BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
LÊ THỊ HẰNG
ĐẶC SẮC NGHỆ THUẬT TRUYỆN VIẾT CHO
THIẾU NHI CỦA NGUYỄN NGỌC THUẦN
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
NGHỆ AN - 2012
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
LÊ THỊ HẰNG
ĐẶC SẮC NGHỆ THUẬT TRUYỆN VIẾT CHO
THIẾU NHI CỦA NGUYỄN NGỌC THUẦN
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
CHUYÊN NGÀNH: VĂN HỌC VIỆT NAM
MÃ SỐ: 60.22.34
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. PHAN HUY DŨNG
NGHỆ AN - 2012
2
2.2.1. Con mắt bạn bè nhìn về trẻ em...........................................................51
2.2.2. Những nhân vật giàu cảm xúc.............................................................54
2.2.3. Những nhân vật tự chủ, đầy cá tính....................................................62
2.3. Thiên nhiên, môi trường......................................................................68
2.3.1. Tâm thế nói về thiên nhiên, môi trường..............................................68
2.3.2. Thiên nhiên nguyên sơ, thuần khiết....................................................70
2.3.3. Thế giới đồ vật....................................................................................75
Chương 3: ĐẶC SẮC VỀ NGÔN NGỮ, GIỌNG ĐIỆU VÀ TỔ CHỨC
VĂN BẢN TRONG TRUYỆN VIẾT CHO THIẾU NHI CỦA
NGUYỄN NGỌC THUẦN ..........................................................................78
3.1. Đặc sắc về ngôn ngữ............................................................................78
3.1.1. Ngôn ngữ người kể chuyện.................................................................78
3.1.2. Ngôn ngữ đối thoại.............................................................................84
3.1.3. Ngôn ngữ độc thoại nội tâm................................................................91
3.2. Đặc sắc về giọng điệu...........................................................................96
3.2.1. Giọng điệu trữ tình trong trẻo.............................................................96
3.2.2. Giọng điệu triết lý hồn nhiên..............................................................100
3.2.3. Giọng điệu giễu cợt tinh quái.............................................................105
3.3. Đặc sắc trong tổ chức văn bản............................................................108
3.3.1. Kết cấu “thơ”......................................................................................108
3.3.2. Kết cấu xâu chuỗi................................................................................113
3.3.3. Sự kết hợp kênh chữ và kênh hình.......................................................119
KẾT LUẬN..................................................................................................123
TÀI LIỆU THAM KHẢO..........................................................................126
1
trong thời kì đau thương khói lửa của cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước.
Nó đã gợi cho người đọc lớn tuổi cảm giác như sống lại thời thơ trẻ thử thách,
đầy gian khổ của chính mình và giúp cho thế hệ trẻ hôm nay có thể cảm hiểu
được một thời gian khổ mà hào hùng của cha anh mình. Với Tô Hoài, tạm
biệt chú dế mèn phiêu lưu, ông đưa đến cho người đọc trẻ tuổi một lối viết
truyện mới kết hợp giữa lịch sử với huyền thoại giúp họ tiếp nhận được những
tri thức lịch sử và văn hóa một cách dễ dàng qua bộ ba tác phẩm Nhà Chử,
Đảo hoang và Truyện nỏ thần. Trong những năm gần đây, Nguyễn Nhật Ánh,
Lê Cảnh Nhạc, Nguyễn Ngọc Thuần… cũng là những tác giả viết cho thiếu
nhi được chú ý. Nguyễn Ngọc Thuần nổi lên như là một hiện tượng bởi những
tác phẩm anh sáng tác hầu như đều đạt giải thưởng cao trong các cuộc thi viết
cho thiếu nhi. Phải kể đến là Giăng giăng tơ nhện - Giải 3 cuộc vận động sáng
tác văn học tuổi 20 lần 2; Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ - Giải A cuộc thi văn
học thiếu nhi “Vì tương lai đất nước lần 2” do Nxb Trẻ và Hội Nhà văn TP.
