩm văn học hoặc phổ cập khoa
học dành cho thiếu nhi. Tuy vậy khái niệm văn học thiếu nhi cũng thường bao
gồm một phạm vi rộng rãi những tác phẩm văn học thông thường cho người lớn
đã đi vào phạm vi đọc của thiếu nhi”[12;385]. Ở đây, khái niệm văn học thiếu
nhi được đưa ra một các mơ hồ, mới chỉ xác định được đối tượng đó là thiếu nhi.
Theo cuốn Bách khoa thư văn học thiếu nhi Việt Nam do hai tác giả
Vân Thanh và Nguyên An biên soạn, văn học thiếu nhi được hiểu như sau:
“Văn học thiếu nhi bao gồm:
- Những tác phẩm văn học được mọi nhà sáng tạo ra với mục đích giáo
dục bồi dưỡng tâm hồn, tính cách cho thiếu nhi. Nhân vật trung tâm của nó là
thiếu nhi và nhiều khi cũng là người lớn, hoặc là một cơn gió, một loài vật, hay
một đồ vật, một cái cây… Tác giả của văn học thiếu nhi không chỉ là chính các
em, mà cũng là các nhà văn thuộc mọi lứa tuổi.
- Những tác phẩm được thiếu nhi thích thú tìm đọc. Bởi vì các em đã tìm
thấy ở trong đó cách nghĩ, cách cảm cùng những hành động gần gũi với cách
nghĩ cảm và cách hành động của chính các em, hơn thế, các em còn tìm được ở
trong đó một lời nhắc nhở, một sự răn dạy, với những nguồn động viên, khích
lệ, những sự dẫn dắt ý nhị, bổ ích... trong quá trình hoàn thiện tính cách của
mình. Như thế, văn học thiếu nhi là người bạn thông minh, mẫn cảm của thiếu
nhi [49;68]. Theo cách hiểu này, đối tượng của văn học thiếu nhi cũng đã được
xác định và mục đích của văn học thiếu nhi là giáo dục, bồi dưỡng, định hướng
cho các em thiếu nhi. Người sáng tác văn học thiếu nhi là các nhà văn thuộc
mọi lứa tuổi.
Trong chuyên luận Thi pháp văn học thiếu nhi (2007), Bùi Thanh Truyền
cho rằng, văn học thiếu nhi là những tác phẩm văn học mà nhân vật trung tâm là
thiếu nhi hoặc được nhìn bằng đôi mắt trẻ thơ, với tất cả những xúc cảm, tình
8
- Văn học thiếu nhi “có vai trò quan trọng trong việc giáo dục toàn diện
nhân cách trẻ em về cả đạo đức, trí tuệ và tình cảm thẩm mĩ”. Chính vì lẽ đó,
Văn học thiếu nhi không chỉ xây dựng nhân cách, nâng cao trí tuệ, tình cảm
9
thẩm mĩ mà còn giáo dục thiếu nhi về tư tưởng, rèn luyện lập trường kiên định,
vững chắc thông qua các câu truyện từ đời sống xã hội.
- Văn học thiếu nhi mang tính định hướng. Đời sống xã hội, tự nhiên là
tất cả những gì mới mẻ đối với trẻ em. Vì tâm lý các em về cơ bản là rất yêu cái
đẹp, cái tốt, cái thực nên các nhà văn cần nắm bắt tâm lí của các em để định
hướng các em thỏa mãn nhu cầu khám phá của mình một các tự nhiên nhất. Tâm
hồn trẻ thơ sẽ được gây ấn tượng bằng những hình tượng nghệ thuật giàu giá trị
nhân văn từ đó tác động đến nhận thức, tư tưởng và quan điểm của trẻ em.
- Bắt nguồn từ bản chất ngây thơ, ngộ nghĩnh của trẻ em, văn học thiếu
nhi không thể thiếu đặc trưng về sự hồn nhiên, vô tư và trong sáng. Đặc tính này
tồn tại vĩnh cửu trong thế giới trẻ thơ, nếu mất đi trẻ thơ không còn là trẻ thơ
nữa. Những tác phẩm thơ, truyện do chính các em sáng tác bao giờ cũng thể
hiện những xúc cảm chân thành, hồn nhiên, trong trẻo,…như chính bản tính của
trẻ thơ.
- Trẻ em nào cũng thơ mộng và lãng mạn. Đó là thiên tính rõ nét nhất của
lứa tuổi từ ấu thơ cho đến lúc thành niên. Chính vì vậy, Văn học Thiếu nhi sẽ
phản ánh đặc tính thơ mộng và lãng mạn đó của trẻ em một cách gần gũi với
hiện thực nhất.
