BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HỒ CHÍ MINH
________________________________
NGÔ ĐÌNH VÂN NHI
ĐẶC ĐIỂM
TRUYỆN VIẾT CHO THIẾU NHI
CỦA PHẠM HỔ
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60 22 34
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. NGUYỄN THỊ HỒNG HÀ
MỞ ĐẦU
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Văn học thiếu nhi từ lâu đã trở thành “một bộ phận có vị trí đặc biệt trong mỗi nền văn học dân
tộc” [48, tr.7]. Nó được xem là hành trang quan trọng cho trẻ em trên suốt đường đời, bởi lẽ những gì lưu
giữ trong thời niên thiếu rất khó phai mờ. Véra C.Barclay - một nữ trưởng hướng đạo, chuyên ngành về
Sói con - trong lúc nghiên cứu phương pháp hướng đạo để giúp hình thành tính cách cho trẻ lứa tuổi 8-12,
đã kết luận một số điều có liên quan đến văn học cho thiếu nhi như sa
u: “Trong trái tim mỗi trẻ em đều có
cái mà ta gọi là bản năng về sự huyền diệu và sự kì lạ… Chính là trong khi nghe chuyện mà em nhỏ giải
được cơn khát cái huyền diệu, bởi vì, nhờ câu chuyện ấy, em có thể ngao du trong thế giới của truyền
thuyết và hút đầy bầu phổi không khí phấn khởi của nó” [80, tr.47]. Cũng theo Véra C.Barclay, những câu
chuyện mà trẻ em được đọc, được
nghe kể từ thuở nhỏ là thức ăn tưởng tượng: “em nhỏ, khi nghe một câu
chuyện, sẽ hấp thu những ý nghĩ và tích tụ chúng trong trí nhớ, một ngày mưa nào đó, chúng quay trở lại
làm cho vui lên và tô màu sắc cho cuộc sống âm u, cho tới khi lại có một câu chuyện khác, đến lượt nó,
chiếu cái chùm ánh sáng của nó với một sắc thái khác nữa vào cái cảnh bé nhỏ âm u của lí trí em nhỏ”
[80, tr.48]. Thực tế, không ai không t
hừa nhận vai trò của văn học thiếu nhi đối với việc bồi dưỡng tâm
hồn, cao hơn là xây dựng nhân cách cho các thế hệ trẻ thơ. Không ít người trưởng thành đã khẳng định:
những cuốn sách quan trọng nhất đời ta chính là những cuốn đọc từ thời thơ ấu. Mikhain Ilin - nhà văn
Nga chuyên viết truyện khoa học cho thiếu nhi - từng thổ lộ tâm sự: “Trước khi kể chuyện tôi bắt đầu viết
văn như thế nào, t
ôi muốn kể cho các bạn biết tôi đã bắt đầu đọc sách như thế nào” [53, tr.50] . Còn
Assen Bossev - nhà văn Bugari, tác giả của 60 tập truyện ngắn và thơ viết cho thiếu nhi - khẳng định:
“Những cuốn sách hay đều là người bạn đường vĩnh viễn của tuổi nhỏ; chính chúng cho trẻ con đôi cánh
để bay lên mà chinh phục cuộc sống” [4, tr.47 ]. Và chúng ta hãy xem ý nghĩa lớn lao của việc nghe thầy
đọc thơ đối với tâm hồn, trí tưởng tượng và tì
nh cảm của một chú bé 9 tuổi người Việt Nam:
và Phạm Hổ vẫn để lại không ít ấn tượng sâu sắc trong tâm trí của bạn đọc thiếu nhi. Chúng tôi cho rằng
việc đánh giá, ghi nhận lại vị trí của những cây bút tâm huyết dành cho nền văn học thiếu nhi nước nhà là
việc làm cần thiết, trong đó không thể không kể đến một gương mặt que
n thuộc mà thiếu nhi Việt Nam rất
mến yêu: Phạm Hổ.
Sinh thời, Phạm Hổ thường hay nói đến một khát vọng giản dị nhưng mãnh liệt của mình là được
làm bạn với trẻ con. Ông đã sáng tác trên cả ba địa hạt: thơ, văn xuôi, kịch và để lại một sự nghiệp văn
học dành cho trẻ em khá dày dặn.
Nhiều nhà nghiên cứu đã tỏ ra rất chú trọng đến bộ phận thơ ca viết cho
thiếu nhi của Phạm Hổ. Tuy nhiên, gia tài văn chương của Phạm Hổ không chỉ có thơ, mảng truyện viết
cho thiếu nhi của ông cũng cần được nghiên cứu kĩ càng. Có như vậy, chúng ta mới đánh giá được hết
những đóng góp của Phạm Hổ đối với nền văn học thiếu nhi Việt Nam hiện đại.