Hồ Chí Minh tổ chức. Năm 2007, cuốn sách này được phát hành tại Thụy
Điển với bản dịch của Trần Hoài Anh và nhận giải thưởng Piter Pan; Một
thiên nằm mộng - Giải A cuộc vận động sáng tác cho thiếu nhi của Nxb Kim
Đồng năm 2001 - 2002; Nhện ảo - Giải A cuộc vận động sáng tác cho thiếu
nhi năm 2003 và tác phẩm Trên đồi cao chăn bầy thiên sứ đoạt giải B (không
có giải A) cuộc thi sáng tác văn học cho tuổi trẻ do Nxb Thanh Niên phối hợp
với Nxb Văn nghệ tổ chức. Ngoài ra, anh còn xuất bản nhiều tập truyện khác
như Chuyện tào lao, Tuổi 20, Cha và con và tàu bay… Để đạt được những
giải thưởng danh giá như vậy, bên cạnh nội dung phong phú là sự sáng tạo
nghệ thuật đặc sắc tài tình. Đặc sắc nghệ thuật truyện viết cho thiếu nhi của
Nguyễn Ngọc Thuần chính là điều mà chúng tôi quan tâm nghiên cứu.
1.3. Trong những năm gần đây, việc nghiên cứu văn học thiếu nhi nói
chung và truyện viết cho thiếu nhi nói riêng được quan tâm chú ý. Nhìn chung
3
cứu phê bình chưa nhiều, chủ yếu dừng lại ở một số bài báo, lời nhận xét khái
quát, những bài phỏng vấn.
Trên trang báo điện tử cand.com, Toàn Nguyễn trong bài Nguyễn Ngọc
Thuần - “Hoàng tử bé” biến mất đã viết: “Sự xuất hiện của anh trong làng
văn, với Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ, Một thiên nằm mộng đã tạo nên một
thế giới tươi sáng, mơ hồ mà quyến rũ. Sự đẹp đẽ của những trang văn
Nguyễn Ngọc Thuần đã "đánh gục" sự nghi ngờ của những nhà văn lão thành.
Ngay cả những nhà phê bình khó tính nhất cũng chấm cho anh trên điểm 5
trong thang điểm 10.”[39].
Trong một bài viết khác trên blog yume.vn, Trần Viết Nhi nhận xét về
truyện viết cho thiếu nhi của Nguyễn Ngọc Thuần: “Cái đẹp trong văn xuôi
thiếu nhi Nguyễn Ngọc Thuần xuất phát từ điểm nhìn dưới cặp mắt trẻ thơ
của nhà văn. Sự kết hợp giữa các yếu tố màu sắc, đường nét trong hội họa, sự
giản dị, trong sáng và tinh khiết trong ngôn từ và giọng văn đầy chất cổ tích
trong từng trang viết của anh đã tạo nên mối giao cảm đa chiều giữa nhân vật
với nhân vật, nhân vật với độc giải và giữa độc giả với tác giả.” [40]. Quả
thật, với độc giả thiếu nhi, Nguyễn Ngọc Thuần mãi là người bạn của trẻ em
bởi vì anh biết đồng cảm, chia sẻ cùng trẻ những nỗi niềm tâm sự, thấu hiểu
nỗi lòng con trẻ. Đồng cảm với những trang văn của Nguyễn Ngọc Thuần,
Trần Viết Nhi trong một bài viết Triết lí về giá trị con người trong truyện
thiếu nhi của Nguyễn Ngọc Thuần tiếp tục biểu lộ cảm xúc: “thật nhẹ nhàng,
thấm thía nhưng cũng không kém phần sâu sắc! Qua những dòng văn đậm sắc
màu triết lý, Nguyễn Ngọc Thuần đã gửi gắm những quan niệm của mình về
giá trị của con người. Đó là cách tiếp cận mới mẻ, qua sự thể hiện sáng tạo,
sâu sắc, tế vi và mang đậm tính nhân văn.” [41].
Sau khi Cuộc vận động sáng tác cho thiếu nhi 2001 - 2002 kết thúc, nhà
văn Nguyễn Nhật Ánh trưởng ban chung khảo trong bản tổng kết cuộc thi
5
6
Lã Thị Bắc Lý trong Giáo trình văn học thiếu nhi có nhận xét, đánh giá
về nhà văn trẻ này như sau: “Nguyễn Ngọc Thuần có lối viết không mới mà
vẫn lạ. Anh thu hút người đọc ở giọng văn trong trẻo, với cái nhìn hồn nhiên,
đầy sự ngạc nhiên thơ trẻ. Thế giới xung quanh rất quen thuộc qua con mắt
của anh bỗng trở nên sống động, tinh khôi, trong vắt và đầy yêu thương mới
lạ. Nguyễn Ngọc Thuần được coi là một hiện tượng của văn học thiếu nhi
Việt Nam trong những năm đầu của thế kỉ XXI.” [31].