- Một đặc trưng quan trọng đối với văn học thiếu nhi là tính li kỳ, ấn
tượng bởi trẻ em rất thích tìm tòi, khám phá, hiếu kì và phiêu lưu. M.Gorki đã
từng nhận định “bản chất của trẻ em là đặc biệt yêu thích những cái gì chói lọi,
phi thường”. Dưới con mắt trẻ thơ, chúng luôn yêu thích và muốn khám phá
những điều mới lạ. Văn học thiếu nhi mang tính li kỳ và ấn tượng sẽ rèn luyện
học thiếu nhi. Qua đó giáo dục, định hướng phát triển tâm hồn và nhân cách
của trẻ thơ.
1.1.2. Thực trạng văn học thiếu nhi và truyện viết về loài vật dành cho thiếu
nhi ở Việt Nam
1.1.2.1. Thực trạng văn học thiếu nhi
Đối với mọi dân tộc, văn học thiếu nhi luôn là một bộ phận không thể
thiếu của văn học dân tộc. Trải qua thời gian, bộ phận văn học này dần dần thay
đổi toàn diện về cả nội dung lẫn hình thức. Theo nhà nghiên cứu Bùi Thanh
Tuyền có dẫn: “Văn học hiện đại viết cho thiếu nhi Việt Nam bắt đầu manh nha
từ những năm 20 của thế kỷ XX nhưng thực sự phát triển và trở thành một bộ
phận của văn học Việt Nam từ sau cách mạng tháng Tám năm 1945. Tiến trình
văn học thiếu nhi hiện đại có thể phân chia thành các giai đoạn chính sau đây:
- Trong những ngày đầu cách mạng tháng Tám và trong kháng chiến chống
Pháp, lực lượng viết cho các em mới chỉ có một số nhà văn chuyên nghiệp thỉnh
11
thoảng có sách cho thiếu nhi như nhà văn Nguyễn Huy Tưởng, Tô Hoài, Nguyễn
Tuân...
- Từ năm 1954, đội ngũ viết cho thiếu nhi ngày càng phát triển nhanh... Đây là
chặng đường mở đầu cho nền văn học thiếu nhi Việt Nam”. Có thể nói rằng,
cùng với sự thay đổi của điều kiện xã hội, văn học thiếu nhi cũng có những khởi
sắc mới mẻ và đạt được nhiều thành tựa to lớn.”. [55;42]
Các nhà nghiên cứu khoa học khác cũng khẳng định, văn học thiếu nhi manh
nha từ những năm trước cách mạng tháng Tám: “Văn học trẻ em Việt Nam thực sự
được hình thành và phát triển với tư cách là một bộ phận của văn học Việt Nam từ
khi cách mạng tháng Tám 1945 thành công, nhưng sự chuẩn bị thì có từ trước đó”
[23;38]. Dựa vào các tài liệu tham khảo tìm hiểu được, văn học thiếu nhi chia làm
các giai đoạn sau đây:
mai, Hoa xuân... nhưng những tác phẩm này gặp nhiều hạn chế trong phạm vi phản
ánh và xa rời thực tế. Thứ hai là nhóm hiện thực với các tác giả tiêu biểu: Nguyễn
Công Hoan, Tô Hoài, Tú Mỡ, Nam Cao... với các tác phẩm như: Tấm lòng vàng của
Nguyễn Công Hoan; Đám cưới chuột, Võ sĩ bọ ngựa, Dế mèn phiêu lưu kí của Tô
Hoài; Người thợ rèn, Bài học quét nhà của Nam Cao... Nhóm hai đã có ý thức viết
cho trẻ em những tác phẩm mang giá trị hiện thực sâu sắc. Nhìn chung, trước cách
mạng tháng Tám, các tác phẩm viết cho thiếu nhi mới xuất hiện tản mạn, lẻ tẻ và
chưa có phong trào. Nền văn học thiếu chi lúc này chưa được hình thành mà mới chỉ
đang ở những bước sơ khai ban đầu.