Ngoài ra, người viết cũng ghi nhận một yêu cầu xuất phát từ thực tiễn: nền văn học hiện đại Việt
Nam dành cho thiếu nhi không chỉ đứng trước cuộc thử thách cạnh tranh với những “thú vui” đa dạng
khác của thời buổi công nghệ như internet, điện thoại di động mà còn “bất lực” trước sự xâm chiếm của
những tác phẩm văn học thiếu nhi nước ngoài. Một thực tế buộc nhiều nhà văn Việt Nam phải suy nghĩ:
truyện tranh nước ngoài đang là sản phẩm văn hóa được nhiều bạn nhỏ lựa chọn hoặc mảng truyện chữ
trong nước dẫu từng được đánh giá là có truyền thống mạnh mẽ, nay cũng đang nhường thị trường cho các
tác phẩm nước ngoài. Hiện tượng thiếu nhi Việt Nam say sưa Đôrêmon trước kia và Harry Potter gần đây
là những ví dụ điển hình. Trong cuộc hội thảo “Văn học thiếu nhi thời hiện đại” do hội nhà văn TPHCM
tổ chức vào ngày 28/10/2005, nhiều cây bút thừa nhận văn học thiếu nhi trong nước đang
rơi vào thời kì
suy thoái. Các nhà văn có tâm huyết đã bàn luận phương cách tháo gỡ nhưng kết thúc hội thảo, kết luận
chỉ có thể là trông chờ sự thay đổi. Nhà văn Trần Hoài Dương - một người dành cả cuộc đời gắn bó với
công việc sáng tác văn học cho trẻ em - nhận xét về tình hình phát triển văn học thiếu nhi Việt Nam như
sau: “Đội ngũ sáng tác trên diện rộng, đông đảo. Tuy nhiên, những tác giả c
ó cá tính, bản sắc riêng thì
hiếm. Người viết trẻ lại không có ý định theo đuổi đến cùng con đường viết văn cho thiếu nhi. Lớp trẻ
chưa đột biến, lớp già như tôi thì gần hết vốn, mệt mỏi và khó bắt kịp đời sống hiện đại. Phải thừa nhận là
công trình nghiên cứu về văn học trẻ em dày dặn nhất ở nước ta hiện nay.
Có nhiều nguyên nhân khiến cho mảng nghiên cứu văn học thiếu nhi thiếu bề rộng lẫn bề sâu so
với các bộ phận nghiên cứu văn học khác. Nhưng có lẽ lí do lớn nhất là thiếu độc giả của phê bình văn học
thiếu nhi. Thực tế trên dẫn đến hệ quả là khu vực nghiên cứu văn học thiếu nhi còn rất nhiều khoảng
trống.
Từ tình hình chung đó, dẫu được đánh giá là cây bút tiêu biểu của nền văn học thiếu nhi Việt Nam,
Phạm Hổ và các sáng tác của ông cũng chưa thực sự được qua
n tâm đúng mức. Nhiều bài viết và công
trình nghiên cứu tập trung vào mảng thơ ca của Phạm Hổ: Phạm Hổ và tuổi thơ của Vân Thanh (Bách
khoa thư văn học thiếu nhi Việt Nam, NXB Từ điển Bách khoa Hà Nội, trang 269), Người ở xứ thần tiên
của Trần Đăng Khoa (Tuyển tập Phạm Hổ, NXB Văn học, trang 3), Thiên nhiên trong thơ viết cho thiếu
nhi của Phạm Hổ của Phạm Phương Liên (internet), Phạm Hổ thơ viết cho lứa tuổi nhi đồng của Lê Nhật
Ký (Thông báo khoa học, Đại học Quy Nhơn, số 31)…
Trong khi đó, mảng truyện viết cho thiếu nhi của
Phạm Hổ chưa được quan tâm thỏa đáng.
Ngay trong các giáo trình giảng dạy cho sinh viên như Văn học thiếu nhi Việt Nam (PTS Trần Đức
Ngôn chủ biên, Trường ĐHSP HN I, 1995), phần viết về Phạm Hổ khoảng 8 trang t
hì có đến 6 trang viết
về thơ, phần truyện viết cho thiếu nhi của Phạm Hổ chỉ được đánh giá trên diện rộng, bề mặt. Tuy nhiên,
chúng tôi vẫn ghi nhận một số nhận xét để làm cơ sở cho việc nghiên cứu của mình: “Mỗi câu chuyện của
Phạm Hổ là sự tích một loài cây hoa, quả. Ông giới thiệu cho các em những đặc điểm bề ngoài, tính chất,
tác dụng của chúng và thái độ của con người đối với
chúng. Ông giải thích nguồn gốc xuất hiện của
chúng và lí do những cái tên chúng mang” [60, tr.72]. Quan trọng hơn, người biên soạn sách đã đề cập
đến bề sâu và ý nghĩa của những câu chuyện mà Phạm Hổ viết: “Sự tích hoa quả bao giờ cũng được gắn
với một phương diện nào đó trong cuộc sống con người, hoặc gắn với những số phận con người có thực.
Qua những câu chuyện cảm động ấy, nhà văn đã ca ngợi những phẩm chất tốt đẹp của con người, hướng
các em tới tình yêu thương nhằm giảm đi những điều xấu, điều ác” [60, tr.73].
Đến năm 2003, Giáo t
Trong khung thời gian một năm tích cực tìm kiếm tư liệu từ các nguồn khác nhau, chúng tôi nhận
thấy bài viết chuyên tâm đầu tiên về văn xuôi của Phạm Hổ là tham luận Phạm Hổ với những “
Chuyện
hoa, chuyện quả” của anh của nhà văn Nguyên Ngọc trong cuộc hội thảo về ba nhà văn chuyên viết cho
thiếu nhi năm 1986. Khi ấy, số lượng truyện viết cho thiếu nhi của Phạm Hổ còn khá mỏng (Chuyện hoa,
chuyện quả ra đời mới hai tập), nhưng trong tham luận Nguyên Ngọc đã có những đánh giá khá sắc sảo về
nội dung chính trong truyện của Phạm Hổ: “Dường như tác giả Chuyện hoa chuyện quả đang m
uốn đưa
ra một lý thuyết khác về nguồn gốc muôn loài. Anh nói với các em: Các em ạ, thế giới quanh ta muôn vẻ
kì lạ kì diệu như vậy, tất cả là do con người làm ra cả đấy. Nguồn gốc của muôn loài chính là ở tình yêu,
tình thương và lòng tốt của con người”. Ngoài ra, Nguyên Ngọc còn tìm thấy những điểm rất thú vị trong
truyện viết cho thiếu nhi của Phạm Hổ: “Hì
nh như văn học ta ít lâu nay, cả văn học viết cho các em, bận
bịu chính đáng vì những vấn đề xã hội lớn, mà chừng có hơi xao lãng về thiên nhiên chăng? Anh Phạm
Hổ đã giải quyết mối quan hệ đó theo cách của anh: tìm thấy xã hội, những vấn đề xã hội trong chính
thiên nhiên”. Tuy nhiên, trong khuôn khổ hạn chế của một tham luận đọc tại hội nghị, Nguyên Ngọc chưa
có điều kiện khơi mạch suy nghĩ rộng và sâu hơn nữa về nội dung tư tưởng trong truyện viết cho t
hiếu nhi
của Phạm Hổ. Bài viết của ông thiên về đánh giá nội dung mà chưa quan tâm đến bình diện hình thức
nghệ thuật trong những sáng tác ấy.