Nhìn chung, những nhận xét, đánh giá của những độc giả yêu mến, của
các nhà văn, nhà nghiên cứu phê bình về truyện viết cho thiếu nhi của Nguyễn
Ngọc Thuần mới chỉ là những bài nhận xét khái quát về giá trị các tác phẩm
đó mang đến cho độc giả hoặc là những nhận xét về một tác phẩm cụ thể. Đó
là những giá trị nhân văn về con người và cuộc sống về những gì thân thuộc
xung quanh mà nhiều khi chúng ta không để ý. Truyện của anh gần gũi với
các em thiếu nhi bởi anh nhìn cuộc sống dưới con mắt của trẻ thơ, anh đồng
cảm và chia sẻ với các em. Với lối viết nhẹ nhàng, giàu chất thơ và đầy ý
nghĩa truyện của Nguyễn Ngọc Thuần đã để lại nhiều cảm xúc sâu lắng trong
lòng độc giả.
Chúng tôi thấy những đánh giá của các nhà nghiên cứu phê bình về
truyện viết cho thiếu nhi của Nguyễn Ngọc Thuần còn rất ít. Đặc biệt chưa có
một công trình nghiên cứu quy mô về Đặc sắc nghệ thuật truyện viết cho
thiếu nhi của Nguyễn Ngọc Thuần. Là độc giả yêu mến truyện viết cho thiếu
nhi của Nguyễn Ngọc Thuần, chúng tôi không chỉ muốn tìm hiểu truyện của anh ở
mức độ sơ lược, khái quát mà còn mong muốn nghiên cứu sâu tác phẩm của anh để
học tập, nhìn nhận những giá trị thẩm mĩ, đặc sắc nghệ thuật đó một cách khoa học.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng mà đề tài chúng tôi hướng đến là Đặc sắc nghệ thuật truyện
viết cho thiếu nhi của Nguyễn Ngọc Thuần.
8
Chương 1
CON ĐƯỜNG ĐẾN VỚI VĂN HỌC VIẾT CHO THIẾU NHI
CỦA NGUYỄN NGỌC THUẦN
1.1. Khái niệm văn học viết cho thiếu nhi
Từ điển thuật ngữ văn học định nghĩa: “văn học thiếu nhi, theo nghĩa
hẹp “gồm những tác phẩm văn học hoặc phổ cập văn học dành cho trẻ em”.
Tuy vậy, khái niệm văn học thiếu nhi cũng thường bao gồm một phạm vi rộng
rãi những tác phẩm văn học thông thường (cho người lớn) đã đi vào phạm vi
đọc của thiếu nhi”. [17, 412].
Giáo trình văn học thiếu nhi (dùng cho sinh viên khoa Giáo dục tiểu
học, Trường Đại học Vinh) viết: “Văn học thiếu nhi là những sáng tác do các
em viết và do các nhà văn chuyên nghiệp viết cho các em, bao gồm những tác
phẩm có mặt trong văn học truyền miệng của dân tộc cho tới những tác phẩm
văn học hiện đại, gồm cả những tác phẩm trong nước và nước ngoài”. [54, 7].
Trên thế giới, các tác phẩm văn học viết cho thiếu nhi đã xuất hiện từ
rất sớm. Những cuốn sách đầu tiên mang nặng nội dung giáo khoa và tính
chất giáo huấn nghiêm khắc: đó là những sách học vần, sách bách khoa, sách
dạy các quy tắc ứng xử trong xã hội xuất hiện ở châu Âu thế kỉ XIV. Theo
quy luật phát triển của văn học, các tác phẩm mang tính chất giáo điều không
còn được độc giả chấp nhận, thay vào đó khuynh hướng đề cao nghệ thuật
trong các sáng tác của các em ngày càng được quan tâm chú ý. Đã có nhiều
sáng tác cho các em trở thành những tác phẩm kiệt xuất của nền văn học thế
giới, chẳng hạn: Truyện cổ Anđécxen, Truyện cổ Grim, Rôbinxơn Cruxô của
Đêphô, Không gia đình của Hecto Malô… Ở mỗi quốc gia, văn học cho thiếu
nhi có những nét đặc sắc riêng mang đậm dấu ấn của từng dân tộc, tuy nhiên,
những tác phẩm hay đều có điểm chung là hướng đến mục đích nhân văn,
hướng tới cái chân - thiện - mĩ trong cuộc sống.