b. Giai đoạn kháng chiến chống Pháp (1945 – 1954)
Văn học thiếu nhi được quan tâm phát triển từ sau khi cách mạng tháng
Tám thành công. Đảng và nhà nước đã định hướng cho văn học thiếu nhi đạt
được những thành tựu đầu tiên. Trong tờ Thiếu sinh – tiền thân của báo Thiếu
niên tiền phong, ra số đầu tiên vào 1946, bác Hồ đã chỉ đạo rõ: “Báo trẻ em ra
đời, báo đó là của trẻ em. Vậy các trẻ em nên giúp cho báo, gửi tin tức, tranh vẽ
và viết bài cho báo. Nên đọc cho các em chưa biết chữ nghe, nên làm cho báo
phát triển”. Tháng 12/1946, số báo đặc biệt của báo Thiếu sinh ra đời với chủ đề
“Các em viết, các em vẽ”. Tờ báo này đã đánh dấu một dấu mốc quan trọng cho
lịch sử của văn học thiếu nhi Việt Nam. Bắt đầu từ đây, trẻ em đã có tờ báo dành
riêng cho mình. Tiếp theo đó là sự ra đời của một số tờ báo khác như: Thiếu
niên, Tuổi trẻ, Xung phong, Măng non, sách Kim Đồng, Hoa kháng chiến...
những người bạn mới nhưng thân thiết của các em nhỏ, góp phần bồi dưỡng, rèn
luyện và giáo dục tư tưởng, tình cảm, vốn sống, đức tính và nhân cách cho thiếu
nhi. Với một nền văn học thiếu nhi non trẻ, sự ra đời của những tờ báo dành cho
trẻ em có giá trị to lớn. Trong giai đoạn văn học thiếu nhi vẫn còn thô sơ và ít ỏi,
nội dung chủ yếu hướng đến tấm gương thiếu nhi dũng cảm trong kháng chiến.
13
Đó là tín hiệu mừng, báo hiệu sự khởi sắc của văn học thiếu nhi nước nhà. Số
lượng các tác phẩm ngày càng phong phú với các đề tài đa dạng:
14
+ Đề tài lịch sử: Lá cờ thêu sáu chữ vàng và Kể chuyện Quang Trung
của Nguyễn Huy Tưởng; Sóng gió Bạch Đằng và Bố cái đại vương của An
Cương; Nhụy Kiều tướng quân của Yến Hồng, Hoài Ban...
+ Đề tài sinh hoạt, lao động, học tập: Đàn chim gáy của Tô Hoài; Nơi xa
của Văn Linh; Tổ tâm giao của Trần Thanh Địch; Ngày công đầu tiên của cu Tí
của Bùi Hiển...
+ Truyện đồng thoại: Cái tết của Mèo con của Nguyễn Đình Thi; Chú đất
nung của Nguyễn Kiên; Bê và sáo của Phạm Hổ...
Ngoài ra, một đội ngũ hùng hậu về thơ thiếu nhi cũng xuất hiện: Vũ Ngọc
Bình, Huy Cận, Nguyễn Bá Dậu, Thanh Hải, Tế Hanh, Thái Hoàng Linh, Võ
Quảng, Xuân Tửu, Nhược Thủy, Phương Hoa... Năm 1961, Nhà xuất bản văn
học cho ra đời Tuyển tập thơ văn cho thiếu nhi 1945 – 1960 tuyển chọn và giới
thiệu 50 tác giả tiêu biểu, xuất sắc.
d. Thời kỳ kháng chiến chống Mỹ (1965 – 1975)
Trong bối cảnh đế quốc Mỹ tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc
bằng máy bay, văn học thiếu nhi bước vào chặng đường mới và phát triển mạnh
mẽ. Nhiều cây bút tài năng và các tác phẩm có giá trị xuất hiện nhằm mục đích
biểu dương, khích lệ, cổ vũ tinh thần học tập và chiến đấu của thiếu nhi. Các đề
tài không chỉ gói gọn như ở giai đoạn trước mà mở rộng và phong phú hơn.
- Đề tài kháng chiến chống Pháp: Đội du kích thiếu niên Đình Bảng của
Xuân Sách; Quê nội của Võ Quảng; Kim Đồng của Tô Hoài...
- Đề tài kháng chiến chống Mỹ: Những đứa con trong gia đình, Mẹ vắng
nhà của Nguyễn Thi; Chú bé Cả Xên của Minh Khoa; Đàm Văn Luyện của
Phạm Hổ; Út Tám của Ngô Thông; Em bé sông Yên của Vũ Cận...
Quảng; Cơn giông tố của Thu Bồn; Đội thiếu niên tình báo Bát Sát của Phạm
Thắng, Hồi đó ở Sa Kì của Bùi Minh Quốc; Cát cháy của Thanh Quế... Bên
cạnh đó, khi đất nước đã hoàn toàn thống nhất, các nhà văn chú trọng đế vấn đề
đạo đức con người. Một số tác phẩm như: Tình thương của Phạm Hổ; Bến tàu
trong thành phố của Xuân Quỳnh; Chú bé có tài mở khóa của Nguyễn Quang
Thân; Hành trình ngày thơ ấu của Dương Thu Hương...