Bài viết thứ hai tỏ ra một hướng khẳng định rõ hơn về vị trí của Phạm Hổ trong mảng văn xuôi là
bài Đóng góp của Phạm Hổ cho một thể loại văn học thiếu nhi của Phạm Bá Tân - giảng viên trường Cao
đẳng sư phạm Nghệ An, đăng trên tạp chí Nghiên cứu văn học số 9-2004. Người nghiên cứu xác định
ngay từ đầu mục đích của mình là “muốn tì
m hiểu, nghiên cứu, giới thiệu cho giáo sinh, sinh viên những
vẻ đẹp phong phú và giàu có của văn xuôi viết cho thiếu nhi của Phạm Hổ” [69, tr.123]. Người nghiên
cứu khá tâm đắc khi phát hiện ra rằng: “tình thương đầm ấm cùng với tình yêu thiên nhiên, cây cỏ, tình
yêu trẻ thơ và vốn văn hóa dân gian giàu có đã giúp Phạm Hổ sáng tạo được những thiên huyền thoại về
các loài hoa và quả; hình tượng cây quả, cây hoa trong truyện của Phạm Hổ chính là hình tượng có tính
ẩn dụ về nhiều l
sở nền tảng cho những suy nghĩ của mình. Tuy nhiên, có thể nói, chúng tôi là người đầu tiên mạnh dạn
xem truyện viết cho thiếu nhi của Phạm Hổ là đối tượng để nghiên cứu một cách toàn diện và hệ thống.
3. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Để có thể kết luận về đặc điểm truyện viết cho thiếu nhi của Phạm Hổ, chúng tôi cho rằng phải xem
xét đầy đủ các câu chuyện trong gia tài truyện viết cho thiếu nhi của Phạm Hổ. Chỉ tính trên tên các truyện
ngắn đã được in sách (chúng tôi không kể tên tập truyện vì qua những lần xuất bản, tái bản, việc sắp xếp
khác nhau nên không chính xác t
rong thống kê số lượng truyện viết của tác giả), Phạm Hổ viết khoảng 54
truyện cho thiếu nhi. Tuy nhiên, trong quá trình phân loại, chúng tôi nhận thấy 2 truyện Viết thư cho cha
(1959) và Khẩu súng người ông (1960) nằm chung một nhóm truyện viết trong hoàn cảnh chiến tranh;
truyện Những c
hú sẻ con (1988) thuộc thể loại đồng thoại, còn lại 51 câu chuyện thuộc 3 dạng: truyện cổ
tích mới, truyện cổ viết lại, truyện cổ viết tiếp. Vì vậy, chúng tôi quyết định khoanh vùng 51 truyện có
cùng điểm chung là mang hơi hướng của truyện cổ dân gian, trong đó có 47 truyện thuộc 6 tập truyện mà
Phạm Hổ đặt tên chung là Chuyện hoa chuyện quả cùng viết về sự tích các loài hoa và loài quả thu hút sự
chú ý của chúng tôi nhiều nhất.
Với tỉ lệ 47/54 truyện ngắn, chúng tôi cho rằng phạm vi nghiên cứu khảo sát như thế cũng khá ổn,
bởi nó chiếm trên 87% gia tài văn xuôi viết cho thiếu nhi của Phạm Hổ. Hơn nữa 47 câu chuyện ấy, Phạm
Hổ đã dày công viết trên 20 năm (1972-1995). Điều đó cho thấy 47 câu chuyện này là một hướng viết
truyện đầy tâm huyết của Phạm Hổ dà
nh cho trẻ em nước nhà.
Và chúng tôi chủ yếu sẽ khảo sát 47 truyện ngắn thuộc tập Chuyện hoa, chuyện quả của Phạm Hổ
để tìm hiểu đặc điểm về cảm hứng tư tưởng và nghệ thuật kể chuyện cho thiếu nhi của nhà văn.
4. PHƯƠNG P
HÁP NGHIÊN CỨU.
Để thực hiện luận văn này, người viết sử dụng một số phương pháp nghiên cứu khoa học sau:
4.1. Phương pháp hệ thống.
Chúng
tôi đặt đối tượng nghiên cứu của mình: truyện viết cho thiếu nhi của Phạm Hổ vào hệ thống
6. BỐ CỤC LUẬN VĂN.
Luận văn gồm năm phần chính: Ngoài phần dẫn luận và kết luận, phần nội dung đư
ợc chia thành ba
chương dựa trên nội dung nghiên cứu:
Chương 1: Phạm Hổ và quan niệm sáng tác của ông.
Chương 2: Cảm hứng tư tưởng trong truyện viết cho thiếu nhi của Phạm Hổ.