10
sự thật của đất nước và cuộc sống của nhân dân. Những định hướng đúng đắn
trong đường lối phát triển đã làm cho đời sống nhân dân được cải thiện. Có
một sự thay đổi nhanh chóng và diệu kì của cả dân tộc ta trong thời kì mở
cửa, thời kì kinh tế thị trường, xóa bỏ chế độ quan liêu bao cấp cũ. Mọi mặt
của đất nước đang thay da đổi thịt: Chính trị ổn định, kinh tế tăng trưởng
mạnh, đời sống của nhân dân cả nước được nâng lên, văn hóa xã hội vì thế
cũng được phát triển mạnh mẽ và có sự đổi mới không ngừng. Song nền kinh
tế thị trường, bên cạnh việc đưa đất nước đi lên cũng bộc lộ những mặt trái
của nó. Văn học là một bộ phận hết sức nhạy cảm, trước những đổi thay của
đất nước các nhà văn cũng đã nhanh chóng tự đổi mới mình để đáp ứng nhu
cầu của thời đại, hòa nhập vào nền văn học của thế giới.
1.2.1.2. Sự chuẩn bị đổi mới của văn học viết cho thiếu nhi
Cách mạng tháng Tám 1945 thành công đã mở ra một kỉ nguyên mới
trong lịch sử đất nước ta, đồng thời cũng mở ra một thời đại mới với những
biến đổi lớn trên mọi mặt của đời sống văn học. Văn học thiếu nhi dù mới
bước đầu hình thành phát triển nhưng cũng đã có những đóng góp đáng kể
góp phần hình thành và tạo nên những giá trị phong phú cho nền văn học dân
tộc trong 30 năm đầu giành độc lập. Những thành tựu mà nó đem lại cũng đã
góp phần vào sự phát triển của nền văn học Việt Nam sau năm 1975.
Kháng chiến chống Mĩ kết thúc thắng lợi, nước nhà hoàn toàn độc lập,
toàn dân nhanh chóng bắt tay vào công cuộc khôi phục, xây dựng và phát
triển đất nước, bộ mặt xã hội đã có những biến đổi to lớn. Văn học thiếu nhi
trong mười năm (1975 - 1985) là giai đoạn trăn trở, tìm tòi, nhìn chung vẫn
gần với cách tiếp cận cũ. Điều này thể hiện rõ nhất trong những năm đầu sau
khi kháng chiến chống Mĩ kết thúc, chủ yếu các tác phẩm vẫn chỉ xoay quanh
đề tài kháng chiến.
11
chiến tranh, điều mà lâu nay văn học cách mạng ít đề cập đến nhất là văn học
viết cho thiếu nhi. Lần đầu tiên, truyện viết cho các em đã đề cập đến sự khốc
liệt của chiến tranh với những tổn thất nặng nề do chiến tranh mang lại. Các
tác phẩm trên đã dựng lại được không khí chung của đất nước trong thời kì
đau thương khói lửa của hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ. Đó
không phải là thực tế tầm thường mà là cái thực tế “đã được rèn lại, đúc lại,
tái tạo lại”, “là những chất đã tinh chế, tỏa ra, chói sáng suy nghĩ, tâm tư
người viết”. Trong Hồi đó ở Sa Kì và Cát cháy, Bùi Minh Quốc và Thanh
Quế đã dựng nên cảnh tượng em gái Tư một mình dẫn bọn ngụy vào bãi mìn,
cùng nổ tung với chúng; hay hình ảnh cô bé Bích gan góc, không chịu khuất
phục khi tên sĩ quan Mĩ thọc mũi dao vào bụng đã để lại lòng kính trọng, sự
khâm phục và lòng tiếc thương vô hạn trong lòng người đọc. Nhưng dù có
chết chóc, có mất mát, tổn thất và cả sự phản bội thì cũng không vì thế mà
khiến con người ta bi quan. Bao trùm lên tác phẩm vẫn là tinh thần đấu tranh
quả cảm của nhân dân trong đó có đóng góp tích cực của các em.