Đề tài lịch sử ở giai đoạn trước thường khai thác lịch sử gắn với nhân vật
anh hùng và truyền thống anh dũng chống giặc ngoại xâm nay được nhà văn Tô
Hoài mở ra một hướng nghiên cứu mới là hướng khai thác lịch sử gắn với huyền
thoại, phong tục, tập quán. Về thơ, giai đoạn này gần như bế tắc khi không tìm
được hướng đi mới. Bước sáng giai đoạn năm 1986 đến nơi, nhiều cây bút trẻ
xuất hiện: Trần Thiên Hương, Nguyễn Quang Thiều, Lê Cảnh Nhạc, Nguyễn
16
Nhật Ánh, Hà Lâm Kì, Quách Liêu, Phan Hồn Nhiên, Phùng Ngọc Hùng,
Trương Hữu Lợi, Dương Thuấn, Mai Văn Hai, Thu Trân, Quế Hương, Nguyễn
Thị Châu Giang, Nguyễn Thúy Loan... Văn học thiếu nhi giai đoạn này thực sự
mang bộ mặt trẻ trung, tươi tắn, đầy sức sống và nhiệt huyết. Bên cạnh đó, làm
phong phú thêm cho đội ngũ sáng tác văn học thiếu nhi chính là các em thiếu
nhi. Có thể nói, đây là giai đoạn phát triển hùng hậu về đội ngũ sáng tác cũng
như đề tài sáng tác. Các tác phẩm văn học thiếu nhi với hướng tiếp cận mới mẻ,
sáng tạo và ngày càng đi sâu vào đời sống nội tâm của trẻ em.
+ Đề tài cách mạng và kháng chiến bên cạnh việc kế thừa và phát huy các
thành tựu cũ còn nhìn nhận và khai thác vấn đề ở chiều sâu mới, thực hơn, toàn
diện hơn. Ý nghĩa nhân văn của các tác phẩm hướng đến đời sống tinh thần và
nhân cách của con người. Chiến tranh qua đi, ý thức về cái tôi bên cạnh việc đổi
mới tư duy của Đảng cộng sản. Văn học từ chỗ lấy điểm nhìn xã hội làm hệ quy
chiếu chuyển sang cái nhìn đời tư, thế sự, số phận con người để đánh giá hiện
hôm qua, Thằng quỷ nhỏ, Nữ sinh, Hoa hồng xứ khác...của Nguyễn Nhật
Ánh. Văn học thiếu nhi ngày càng được đề cao và mang tính chuyên nghiệp.
Bên cạnh đội ngũ sáng tác có ý thức, có lý luận còn có những nhà nghiên cứu
chuyên về văn học thiếu nhi. Tuy đội ngũ này chưa nhiều nhưng họ đã ra mắt
độc giả những công trình lí luận, nghiên cứu đáng trân trọng: Truyện viết cho
thiếu nhi dưới chế độ mới và Văn học thiếu nhi như tôi được biết của Vân
Thanh; Đôi điều tâm đắc của Vũ Ngọc Bình; Hoa trái mùa đầu và Mười năm
ghi nhận của Văn Hồng; Truyện viết cho thiếu nhi sau năm 1975 của Lã Thị
Bắc Kỳ; Thơ với tuổi thơ của Trúc Chi...
Bên cạnh sự đa dạng về đề tài, thể loại, văn học thiếu nhi còn đa dạng về
giọng điệu: “Trước năm 1975, văn học thiếu nhi khá nhất quán về giọng điệu...
đó là giọng văn xuôi theo xu hướng ngợi ca hướng về hiện thực cách mạng và
đại chúng nhân dân, diễn đạt kinh nghiệm cộng đồng với mong muốn giáo dục
các em trở thành những con người mới xã hội chủ nghĩa, biết yêu tổ quốc, yêu
đồng bào,... Quá trình đổi mới đất nước, đổi mới văn học, đề cao ý thức cá nhân
đã tác động mạnh mẽ tới văn học thiếu nhi... Mặt khác, do cách tiếp cận đời
sống đa dạng, không bị khuôn vào một hướng duy nhất, văn học đòi hỏi cũng
phải đa dạng về giọng điệu mới có thể thể hiện được nhiều sắc thái khác nhau
của cuộc sống”[41;46]. Giọng điệu của văn học thiếu nhi sau 1975 khá đa dạng:
Giọng báo chí thông tấn, giọng suy tư triết lí, giọng tinh nghịch hóm hỉnh...