Chương 3: Nghệ thuật kể chuyện cho thiếu nhi của Phạm Hổ. Chương 1: PHẠM HỔ VÀ QUAN NIỆM SÁNG TÁC1.1. Tiểu sử và sự nghiệp sáng tác.
1.1.1. Tiểu sử.
1.1.1.1. Phạm Hổ - cuộc đời.
Vào ngày 28 tháng 11 năm 1926, xã Nhơn An (ngày trước gọi là xã Thanh Liêm), huyện An Nhơn,
tỉnh Bình Định đón chào sự ra đời của một “chú bé”mang cái tên rất dữ: Phạm Hổ (sau này, Phạm Hổ còn
lấy bút danh là Hồ Huy). Lần theo kí ức của Phạm Hổ, chúng ta thấy rằng làng quê nghèo và không yên ả
của những năm tuổi thơ ấy đã để lại trong tâm trí Phạm Hổ những tình cảm thân thương dịu ngọt. Phạm
Hổ sống xa
quê hơn 50 năm - hoàn cảnh này là một thôi thúc, tạo nên chiều sâu cho mảng sáng tác với
cảm hứng tình yêu quê hương trong sáng tác của ông. Mỗi khi có dịp viết về miền đất và con người Bình
Định, Phạm Hổ luôn tỏ ra say sưa với những tình cảm quê hương ngọt ngào, nhất là khi nó gắn liền với
những kí ức tuổi thơ trong trẻo, mộc mạc mà thấm
sâu trong lòng ông (xem phụ lục).
Năm 1943, Phạm Hổ đỗ thành chung nhưng vì bị tai nạn nên không thể ra Huế học ban tú tài
trường Quốc học Huế. Ông làm thư kí công nhật cho tòa sứ Quy Nhơn để giúp đỡ mẹ nuôi các em và tự
học để thi tú tài.
Cách mạng tháng Tám thành công - theo lời tự thuật của Phạm Hổ - cái duyên nghiệp với văn học
nghệ thuật mới bắt đầu, dẫu rằng ông vốn s
[38, tr.3].
Dường như đã từ rất lâu, không kịp hiểu xem bắt nguồn từ duyên cớ gì, cái tên Phạm Hổ hiện lên
trong tâm trí của người đọc, nhất là trẻ em, không phải là tuổi tác, quê quán hay cuộc đời hoạt động nghệ
thuật, hay cả các chức vụ mà ông từng đảm trách hoặc các danh hiệu vinh hiển mà ông được phong tặng.
Ông thường được các em thiếu nhi định danh bằng tên tác phẩm: nhà thơ "Chú bò tìm bạn", bác "Chuyện
hoa, chuyện quả". Nhà văn Nguyên Ngọc có lần đã kể câu chuyện về đứa con gái nhỏ tuổi của mình: “…
Anh Phạm Hổ đến chơi nhà tôi vào lúc cháu bé mới lên mười tuổi đi học về. Cháu đã gặp bác Phạm Hổ
mấy lần. Tôi hỏi: Con biết ai đây không? Cháu trả lời: “Cháu chào bác Chuyện hoa chuyện quả ạ !”
Phạm Hổ - đó là con người không có tuổi. Tâm hồn ông chưa hề già
cỗi dẫu rằng sức khỏe và màu
tóc vẫn “xuôi theo” quy luật hạn hẹp của thời gian trần thế. Có lẽ vì vậy mà Phạm Hổ mới có thể kết bạn
với trẻ thơ lâu đến vậy, và kì lạ hơn là trẻ thơ cũng không thấy “chán” anh rồi chú rồi bác hay cả ông
Phạm Hổ.
Trần Đăng Khoa gọi Phạm Hổ là “người ở xứ thần tiên” [38, tr.3]
. Trong đôi mắt trẻ thơ, Phạm Hổ
là chủ nhân một kho báu những điều màu nhiệm, lạ kì về thế giới thiên nhiên. Ông mở ra cánh cổng với
biết bao điều huyền diệu và từng bước nâng cánh cho biết bao con diều ước mơ của tuổi thơ.
Người ta hình dung về chân dung của Phạm Hổ như sau: khuôn mặt nhân hậu, hiền lành. Cái tên
của ông dường như chỉ là sự ngụy trang bên ngoài - nhưng nó không làm các bạn nhỏ xa lánh m
à ngược
lại, thiếu nhi càng thấy yêu mến cái tên ấy hơn, yêu mến con người ấy hơn.
Nhân hậu và cũng rất tinh nghịch - Phạm Hổ có cái tinh nghịch rất hồn nhiên của trẻ em. Phạm Hổ
có cái nhìn riêng về thế giới thiên nhiên và cuộc sống mà từ cái nhìn ấy, người ta phát hiện ra nụ cười
đáng yê
u, trẻ trung của ông. Thế giới vô tri vô giác qua lăng kính Phạm Hổ bỗng dưng sinh động và trở
thành những người bạn hết sức lạ lùng. Đó là những con vật ngộ nghĩnh đáng yêu (Những người bạn nhỏ).
Đó là những cây cối trong vườn dâng hoa thơm trái ngọt (Bạn trong vườn). Đó là đồ vật quen thuộc bình
thường trong cuộc sống nhưng lại là những người bạn im lặng (Những người bạn im lặng). Cái tinh
nghịch của Phạm Hổ luôn làm người ta thấy lạ lùng. Để mỗi lần “tiếp xúc” với ông lại là một lần người
Suốt đời tôi chỉ mơ
Được làm cho các em
Những bài thơ nho nhỏ
Như những hòn bi xanh đỏ các em chơi.”
