Thế giới nhân vật trong truyện viết cho thiếu nhi của nguyễn huy tưởng - Pdf 49

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LẠI THỊ MAI HƯƠNG

THẾ GIỚI NHÂN VẬT
TRONG TRUYỆN VIẾT CHO THIẾU NHI
CỦA NGUYỄN HUY TƯỞNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC VIỆT NAM

HÀ NỘI, 2018


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LẠI THỊ MAI HƯƠNG

THẾ GIỚI NHÂN VẬT
TRONG TRUYỆN VIẾT CHO THIẾU NHI
CỦA NGUYỄN HUY TƯỞNG

Chuyên ngành: Văn học việt nam
Mã số: 8 22 01 21

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC VIỆT NAM

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TRUYỆN VIẾT CHO THIẾU NHI CỦA NGUYỄN HUY TƯỞNG ...... 47
3.1. nghệ thuật xây dựng nhân vật ............................................................... 47
3.2. không gian nghệ thuật ........................................................................... 68
KẾT LUẬN .................................................................................................... 76
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 79


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
1. Văn học có vai trò quan trọng trong việc giáo dục nhân cách trẻ em cả về đạo
đức, trí tuệ và tình cảm thẩm mĩ. Trên thế giới, các tác phẩm văn học viết cho thiếu nhi
đã xuất hiện từ rất xa xưa. Nhiều sáng tác trở thành tác phẩm kinh điển của nền văn học
nhân loại như: Truyện cổ Andersen, Không gia đình của Hector Malot, Những tấm
lòng cao cả của Edmondo De Amicis.... Ở Việt Nam, từ đầu thế kỉ XX bắt đầu xuất
hiện các tác phẩm văn học viết cho thiếu nhi, nhưng phải từ sau Cách mạng tháng Tám
năm 1945, mảng văn học thiếu nhi mới chính thức được hình thành. Nhắc đến thế hệ
nhà văn đặt nền móng cho văn học thiếu nhi Việt Nam hiện đại, không thể không nhắc
đến các các tên tuổi như Tô Hoài, Võ Quảng, Đoàn Giỏi, Phạm Hổ…, và đặc biệt là
Nguyễn Huy Tưởng. Đối với văn học Việt Nam thiếu nhi Việt Nam hiện đại, ông
không chỉ là người đặt nền tảng, mà còn là một đỉnh cao cho đến hôm nay.
2. Nhân vật văn học là một sáng tạo nghệ thuật độc đáo gắn liền với ý đồ tư
tưởng của nhà văn trong việc nêu lên những vấn đề của hiện thực cuộc sống. Bertolt
Brecht cho rằng: "Các nhân vật của tác phẩm nghệ thuật không phải giản đơn là
những bản dập của những con người sống mà là những hình tượng được khắc họa
phù hợp với ý đồ tư tưởng của tác giả". Nhân vật mang chở nội dung phản ánh, tư
tưởng, chủ đề của tác phẩm, là nơi kí thác quan niệm về con người, về nhân sinh
của nhà văn. Ðọc một tác phẩm, đọng lại sâu sắc nhất trong tâm hồn người đọc
thường là số phận, tình cảm, cảm xúc của những con người được nhà văn thể hiện.
Nhà văn Tô Hoài cho rằng "Nhân vật là nơi duy nhất tập trung hết thảy, giải quyết
hết thảy trong một sáng tác". Nhân vật là căn cứ quan trọng giúp người đọc có thể

định vai trò quan trọng của Nguyễn Huy Tưởng trong mảng sáng tác cho thiếu nhi,
coi ông là một trong những người đặt nền móng cho văn học thiếu nhi Việt Nam.
Năm 1940, Nguyễn Huy Tưởng bắt đầu viết những truyện ngắn đầu tiên cho thiếu
nhi trong loạt sách "Hoa xuân". Sáng tác cuối cùng của ông, truyện Lá cờ thêu sáu
chữ vàng cũng là tác phẩm viết cho thiếu nhi.
Nhà văn Nguyễn Huy Tưởng quan niệm: “Phàm văn chương mục đích thứ nhất
là để dạy dỗ thiếu niên, cốt làm sao cho bao giờ họ cũng có một tấm lòng bồng bồng,
bột bột mà vẫn biết lẽ phải và vẫn biết thương nhau”. Với tâm niệm ấy, Nguyễn Huy
Tưởng luôn nghĩ cách làm sao để thiếu nhi có nhiều sách văn để đọc, để học. Trước