Từ giai đoạn này trở đi, hàng loạt các cuộc thi sáng tác văn học cho thiếu
nhi được tổ chức: Cuộc vận động sáng tác truyện và tranh truyện cho thiếu nhi
do NXB Kim Đồng tổ chức năm 1993 – 1995; Cuộc thi sáng tác truyện ngắn và
18
thơ cho trẻ em do ủy ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em Việt Nam hội Nhà văn Việt
Nam kết hợp tổ chức với UNESCO tại Việt Nam phối hợp tổ chức... Trong giai
đoạn này, bên cạnh những tác phẩm viết trong nước, các nhà văn đã nhanh
19
Sang giai đoạn kháng chiến chống Mĩ, truyện loài vật tăng nhanh về số lượng
các tác phẩm xuất sắc. Có nhiều tác phẩm trong nước và cả nước ngoài. Đội ngũ nhà
văn đông đảo và bắt đầu chú ý đến nội dung, đề tài phản ánh. Truyện viết về loài vật
vẫn giữ đúng được phong độ phát triển. Các tác phẩm: Chú bò tìm bạn, Bê và sáo
của Phạm Hổ, Gà mái hoa của Võ Quảng, Cái tết của mèo con của Nguyễn Đình
Thi, Chú đất nung của Nguyễn Kiên...
Từ những năm 1975 đến đầu thập kỷ 80, xã hội Việt Nam bước vào thời kỳ
đổi mới, văn học vì thế cũng có những chuyển biến đáng kể, truyện viết về loài vật
có những tìm tòi sáng tạo trên nội dung và hình thức. Một số tác phẩm tiêu biểu như:
Chuyến đi thứ hai, Bài học tốt, Trong một hồ nước, Hòn đá, Mèo tắm, Trai và Ốc
gai... của Võ Quảng, Đề tài được mở rộng, chính vì thế cuộc sống của con người
được khai thác thông qua thế giới nghệ thuật của loài vật. Ở giai đoạn này, truyện
viết về loài vật còn được thể hiện dưới hình thức truyện tranh với các tác phẩm tiêu
biểu như: Cá rô ron không vâng lời mẹ của Văn Hồng và Mai Long; Chú lợn đất
của Thy Thy Tống Ngọc...
Từ năm 1980 trở lại đây, hàng loạt các nhà văn tên tuổi trình làng tác phẩm
của mình về đề tài viết về loài vật: Lâm Thị Mỹ Dạ, Phạm Hổ, Ma Văn Kháng, Trần
Mạnh Hảo, Vũ Tú Nam, Nguyễn Nhật Ánh... Truyện viết về loài vật giai đoạn này
đạt được nhiều thành tựu về lực lượng sáng tác, số lượng tác phẩm, đề tài, nội dung,
phương diện phản ánh, độc giả với những tác phẩm có cốt truyện thú vị, chi tiết sinh
động và tiếp cận sâu với đời sống của con người. Trong quá trình sáng tác truyện loài
vật, các nhà văn rất chú ý đến việc nhân hóa loài vật. Chính vì lẽ đó, truyện viết về
loài vật trở nên li kỳ, thơ mộng và hấp dẫn bạn đọc. Thế giới loài vật mang tính đa
diện, vừa phản ánh đời sống loài vật, vừa là hệ quy chiếu cuộc sống của con người.
Trong chặng đường phát triển của văn học thiếu nhi, truyện viết về loài vật có nhiều
biến chuyển. Từ chỗ đơn giản về nội dung, cốt truyện đến sự đa dạng, sinh động về
đề tài, chi tiết truyện. Truyện viết về loài vật mang đậm tính nhân văn cao đẹp với
những suy nghĩ ngây thơ, trong trẻo và thánh thiện. Với sự đổi mới về nội dung, hình
doanh nghề này 5 năm, chẳng những nâng cao thu nhập cho gia đình mà còn mở
cho nhà văn Vũ Hùng những chân trời mới: hè đến nhà văn Vũ Hùng được cùng
chị cả vào Nghệ An, Huế để thu tiền giúp mẹ và nghiên cứu thị trường. Ngôi
nhà mới của ông ở đối diện ngôi nhà của một người Ấn Độ có người vợ là người
Việt và một đứa con gái mang dòng máu lai. Cách đó, xuôi về phía chùa Láng là
nhà của ông Tú Mỡ. Việc kinh doanh của mẹ ông rất thuận lợi và phát đạt. Năm
1940, cha mẹ ông quyết định xây khu nhà mới trên một vùng đất trên lề đường
Láng rộng chừng 1000m2. Khu nhà mới của gia đình ông gồm một ngôi nhà lớn