(Những bài thơ nhỏ)
Khát vọng ấy của Phạm Hổ không phải dễ thực hiện. Cho nên hóa ra điều tưởng chừng như rất giản
dị ấy mà đã lấy đi cả một đời người hơn 80 năm của Phạm Hổ. Sự giản dị ấy không đồng nghĩa với sự đơn
giản hay tầm thường! Bởi Phạm Hổ đã làm được một điều giản dị mà vô cùng ý nghĩa đối với cuộc đời:
cho đi tất cả tình yêu của trái tim và nhận về biết bao yêu thương trân trọng.
Tựu trung, để nói về chân dung Phạm Hổ một cách ngắn gọn nhất, không có đánh giá nào chính
xác bằng nhận định: Phạm Hổ - người yêu trẻ.
1.1.2. Sự nghiệp sáng tác.
Phạm Hổ sáng tác nhiều thể loại: thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết cho cả người lớn và trẻ em. Sự
phong phú trong thể loại và số lượng dà
y dặn của tác phẩm ít nhiều chứng minh cây bút Phạm Hổ có
nguồn tiềm lực sáng tạo dồi dào và khá linh động.
Viết cho người lớn, Phạm Hổ có những tác phẩm khá đặc sắc như: Cây bánh tét của người cô,
Người vợ lẽ, Vườn xoan (truyện ngắn), Những ô cửa những ngả đường (thơ)…
Tuy nhiên, nói đến Phạm Hổ trước hết và hơn hết phải nói đến sự đóng góp của ông cho nền văn
học thiếu nhi nước nhà. Hơn 60 năm cầm bút vì tình yêu trẻ, Phạm Hổ đã để lại khoảng trên 20 tập thơ, 9
tập truyện và 4 vở kịch tặng riêng các em [49, tr.102].
Những tác phẩm chính:
Thơ:
Em tre (1948)
Chú bò tìm bạn (1957)
Em thích em yêu (1958)
Những người bạn nhỏ (1960)
Bạn trong vườn (1967)
Giải thưởng chính thức về thơ viết cho thiếu nhi của hội đồng văn học thiếu nhi, Hội nhà
văn Việt Nam với tập thơ “Những người bạn im lặng” (1985).
Giải thưởng cuộc thi s
áng tác kịch bản cho thiếu nhi do Hội nghệ sĩ sân khấu tổ chức với vở
kịch “Nàng tiên nhỏ thành Ốc” (1986).
Với những đóng góp quan trọng cho nền văn học thiếu nhi, Phạm Hổ xứng đáng với Giải thưởng
Nhà nước về văn học nghệ thuật ( đợt I-2001).
1.2. Q
uan niệm sáng tác của Phạm Hổ.
1.2.1. Về thiên chức: nhà văn của thiếu nhi.
Phạm Hổ không chỉ viết cho trẻ em, ông cũng có nhiều sáng tác dành cho người lớn. Song, như
một duyên nợ, bạn đọc vẫn biết về ông trước hết, với tư cách của một nhà văn, nhà thơ của thiếu nhi. Tất
nhiên, không phải chỉ vì ngay trong kháng chiến chống Pháp, Phạm Hổ đã trực tiếp làm sách "Hoa kháng
chiến" phục vụ thiếu niên, nhi đồng. Hay chỉ vì sáng tác đầu tay của ông cũng là về thiếu nhi và viết cho
thiếu nhi (Sáng trăng kể chuyện, Em vẽ Bác Hồ). Hoặc do bài t
hơ được xem là tiêu biểu và được biết đến
nhiều nhất của ông - bài Chú bò tìm bạn - cũng là tác phẩm dành cho trẻ em. Và dĩ nhiên cũng không phải
chỉ vì ông đã từng giữ cương vị Chủ tịch hội đồng văn học thiếu nhi Việt Nam. Mà trên hết, Phạm Hổ là
nhà văn, nhà thơ của thiếu nhi bởi vì ông dành nhiều tâm huyết cho sự nghiệp làm bạn với trẻ con. Ông đã
từng tâm sự: “Đối với tôi, được sống và viết cho các em là một hạnh phúc. Tôi đem
lòng tôi yêu các em để
thể hiện lòng tôi yêu Đảng, yêu nhân dân, đất nước” [43].
Và chính tình yêu ấy là nền tảng cho quan điểm sáng tác văn học của Phạm Hổ.
Luôn ý thức để trở thành người bạn của thiếu nhi, dẫu biết “Viết cho trẻ em là một công việc khó
nhọc" (L.Tônxtôi), Phạm Hổ đã xác định rõ đối tượng sáng tác và tiếp nhận với những đặc điểm tâm sinh
lí và ý thức thẩm mĩ riêng. Trong bài viết “Làm sao để viết cho các em hay hơn” đăng trên Tạp chí văn
học (số 5-1993), Phạm Hổ khẳng định hai nhiệm vụ cần làm
song song của văn học cho trẻ em:
(1) Góp phần giải quyết những vấn đề trước mắt, nóng hổi của cuộc sống, của xã hội.
nhà văn đến phỏng vấn trò chuyện. Họ đặt ra rất nhiều câu hỏi một cách cũng thật thân mật và nhẹ nhà
ng,
trong đó có những câu rất vui: “Tại sao tác giả lại chọn ba người nấu bếp đêm (làm bánh mì) mà không là
hai người hoặc bốn người, năm người ?” Tác giả Mô-rit-xơ Xen-đắc đã vui vẻ trả lời đại khái như sau: Có
lẽ, ngày xưa bố tôi là thợ may; ông ngồi ở giữa và có hai người ngồi phụ việc ở hai bên, vì vậy mà con số
ba người, trong ý nghĩ tôi từ bé đến lớn là con số tốt nhất, đẹp nhất, hay nhất. Cho nên khi tôi viết Nấu
bếp đêm, không cần nghĩ ngợi, tôi đã chọn con số ba người. Với câu hỏi “Tại sao tác giả lại chọn cái lọ
đựng sữa mà không dùng cái bình đựng sữa ?”, Mô-rit-xơ Xen-đắc cũng trả lời na ná như vậy: “Có lẽ vì
lúc bé, mẹ tôi hay dùng cái lọ chứ không dùng cái bình để cho tôi ăn sữa...”