2


năm 1945, ông đã tham gia viết sách về những người anh hùng nhỏ tuổi như Trần
Quốc Toản, Trần Nhật Duật… giúp trẻ em hiểu về lịch sử nước nhà. Trong những
năm kháng chiến chống Pháp, Nguyễn Huy Tưởng cùng các nhà văn Tô Hoài, Hồ
Trúc, nhạc sĩ Phong Nhã… dựng tủ sách cho thiếu nhi lấy tên là Kim Đồng (tiền thân
của Nhà xuất bản Kim Đồng ngày nay). Đến năm 1957, với cương vị là Giám đốc
Nhà xuất bản Kim Đồng - nhà xuất bản đầu tiên cho thiếu nhi, Nguyễn Huy Tưởng
góp phần quan trọng đặt nền móng, mở ra một tương lai tốt đẹp cho văn học trẻ em,
khi ấy là một mảng đề tài còn nhiều khoảng trống. Ông cùng các nhà văn khác nỗ lực
góp sức cho văn học thiếu nhi thời ấy. Trước tấm lòng của Nguyễn Huy Tưởng dành
cho trẻ em, nhạc sĩ Văn Cao viết tặng ông: “Những giọt mực của anh /Chấm vào
những năm chiến đấu/ Nhỏ từng giọt máu,/ Trĩu vai anh bao nhiêu tích sử/ Nặng lắm
giọt máu tươi/Anh viết về trẻ nhỏ/ Cũng nặng giọt máu tươi/ Những trang anh hùng
ca nổi tiếng/ Và dòng máu nơi anh/ Những giọt mực cạn dần”.
Truyện viết cho thiếu nhi của Nguyễn Huy Tưởng phong phú về đề tài và
phong cách thể hiện, nhưng tư tưởng xuyên suốt là lòng yêu nước, niềm tự hào về
lịch sử dân tộc, lòng nhân ái của con người, niềm tin thiện thắng ác. Ông đem đến
cho trẻ thơ những câu chuyện lịch sử, những câu chuyện cổ tích thần kì "vừa lạ lùng

về quê hương, gia đình, tuổi thơ của nhà văn. Những bài viết góp phần khẳng định
sự nghiệp của nhà văn trên nhiều bình diện: nhà văn, nhà văn hóa, nhà cách mạng,
người góp công đặt nền móng cho văn học thiếu nhi…
Ngoài những công trình nghiên cứu về Nguyễn Huy Tưởng, một số ấn phẩm in
tác phẩm Nguyễn Huy Tưởng có nhiều giá trị trong việc giúp người đọc thuận lợi
khi tiếp cận sáng tác và tìm hiểu cuộc đời nhà văn như: Bộ sách Nguyễn Huy Tưởng
toàn tập do Nhà xuất bản Văn học ấn hành năm 1996. Bộ sách tập hợp tương đối
đầy đủ các tác phẩm của nhà văn ở tất cả các thể loại. Năm 2006, Nhật kí Nguyễn
Huy Tưởng được Nhà xuất bảnThanh niên xuất bản. Qua cuốn Nhật kí, người hiểu
rõ hơn về quá trình lao động nghệ thuật và những khát vọng lớn của nhà văn muốn
cống hiến cho văn học dân tộc. Những trang Nhật kí được ghi chép cẩn thận trong
suốt 30 năm sống - hoạt động cách mạng và sáng tác, với trên 1.700 trang in.
Chuyện đời, chuyện nghề, những tâm tư tình cảm... được nhà văn ghi lại sinh động,
chân thực, giản dị. Nhà văn cũng gửi gắm, kí thác những tư tưởng, những bức thông
điệp để đối thoại với chính mình và với cuộc đời. Đây là quan niệm về nghề văn
ông ghi trong Nhật kí: “Một nghề nghiệp cao quý biết bao là nghề viết văn. Đưa lại
cho đời một bó đuốc không to thì nhỏ. Có nghề nào thú vị hơn nghề văn, nó lấy