Viết về cuộc sống mới, khi đất nước đã hoàn toàn thống nhất, các tác
phẩm viết cho thiếu nhi đã mở ra một bình diện mới trong cách lí giải thể hiện
về con người. Con người được nhìn trong mối quan hệ đa chiều với đời sống
tâm lí hết sức phức tạp. Vì thế sáng tác của các nhà văn quan tâm nhiều tới
vấn đề đạo đức của con người. Với các tác phẩm tiêu biểu được xem là mở
đầu trong việc mạnh dạn mổ xẻ, phanh phui những tiêu cực của xã hội với
thói hư, tật xấu, cái lạc hậu sự nhỏ nhen, đố kị và những mưu mô hiểm độc
của lòng người: Tình thương của Phạm Hổ, Chú bé có tài mở khóa của
Nguyễn Quang Thân, Hành trình ngày thơ ấu của Dương Thu Hương.
Ở tiểu thuyết Tình thương Phạm Hổ đã xây dựng hệ thống nhân vật trẻ
em rất đặc biệt. Câu chuyện xoay quanh một nhóm trẻ hư, đi lang thang bụi
đời và được tập chung đưa vào trường giáo dưỡng Kim Đồng. Mỗi nhân vật
13
giờ đây không còn được miêu tả, quan niệm một cách xuôi chiều, phiến diện mà nó
được nhìn nhận từ chình đời sống nội tâm của nhân vật. Ở Chú bé có tài mở khóa,
diễn biến tâm trạng của chú bé Hùng có những điều hết sức đặc biệt. Hùng là chú
bé lười học, ham chơi rất nổi tiếng với chùm chìa khóa vạn năng đi ăn trộm khắp
nơi nhưng luôn mủi lòng trước những số phận bất hạnh. Hùng rất thương mẹ, người
mẹ tần tảo vất vả sớm hôm nhưng cũng không thể mang lại cho em cuộc sống sung
túc. Xót xa cho thân phận, em lại càng đau khổ, day dứt hơn khi tìm thấy trong
đống đồ ăn cắp của mình con búp bê - món quà sinh nhật của bé Liên. Hùng đã
quyết tâm mạo hiểm thân mình vượt qua mọi hiểm nguy chỉ để trả lại con búp bê ấy
cho bé Liên. Nguyễn Quang Thân đã rất thành công khi đưa cái xấu cái tiêu cực
trong hiện thực cuộc sống vào trong tác phẩm của mình một cách tinh tế, tài tình mà
trẻ em là nhân vật trung tâm. Tác giả đã khám phá ra những tiềm năng đạo đức của
con người đó là sự cảm thông, chia sẻ với người khác và khát vọng về một cuộc
sống tốt đẹp. Hùng mang một khát vọng lớn lao muốn trở thành một người tốt,
muốn làm những việc tốt có ích cho đời nhưng vì sự xấu xa, suy đồi về đạo đức của
một số người lớn đã làm vẩn đục tâm hồn trong sáng thơ ngây của em. Xây dựng
nhân vật Hùng, nhà văn muốn giúp các em nhìn nhận cuộc sống một cách đa chiều:
cuộc sống không phải lúc nào cũng tươi đẹp mà nó có mặt trái, mặt phải, các em
cần phải thấy được điều đó để không bị hoang mang, vỡ mộng và để tự tin bước
vào cuộc sống với bao khó khăn thử thách đang chờ.
Đề tài lịch sử ở giai đoạn trước rất phát triển thì đến bây giờ hầu như
chững lại. Các tác giả chuyên viết về đề tài lịch sử như Nguyễn Huy Tưởng,
Hà Ân, Lê Vân,… thường khai thác lịch sử gắn với các nhân vật anh hùng và
truyền thống chống giặc ngoại xâm anh dũng của dân tộc, bây giờ gần như đi
vào bế tắc. Tô Hoài đã mở ra một hướng khai thác mới đó là gắn lịch sử với
huyền thoại, phong tục và văn hóa. Đọc Đảo hoang, Nỏ thần, Nhà Chử bạn
đọc được trở về với cái nôi văn hóa của người Việt cổ thời kì khai sơn lập địa.