Sau khi kể câu chuyện ấy, Phạm Hổ đã kết luận: “Tác giả viết hay vì tác giả đã viết những gì mình
thuộc nhất, những gì đã thành máu thịt của chính mình” [54, tr.38]. Bài học về nghệ thuật kể chuyện dạy
cho các em thiếu nhi thật ra cũng chính là quan điểm sáng tác của Phạm Hổ.
Những tác phẩm của Phạm Hổ luôn cho người đọc, nhất là trẻ con, cái cảm giác quen thuộc và rất
máu thịt với m
ình. Có được cảm giác ấy, hẳn nhiên là nhờ công truyền đạt của tác giả. Bởi như một quy
luật tự nhiên, người viết ra nó như viết cái điều máu thịt của chính mình nên mới có khả năng khiến cho
người đọc có sự tương cảm đẹp đẽ và gần gũi ấy. Cho nên, có thể nói, với Phạm Hổ, viết về cuộc sống với
các chất liệu quen t
huộc là một trong những cách thể hiện cái máu thịt của mình. Người đọc thường bắt
gặp hình ảnh những cây cà rốt, bắp cải, cây dứa, cây dừa đến na, ổi, sung, roi, thị, táo… hay những con
vật thân thuộc: chó, mèo, gà, bê, bò, chuồn chuồn, vịt, ngỗng... trong sáng tác của Phạm Hổ. Nhà văn luôn
chú ý phát huy thế mạnh trong quan sát, miêu tả, trong chọn lựa chất liệu và phát triển hình ảnh quen
thuộc ấy vào cuộc sống riêng của từng tác phẩm.
Có lần P
hạm Hổ đã nói về lí do “Vì sao chọn chất liệu cây khế là hay ?” “Theo tôi nghĩ vì cây khế
đúng là cây của nhà nghèo. Vị chua của khế là vị chua rẻ tiền hơn các vị chua khác, như chanh chẳng
hạn: Chợ chiều nhiều khế ế chanh, nhiều cô gái góa nên anh chàng ràng (ca dao). Như thế rõ ràng khế
chỉ là những cô gái góa, còn chanh mới là những cô gái chưa chồng…” [54, tr.29]. Qua suy nghĩ của tác
giả, chúng t
rồi tạo ra một tác phẩm mới. Chúng ta có thể thấy rõ sự sáng tạo của Phạm Hổ khi đọc Ngựa thần từ đâu
tới. Truyện này c
ó liên quan đến truyền thuyết quen thuộc: Thánh Gióng. Bao thế hệ tuổi thơ Việt Nam đã
tiếp nhận một điều rõ ràng từ truyền thuyết ấy: ngựa sắt là do nhà vua làm theo yêu cầu của cậu bé làng
Gióng. Phạm Hổ viết khác. Câu chuyện bắt đầu từ việc hai cha con ở một vùng núi xa xôi quyết đưa con
ngựa hồng về xuôi cho Thánh Gióng ra trận. Chú ngựa hồng sau khi bị giết đã hóa t
hành ngựa đất, rồi nhờ
giọt máu của cụ già, nhờ ăn sắt uống lửa của nhân dân mà trở thành ngựa thần. Có thể thấy, vẫn là nội
dung đề cao lòng yêu nước của nhân dân nhưng cách viết của Phạm Hổ là một khám phá mới từ các giá trị
dân gian tưởng đã ổn định, bất di bất dịch.
1.2.
3. Về cái tình trong viết văn.
Phạm Hổ thuộc vào số các nhà văn không mấy khi công khai phát biểu về quan niệm sáng tác của
mình. Song, thông qua những suy nghĩ, cũng như các bài học mà ông viết riêng cho những bạn đọc thiếu
nhi, chúng ta thấy được quan niệm sáng tác của chính tác giả.
Trong một lần giới thiệu cách viết văn, dựa vào đoạn văn Cây Hà Nội trích trong tác phẩm Cảnh
sắc và hương vị đất nước của Nguyễn Tuâ
n, Phạm Hổ đã có lời bình như sau: “Ngày nào chúng ta cũng
thấy cây, nhưng mấy ai đã sống với cây, có tình với cây như tác giả (Nguyễn Tuân). Có sống với cây mới
thấy màu xanh cây ta thật nhiều cung bậc từ xanh nhờ đến xanh đen. Có tình với cây mới thấy mỗi cái cây
in bóng xuống đường nhựa kia cũng là một kiếp sống, mỗi năm có những nỗi buồn, nỗi vu
i” [54, tr.72].
Và Phạm Hổ kết luận ngắn gọn nhưng đầy ý nghĩa như sau: “Mới biết, văn hay thường xuất phát từ cái
tình” [54, tr.72].
Nói người cũng là nói mình, Phạm Hổ học tập nơi Nguyễn Tuân hay chính bản thân ông rất tâm
đắc với chữ tình trong văn chương nghệ thuật nên mới có cái nhìn đầy thiện cảm đối với tác giả họ
Nguyễn ấy? Rõ ràng, nếu không có cái tình sâu nặng với những gì
mình viết ra, chắc khó lòng một nghệ sĩ
như Phạm Hổ sống trọn vẹn với thế giới văn chương mà ông tâm huyết. Cái tình trong viết văn là chất
sống nuôi dưỡng cái cây tâm hồn. Nó tạo nên dưỡng chất say mê, cảm hứng nhiệt thành và cả tấm lòng
thấy dễ chịu k
hi ngồi trong nhà nhìn ra vườn. Khúc lượn của con sông ở đây càng ngắm kĩ càng thấy đẹp.