5


nguyên liệu chính là con người – một cái gì đẹp nhất, toàn diện nhất, kì diệu nhất
của sự sáng tạo” (Nhật kí Nguyễn Huy Tưởng, ghi ngày 16/6/1956).
Bên cạnh công trình nghiên cứu được xuất bản còn có những luận án tiến sĩ
hoặc luận văn thạc sĩ về sáng tác Nguyễn Huy Tưởng đã bảo vệ thành công như:
Thể tài lịch sử - dân tộc trong sáng tác của Nguyễn Huy Tưởng (Trần Thị Hồng
Minh, Đại học Sư phạm Hà Nội, 2011); Mạch lạc trong văn bản kịch Vũ Như Tô
của Nguyễn Huy Tưởng (Đỗ Thị Bích Phượng, Đại học Sư phạm Hà Nội, 2011);
Điểm nhìn trong kịch Vũ Như Tô của Nguyễn Huy Tưởng (Bùi Thị Tú, Đại học Sư
phạm Hà Nội, 2012), Phong cách nghệ thuật Nguyễn Huy Tưởng (Nguyễn Huy

có công trình nào khai thác một cách có hệ thống.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Với đề tài này, chúng tôi muốn đem lại một cách nhìn hệ thống về thế giới
nhân vật trong truyện viết cho thiếu nhi của Nguyễn Huy Tưởng. Đồng thời chỉ ra
những đặc điểm riêng trong việc xây dựng nhân vật của nhà văn.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
- Tìm hiểu khái niệm và chức năng của nhân vật văn học, các dạng nhân vật
tiêu biểu thường xuất hiện trong văn học viết cho thiếu nhi.
- Nghiên cứu các kiểu nhân vật và nghệ thuật khắc họa nhân vật trong truyện
viết cho thiếu nhi của Nguyễn Huy Tưởng.
4.2. Phạm vi tư liệu
Trong khuôn khổ của luận văn, chúng tôi khảo sát thế giới nhân vật trong hai
tập truyện:
- Nguyễn Huy Tưởng - Những truyện hay viết cho thiếu nhi, Nxb Kim Đồng, 2016.
- Lá cờ thêu sáu chữ vàng, Nxb Kim Đồng, 2012.
Ngoài ra, chúng tôi cũng liên hệ một số tác phẩm khác của Nguyễn Huy Tưởng
và một số tác giả khác trong nước có tác phẩm liên quan đến đề tài của luận văn.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Trong luận văn này chúng tôi chủ yếu sử dụng các phương pháp:
- Phương pháp loại hình
- Phương pháp phân tích văn bản

7


- Phương pháp so sánh
- Phương pháp phân loại, thống kê.
6. Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của luận văn
Với đề tài này, chúng tôi hi vọng góp một phần nhỏ vào việc tìm hiểu cống

quan tài" cũng là một thứ nhân vật".
Biểu hiện nhân vật trong tác phẩm muôn hình vạn trạng. Có nhân vật hiện ra
đầy đặn từ ngoại hình cho đến nội tâm, từ hành động cho đến tiểu sử như trong tác
phẩm tự sự. Có nhân vật lại chỉ hiện ra qua ngôn ngữ như trong kịch bản văn học.
Có nhân vật lại chỉ được bộc lộ qua cảm xúc, ý nghĩ như nhân vật trong tác phẩm
trữ tình. Có nhân vật không được khắc họa chân dung, ngoại hình, hành động nhưng
người đọc vẫn nhận ra qua lời kể như nhân vật người kể chuyện... Muốn nhận diện
nhân vật cần phải căn cứ vào những đặc điểm của nó. Trước hết có thể căn cứ vào
tên gọi của nhân vật. Có thể đó là một cái tên riêng cụ thể như An Dương Vương,
Thạch Sanh, Thúy Vân, Thúy Kiều, lão Hạc ... Nhưng cũng có khi tên gọi theo nghề
nghiệp, tiểu sử, hay một đặc điểm đặc biệt nào đó như anh trai cày, chàng mồ côi,
bà hoàng hậu... Cũng có khi tên nhân vật là tên gọi những con vật, đồ vật như cáo,
thỏ, rùa, cây kim, bông hoa..., hoặc là tên gọi những nhân vật tưởng tượng: mụ phù
thủy, Ngọc Hoàng, Tiên, Bụt... Tuy nhiên nếu chỉ căn cứ vào tên gọi thì có khi chưa
nhận diện đúng nhân vật. Cho nên sau tên gọi thường là những đặc điểm về tiểu sử,
tính cách. Các đặc điểm nghề nghiệp tiểu sử, tính cách cho ta nhận biết nhân vật
một cách sâu sắc hơn, nhận biết rõ hơn ý nghĩa xã hội mà nhân vật khái quát.
Nhân vật văn học có những đặc điểm khác với nhân vật của các loại hình nghệ
thuật khác. Nhân vật văn học là nhân vật của tưởng tượng, liên tưởng nên không
"hữu hình", "nhìn thấy được" như trong điêu khắc, hội họa hay sân khấu, điện ảnh.