15
phương diện
1.2.2.1. Đổi mới đất nước tạo đà cho đổi mới văn học và văn học thiếu nhi
Đại hội Đảng lần VI đã đem lại không khí tươi mới, tạo đà cho văn học nói
chung và văn học thiếu nhi nói riêng phát triển. Thực ra, không khí đổi mới đã có
từ trước đó nhưng phải đến sau năm 1986 sự đổi mới mới thực sự diễn ra đồng bộ
và mạnh mẽ. Các tác giả đã phát huy tối đa cá tính sáng tạo của mình trên từng
trang sách và tạo cho mình một phong cách riêng độc đáo, đặc sắc.
Trong không khí sôi nổi, hào hứng của công cuộc đổi mới dễ nhận thấy
mảng truyện viết cho các em có sự thay đổi mạnh mẽ hơn mảng thơ ca. Truyện
viết cho thiếu nhi thực sự bùng nổ vào năm 1986, 1987 với hàng loạt các tác phẩm
đạt giải thưởng văn học thiếu nhi như: Dòng sông thơ ấu của Nguyễn Quang
Sáng, Tuổi thơ im lặng của Duy Khán, Miền thơ ấu của Vũ Thư Hiên, Người đi
săn và con sói lửa của Nguyễn Quỳnh, Tuổi thơ dữ dội của Phùng Quán,…
Nhưng nếu như trong hai năm này, truyện viết cho thiếu nhi có được những thành
công nhất định thì đến năm 1988 văn học thiếu nhi lại bị cuốn vào vòng xoáy của
cơ chế thị trường. Sách viết cho các em rơi vào tình trạng khủng hoảng nghiêm
trọng. “Trong năm 1988, Nhà xuất bản Kim Đồng chỉ xuất bản chưa quá 50 đầu
sách, hầu như chỉ in truyện cổ tích và truyện dịch. Văn học nói chung và văn học
thiếu nhi nói riêng bị rơi vào tình trạng thương mại hóa. Suốt mấy năm liền,
truyện dịch, truyện tình, truyện trinh thám rẻ tiền chiếm lĩnh trên thị trường sách.”
[30, 28]. Như vậy những biến đổi nhanh chóng trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội đã
có tác động mạnh đến văn học nhất là văn học thiếu nhi. Sau mấy năm chịu sự chi
phối, tác động xấu từ nền kinh tế thị trường thì đến đầu những năm 90 văn học
thiếu nhi đã dần được điều chỉnh và định hướng theo chiều phát triển tích cực bám
sát với nhu cầu đích thực của độc giả. Hội Nhà văn phối hợp chặt chẽ với Nhà
xuất bản Kim Đồng, Uỷ ban chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em,… phát động
17
hàng loạt các cuộc thi, cuộc vận động sáng tác cho các em. Điều đó đã tạo đà cho
thơ im lặng của Duy Khán,… là những tác phẩm tiêu biểu.
Đến đầu những năm 90, đội ngũ sáng tác cho các em được bổ sung
thêm nhiều cây bút mới như Lê Cảnh Nhạc, Trần Thiên Hương, Nguyễn Nhật
Ánh, Lê Phương Liên, Hoàng Dạ Thi, và đầu những năm 2000 là hiện tượng
Nguyễn Ngọc Thuần… Họ mang đến cho văn học thiếu nhi một làn gió mới,
một sức sống mới trẻ trung, tươi tắn. Điều đó giúp cho văn học thiếu nhi có
nhiều khởi sắc và gặt hái được những thành công nhất định.
Một điều đặc biệt nữa là chính các em cũng là một lực lượng quan
trọng đóng góp vào sự gia tăng nhanh chóng của đội ngũ sáng tác văn học
thiếu nhi. Phong trào sáng tác cho thiếu nhi phát triển mạnh mẽ vào những
năm 60 của thế kỉ XX, với sự xuất hiện của thần đồng thơ Trần Đăng Khoa.