Những cây sung và những lùm tre ở bờ bên kia xanh biếc, um tùm soi bóng xuống dòng sông nhìn nửa hư,
nửa thực như trong tranh vẽ. Xa xa là những rặng núi xanh mờ tím nhạt như trong mơ.” (Cây đàn và bầu
rượu của người thầy)
Nguyễn Đăng Mạnh nói: “Muốn hiểu tác phẩm của nhà văn, trước hết phải hiểu quan điểm nghệ
thuật của ông” [50, tr.17]. Với Phạm Hổ, tuy không có những phát biểu m
ang tính lí luận nhưng ông cũng
để lại những quan điểm sáng tác có ý nghĩa. Phạm Hổ có khuynh hướng cụ thể hóa, hiện thực hóa những
nỗi niềm, những suy nghĩ, những quan niệm của mình thành những bài học thiết thực cho thiếu nhi khi
viết văn và xem nó như sự trăn trở của người có tâm huyết đối với sự phát triển văn học thiếu nhi nước
nhà.
Như vậy, Phạm Hổ xác định rõ các vấn đề đặt ra với công việc viết văn, trong tư cách một nhà văn
coi trọng thiên chức viết văn cho trẻ em. Vì vậy, hiểu quan niệm của Phạm Hổ là cách chúng ta hiểu thêm
về văn chương của ông, nhất là hiểu được cảm hứng tư tưởng và những sáng tạo trong nghệ thuật kể
chuyện của Phạm Hổ với thể loại truyện cho thiếu nhi.
Thiên nhiên vốn là thế giới đầy kì diệu và có sức hấp dẫn bao đời nay. Thiên nhiê
n luôn tỏa ra một
sức cuốn hút khiến người ta mê say và khám phá nó. Tất nhiên, mỗi người mỗi kiểu, mỗi người mỗi
khuynh hướng. Phạm Hổ từng quan niệm thiên nhiên là một nhân vật không thể thiếu trong sáng tác
cho các em. Với thơ, Phạm Hổ cũng đã từng làm những cuộc du hành vào thiên nhiên để khám phá ra biết
bao điều lạ lùng mà thiên nhiên ban tặng cho cuộc sống. Thiên nhiên hiện lê
n vừa gần gũi thân thiết, vừa
đa dạng sắc màu với bao nét kỳ thú, bất ngờ, phản chiếu tâm hồn tinh tế, nhạy cảm, tấm lòng thiết tha trân
trọng tuổi thơ và khát vọng hướng về cái đẹp của Phạm Hổ.
Trong thơ Phạm Hổ, mỗi loài cây đều được hiện lên với vẻ đẹp riêng, có quả to, quả nhỏ, “quả đơm
trên ngọn”, “quả nằm dưới chân”. Đó là những hoa hồng, hoa cúc, hoa thiên lý... rực rỡ sắc màu, hương
thơm ng
ào ngạt tô điểm cho bốn mùa. Đó là sắc màu của hoa được nhà thơ nói đến một cách giản dị qua
bài Đất và hoa: “Đào đỏ, mai vàng. Bìm xanh cúc tím”. Hay đó là cảnh hồ sen trong mát yên lành “Trăm
nghìn. Cửa lụa. Xinh tươi. Sáng hồng”. Đó cũng là thế giới rau, củ, quả với những nét hấp dẫn riêng ngọt
ngào, mời gọi: củ cà rốt với dá
ng điệu: “Cà đỏ. Lá xanh”, khế với năm cánh “vàng treo lóng lánh”. Bắp
cải xanh mang vẻ đẹp hồn nhiên của tuổi thơ “Bắp cải xanh. Xanh mát mắt. Lá cải sắp. Sắp vòng tròn.
Bắp cải non . Nằm ngủ giữa”.
Tuy nhiên, cảm hứng về thiên nhiên trong thơ của Phạm Hổ chỉ dừng lại ở việc khám phá vẻ đẹp tự
nhiên của cây, hoa, trái. Phạm Hổ không lí giải, không tô vẽ thêm, tác giả chỉ cho thiên nhiên hiện lên như
chính chiếc áo mà tạo hóa đã khoác sẵn bao đời nay cho nó. Nhưng với truyện thì khác, Phạm Hổ không
miêu
tả lại thiên nhiên một cách đơn thuần mà nhà văn đi kể lại quá trình hoài thai ra chúng như cuộc
hành trình tìm về với huyền thoại xa xưa của tổ tiên loài người. Nghĩa là Phạm Hổ đã đem tư duy huyền
thoại hóa, cổ tích hóa những hình ảnh thiên nhiên vốn hết sức quen thuộc. Vì thế, thiên nhiên trong truyện
của Phạm Hổ trở thành một nguồn cảm hứng tươi mới, sinh động.
Cảm hứng về huyền thoại của thiên nhiên trong truyện viết cho thiếu nhi của Phạm Hổ bắt nguồn
từ đôi mắt và tấm lòng “trẻ thơ” của ông. Một đôi mắt luôn mở rộng khám phá những điều người lớn vốn
một tấm lòng luôn quan tâm đến những sở thích của con trẻ và những nhu cầu, mong ước của con người.