10


Qua ngôn từ, người đọc tưởng tượng và hình dung nhân vật theo khả năng liên
tưởng của mình. Qua văn Nam Cao người đọc hình dung ra Lão Hạc, Thứ, Điền,
Hộ... Mỗi người có khả năng liên tưởng, tưởng tượng khác nhau nên nhân vật văn
học được cảm nhận cũng không giống nhau. Mỗi người sẽ có "gương mặt" nhân vật
riêng của mình tuy cùng đọc một tác phẩm. Mặt khác, do hình tượng văn học là
hình tượng "thời gian" cho nên nhân vật văn học là nhân vật quá trình. Nhân vật

sau thế giới nhân vật ấy, ta nhận ra thái độ tố cái chế độ xã hội gay gắt và tấm lòng
nhân đạo luôn yêu thương trân trọng những con người nghèo khổ của ông.
Như vậy, nhân vật văn học nói riêng và thế giới nhân vật văn học nói chung thể
hiện quan điểm của nhà văn về con người, là nơi nhà văn gửi gắm, kí thác những tâm
tư ước vọng cùng những vấn đề triết lí nhân sinh.
1.1.2. Các dạng nhân vật trong tác phẩm văn học
Thế giới nhân vật trong văn học vô cùng phong phú. Trong lịch sử văn học có
biết bao nhiêu nhân vật với những diện mạo, tính cách khác nhau. Ngay thế giới
nhân vật của riêng một nhà văn hay riêng một tác phẩm cũng đã rất phong phú,
không nhân vật nào giống nhân vật nào. Có bao nhiêu nhân vật có bấy nhiêu dáng
vẻ, bấy nhiêu cuộc đời, mỗi nhân vật là một sáng tạo độc đáo, không lặp lại của nhà
văn. Tuy nhiên, xét về mặt nội dung tư tưởng, kết cấu, chất lượng miêu tả..., có thể
thấy những hiện tượng lặp đi lặp lại tạo thành các dạng nhân vật nhất định. Nhưng
ranh giới để phân loại nhân vật không phải lúc nào cũng rõ ràng. Vì vậy, việc phân
chia nhân vật thành các loại cũng mang tính chất tương đối. Ở đây, nêu lên một số
dạng nhân vật thường gặp:
1.1.2.1. Từ góc độ nội dung tư tưởng, căn cứ vào phẩm chất nhân vật có thể
chia thành: nhân vật chính diện, nhân vật phản diện, nhân vật trung gian.
Nhân vật chính diện (còn gọi là nhân vật tích cực) là loại nhân vật có phẩm
chất tốt đẹp, đại diện cho cái tốt, cái thiện. Dạng nhân vật này thường là nơi gửi
gắm những khát vọng cao cả của nhà văn và thời đại. Vì thế, phần nhiều nhân vật
chính diện đã trở thành nhân vật lí tưởng của thời đại mình. Ví dụ: Người quân tử
trong văn học cổ phương Đông, hoặc người chiến sĩ trong văn học cách mạng là
những nhân vật chính diện mang lí tưởng của một thời.
Ngược lại với nhân vật chính diện là nhân vật phản diện (còn gọi là nhân vật
tiêu cực). Nhân vật phản diện đại diện cho cái xấu, cái ác, mang những phẩm chất