Tiếp bước bậc đàn anh là hàng loạt các tác giả nhí góp mặt trên các tờ báo
dành cho lứa tuổi thiếu niên nhi đồng như Mực tím, Tuổi xanh, Thiếu niên
tiền phong,… Hiện tượng đáng chú ý nhất trong năm 2005 là em Hoàng Lê
Quỳnh Như đã đạt giải nhất cuộc thi thơ quốc tế với bài thơ Thế giới. Cuối
năm 2011 vừa qua dư luận cả nước xôn xao về hai thần đồng thơ thế kỉ XXI
của Việt Nam là Đặng Chân Chân 17 tuổi và Ngô Gia Thiên An 12 tuổi. Dù
tuổi đời còn rất trẻ nhưng các em đã giới thiệu đến độc giả tập thơ đầu tay của
mình do Nhà xuất bản Kim Đồng giới thiệu và phát hành, Đặng Chân Chân
với tập Giấc mơ và Ngô Gia Thiên An với tập Những ngôi sao lấp lánh. Sáng
tác của các tác giả nhí chủ yếu thiên về phần thơ, đây cũng là điều dễ hiểu vì
vốn sống, vốn kinh nghiệm của các em còn rất non nớt mà cảm xúc của các
em dồi dào, thơ rất cần những người có cảm xúc dạt dào như thế.
Như vậy, chỉ trong một thời gian ngắn đội ngũ sáng tác cho các em đã
phát triển nhanh chóng với lực lượng khá hùng hậu. Nguyễn Nhật Ánh đã tự
định hình được phong cách, tìm cho mình một hướng đi phù hợp. Bộ truyện
19
Kính vạn hoa viết về cuộc sống của trẻ em nơi thành phố là tác phẩm tiêu biểu
đã chiến đấu và hi sinh anh dũng tại đài quan sát trên cây vả rừng cổ thụ. Tuổi
thơ dữ dội đã đem đến cho người đọc những câu chuyện hết sức cảm động về
tinh thần chiến đấu gan dạ của các em thiếu nhi thành Huế, tình bạn bè, đồng
đội, tình mẹ con ruột thịt thắm thiết. Đó cũng chính là bài học, là tấm gương
sáng cho lớp lớp thế hệ các em sau này học tập, noi theo.
Lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc ta trải qua ngàn
năm Bắc thuộc, bốn mươi năm chiến đấu chống thực dân xâm lược dành lại
độc lập cho nước nhà. Lịch sử chính là đề tài lớn để các nhà văn khai thác và
thể hiện. Đề tài về những nhân vật lịch sử, anh hùng giữ nước như Hai Bà
Trưng, Trần Quốc Toản, Quang Trung,... đã được khai thác quá nhiều nên đôi
khi tác phẩm trở nên khô cứng, gượng ép không thu hút được độc giả. Dường
như giai đoạn này đề tài lịch sử trong văn học thiếu nhi rơi vào thế bế tắc, tác
phẩm chưa thực sự hấp dẫn. Riêng nhà văn Tô Hoài đã tự tìm ra hướng đi mới
khai thác lịch sử từ thời tiền sử gắn với phong tục tập quán của người Việt cổ
xưa là một sáng tạo mà ít người có thể bắt nhịp theo được.
Kí ức tuổi thơ là đề tài phát triển mạnh mẽ trong giai đoạn này. Hàng
loạt tác phẩm trở thành điểm sáng như: Tuổi thơ im lặng của Duy Khán,
Đường về với mẹ Chữ của Vi Hồng, Côi cút giữa cảnh đời của Ma Văn
Kháng,… Nếu như ở giai đoạn trước, kí ức là kí ức về chiến tranh, thì giờ đây
nó còn hướng về phong tục tập quán, văn hóa và đặc biệt là về các vấn đề đời
tư, thế sự. Dòng sông thơ ấu của Nguyễn Quang Sáng là kí ức của tôi về
những ngày làng quê đấu tranh giành chính quyền thắng lợi tháng Tám năm
1945. Côi cút giữa cảnh đời của Ma Văn Kháng là kí ức về người bà như một
huyền thoại. Duy và Thảo hai đứa bé côi cút, nhỏ nhoi được bà che chở, cưu
mang, an ủi bao đau khổ đắng cay, dìu dắt chúng đi qua những năm tháng
cách trở, bất công đi qua nơi hỗn độn để đến với sự an bằng. Tình thương, sự
21
hi sinh của bà đã giúp anh em Duy khôn lớn, trưởng thành. Khi đi sâu vào thể