Và từ đó, họ sáng tạo nên những loài hoa quả. Người viết bỗng nhớ đến những câu thơ của Xuân Quỳnh
trong Truyện cổ tích về loài người:
“Muốn trẻ con được tắm
Sông
bắt đầu làm sông
Sông cần đến mênh mông
Biển có từ thuở đó
…
Biết trẻ con khao khát
Chuyện ngày xưa, ngày sau
Không hiểu là từ đâu
Mà bà về ở đó”.
Theo Kinh Thánh, thượng đế tạo ra cây trong ngày thứ ba. Mọi tôn giáo đều coi cây là “ngôi nhà”
của thánh thần. Với Phật giáo, Đức Như Lai đã ngồi tu dưới gốc cây bồ đề. Đạo Thiên Chúa cũng “trồng”
các loại cây trong khu vườn Địa Đàng của Đức Chúa Trời. Như vậy, hẳn là cây đã có mặt trên trái đất này
từ rất lâu. Khoa học hiện đại tính toán được cây đã có mặt từ 410 triệu năm
nay. Nhưng có lẽ, với nhiều
thiếu nhi Việt Nam, cây cối xuất hiện bắt đầu từ cái ngày xửa, ngày xưa trong truyện của Phạm Hổ.
Phạm Hổ đã dệt nên những huyền thoại về các loài hoa, quả không theo bất cứ một truyền thuyết
tôn giáo nào mà theo cách tư duy nghệ thuật riêng của m
ình. Ông đi lần về cái thời ban đầu của từng
giống cây quả để xem vì đâu nó lại xuất hiện. Qua mỗi câu chuyện, Phạm Hổ đem đến cho bạn đọc một sự
tích về thiên nhiên. Chúng ta có thể khẳng định: lối cổ tích hóa nguồn gốc cây quả là nguồn cảm hứng
lớn trong sáng tác của nhà văn Phạm Hổ. Tất nhiên, người lớn chúng ta ai cũng biết các loài hoa quả
trong thiên nhiên đều có quá trình phát sinh, phát triển với những đặc điểm giống loài nhất định. Nhưng
đó dường như không phải là nhiệm vụ của văn chương, của các nghệ sĩ ngôn từ, mà đó là nhiệm vụ của
các nhà sinh vật học. Còn nhà văn, họ miêu tả quá trình hình thành phát triển của cây cối theo cách riêng
Phạm Hổ quan niệm rằng: mỗi sự vật đều có một trang sử dài về sự hì
nh thành và phát triển. Ông
đã nhìn từng loài hoa dưới góc độ của tình cảm thẩm mĩ, của cảm xúc thẩm mĩ trong mối quan hệ nhiều
mặt với đời sống tinh thần của con người. Vậy là mỗi loài hoa, qua cảm hứng huyền thoại của nhà văn,
đều chứa một khúc nhạc riêng, một vẻ đẹp riêng. Con cua lửa là huyền thoại về hoa
gọng vó. Với Phạm
Hổ, đó là loài hoa mọc lên từ mộ cụ già nghèo làm nghề câu cá ven sông. Đây là loài hoa kì lạ vì: “nhìn từ
xa hoa cứ như những chùm lửa đang cháy và như muốn bay lên, bay lên thật cao... Cánh hoa lại cong lên
như những cái gọng vó” (Con cua lửa). Em bé hái củi và chú hươu con là huyền thoại của hoa đại. Đó là
loài hoa ra đời từ tình nghĩa thủy chung son sắt của đôi bạn nhỏ: chú bé và hươu con. Loài hoa minh
chứng c
ho sự chờ đợi: “Có người bảo chữ Đại là do chữ đợi, chờ đợi mà có. Cây hoa Đại, lá to giống tai
hươu, cành giống sừng hươu... Những bông hoa cũng giống con mắt hươu đang mở tròn, mở to, để trông
ngóng chờ đợi” (Em bé hái củi và chú hươu con). Những thanh gươm xanh của năm người học trò nghèo
mà ông thầy dạy võ trao cho lúc lên đường đánh giặc là huyền thoại của hoa phượng ngày na
y. Màu đỏ
của hoa phượng được lí giải như một huyền thoại đẹp về tình nghĩa thầy trò: “Hoa đỏ như muốn nói với
mọi người rằng: tuy chết đi nhưng năm người con vẫn yêu thương người bố nuôi và hằng năm đến mùa
giỗ bố, họ mặc áo đỏ để tưởng nhớ người đã khuất” (Những thanh gươm xanh).
Mỗi loài hoa có sự tích của nó, và quả cũng thế. Cảm hứng huyền thoại về thiên nhiên đã chi phối
cái nhìn của Phạm Hổ đối với tất cả các loài quả mà ông cho rằng trẻ con rất thích. Quả ro
i dưới cái nhìn
của Phạm Hổ là những con ốc kì lạ. Phải chăng vì thoáng nhìn quả roi, nhà văn thấy chúng giống như
những con ốc? Ngày xưa, học trò đi học thường bị thầy đánh roi vì nhác học hoặc vô lễ… Bấy nhiêu chi
tiết đó đã mang lại sức gợi cho tác giả về huyền thoại ra đời của quả roi ngày nay. Nó bắt đầu từ câu
chuyện một người thầy giỏi với phương pháp dạy lạ lùng: “Tôi không phạt bằng roi. Tôi có con ốc này
thay cho roi nên gọi là ốc roi. Tự nó sẽ khen và chê rất công bằng. Học giỏi thì nó sẽ sáng lên như đèn và
giúp cho các anh thành đạt. Học kém thì nó sẽ đen dần lại như cục than và chỉ có đem vứt xó”. Tên học
trò nhà già
u nhác học lại ngỗ ngược, ganh tị, thủ đoạn có kết cục đáng đời: “Co