12



13


hình, nội tâm, tính cách... Nhân vật chính góp phần bộc lộ nội dung tư tưởng của tác
phẩm, thể hiện tài năng của nhà văn.
Mỗi nhà văn, mỗi thời đại đều có nhân vật chính của mình. Nhân vật chính thể
hiện tư tưởng của nhà văn và thời đại. Nhân vật chính trong sáng tác của Nam Cao
là những số phận bi kịch, những con người bị tha hóa dù đó là nông dân hay trí
thức. Thạch Lam chú ý đến những con người bé nhỏ, những số phận mòn mỏi nơi
một góc khuất nào đó của cuộc sống... Nhân vật chính của nhà văn giúp người đọc
hiểu được tư tưởng, mong ước của họ trước cuộc đời.
Nếu một tác phẩm có nhiều nhân vật chính thì nhân vật chính quan trọng nhất,
có ý nghĩa xuyên suốt tác phẩm được gọi là nhân vật trung tâm. Đó là các nhân vật
như Enma Bovary, Kiều, Hamlet... Các mâu thuẫn, các vấn đề trung tâm thường
được tập trung và bộc lộ ở các nhân vật trung tâm này. Cho nên trong nhiều trường
hợp người ta lấy tên nhân vật trung tâm đặt tên cho tác phẩm như Don Quijote,
Othello, A. Q chính truyện,...
Trong tác phẩm, ngoài nhân vật giữ vai trò chính, còn có nhân vật giữ vai trò
phụ, đó là nhân vật phụ. Gọi là nhân vật phụ là vì nhân vật giữ "vai trò phụ" chứ
không phải không quan trọng. Đó là loại nhân vật có tính chất bổ sung, nhưng
không thể thiếu, nó khiến cho cốt truyện tiếp tục phát triển. Chẳng hạn "thằng bán
tơ" trong Truyện Kiều. Đó là nhân vật “rất phụ” nhưng không có nhân vật này thì sẽ
cũng không có sự kiện "gia biến" dẫn đến các sự kiện "bán mình", "15 năm lưu lạc"
của Kiều...
1.1.2.3. Xét từ góc độ thể loại có thể chia thành: nhân vật tự sự, nhân vật
kịch, nhân vật trữ tình.
Nhân vật tự sự là nhân vật được miêu tả theo phương thức tự sự, thường xuất
hiện trong các tác phẩm tự sự như tiểu thuyết, truyện ngắn, truyện vừa, truyện thơ.
Đây là loại nhân vật được miêu tả đầy đặn nhất, ít bị hạn chế. Nhân vật kịch là nhân
vật được miêu tả theo phương thức kịch, chủ yếu xuất hiện trong kịch. Kịch viết là

tiêu biểu cho loại người nào đó trong xã hội của những thời đại nhất định. Loại
nhân vật này thường được tập trung miêu tả một nét tính cách nổi bật và thường nét
tính cách đó trở thành tên gọi của nhân vật. Như nét "keo kiệt" của Apagon, nét
"đạo đức giả" của Tartufe trong hài kịch Molière... Những nét tính cách của nhân
vật thể hiện sâu sắc, thậm chí nhiều khi đạt đến trình độ điển hình, nhưng không

15


tránh khỏi sự phiến diện. Cho nên có người đã gọi đây là những nhân vật "lép kẹp"
để phân biệt với loại nhân vật tính cách "đầy đặn".
Nhân vật tính cách là loại nhân vật có cá tính đầy đặn nhiều mặt. Đây là nhân
vật "vừa lạ, vừa quen". "Lạ" vì cái độc đáo của cá tính, tính cách. "Quen" vì mang
trong nó sự khái quát cao, tiêu biểu cho nhiều hiện tượng cùng loại. Cấu trúc nhân
vật tính cách là khả năng cao nhất của các loại nhân vật trong việc khái quát và
chiếm lĩnh thực tại. Theo nghĩa chặt chẽ nhất, nhân vật tính cách chỉ có thể xuất
hiện ở chủ nghĩa hiện thực. Các nhân vật như Anna Kanenina của L. Tolstoi,
Hamlet, Othello của W. Shakespeare, Bovari của G. Flaubert, Kiều của Nguyễn
Du... là những nhân vật tính cách. Nét khác nhau căn bản giữa nhân vật tính cách và
nhân vật loại hình là ở chỗ một bên tính cách đa diện như một cá nhân, còn một bên
chỉ có một nét tính cách được tô đậm thành loại hình.
Nhân vật tư tưởng là loại nhân vật giữ chức năng bộc lộ một tư tưởng, một
quan niệm nào đó. Nhân vật tư tưởng thường giữ vai trò "cái loa" phát ngôn cho tư
tưởng tác giả. Trong Những người khốn khổ của V. Hugo, những nhân vật như Jean
vant Jean, Jave đều được xem là nhân vật tư tưởng. Jean vant Jean hoạt động theo tư
tưởng phụng sự con người, còn Jave lại là biểu hiện của tư tưởng phụng sự luật pháp.
Các nhân vật như Đạm Tiên trong Truyện Kiều của Nguyễn Du, ông Quán trong Lục
Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu cũng là loại nhân vật tư tưởng, giữ vai trò "phát
ngôn" cho tác giả. Đạm Tiên "phát ngôn" cho tư tưởng "tài mệnh tương đố" của
Nguyễn Du, ông Quán phát ngôn cho tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Đình Chiểu.

nhân vật xuất hiện trong truyện dân gian và truyện viết về đề tài lịch sử.
1.2.1. Nhân vật con người thông thường
Trong các truyện dân gian dành cho thiếu nhi, các tác giả dành nhiều sự quan
tâm đến những người lương thiện, hiền lành, chăm chỉ nhưng phải chịu nhiều bất
công, đau khổ. Trong xã hội, họ là những người lao động nghèo, không có thế lực,
địa vị: người làm thuê, đi ở, người mồ côi, người xấu xí… Trong gia đình họ là
những người em, người con riêng, người con dâu…. Cuộc đời của họ thường thay
đổi theo hướng lúc lúc đầu là bất hạnh, sau được hạnh phúc, giàu sang, xứng đáng
với phẩm chất tốt đẹp của họ.
Trong truyện dân gian, kiểu nhân vật mồ côi xuất hiện khá phổ biến với các
motif thường gặp sau: nhân vật mồ côi ở với gì ghẻ và em cùng cha khác mẹ (Tấm

17


cám), nhân vật mồ côi ở với anh hoặc chú (Cây khế), nhân vật mồ côi là tráng sĩ
(Thạch Sanh)… Thường những nhân vật này có cuộc sống nghèo khó, không nơi
nương tựa, vô cùng thiếu thốn cả vật chất lẫn tình cảm. Nhưng trong hoàn cảnh nào,
họ vẫn sáng ngời vẻ đẹp nhân cách: chân thật, hiền lành, đức độ. Trong truyện dân
gian Việt Nam, nhân vật điển hình là cô Tấm mồ côi cả cha lẫn mẹ, bị mẹ kế hãm hại
hết lần này đến lần khác. Nhờ có Bụt giúp đỡ, dù trải qua nhiều kiếp nạn, kết thúc
truyện Tấm trở về xinh đẹp hơn xưa và sống hạnh phúc bên nhà vua. Những nhân vật
kiểu này thường xuất hiện trong truyện cổ tích thần kì. Bên cạnh motif nhân vật mồ
côi, truyện cổ tích thần kì còn có những motif nhân vật khác: nhân vật có tài lạ,
nhân vật nghèo khổ đi làm thuê cho địa chủ hoặc phú ông (Cây tre trăm đốt, Sự tích
con khỉ), nhân vật có hình dạng xấu xí (Sọ Dừa, Lấy vợ Cóc, Lấy chồng Dê). Nhân
vật trong truyện cổ tích thần kì có sự phân biệt rõ ràng thành hai tuyến đối lập nhau:
tuyến thiện và tuyến ác. Các nhân được xây dựng một chiều, đã tốt là tốt từ đầu đến
cuối, ngược lại đã xấu là xấu từ đầu đến kết thúc, nhân vật xuất hiện từ đầu với
nhân cách nào thì đến cuối chuyện vẫn nhân cách đó. Nhân vật thường không có

có thật, là sản phẩm của trí tưởng tưởng và niềm tin của tác giả dân gian. Trong thế
giới cổ tích, mọi điều diễn ra, mọi xung đột được giải quyết theo hướng mà nhân
dân mong muốn đều là nhờ sự can thiệp của nhân vật đặc biệt này. Họ luôn đứng về
tuyến nhân vật thiện để che chở, giúp đỡ mỗi khi họ gặp khó khăn hay nguy hiểm.
Chẳng hạn như Bụt giúp anh Khoai trong Cây tre trăm đốt, Bụt giúp Tấm trong
Tấm Cám, cây cung thần, cây đàn thần, cái niêu cơm thần kì của Thạch Sanh, Rùa
Vàng giúp An Dương Vương xây thành…
Đối lập với những nhân vật thần kì thuộc phía thiện, chính nghĩa là những
nhân vật như hung thần, yêu quái, phù thủy thường xuất hiện để cản trở, hãm hại
người tốt.
Ngoài hai loại nhân vật thần kì đối lập nhau, trong truyện dân gian còn có
một loại nhân vật thần kì trung lập, không đứng về phía bên nào như phượng hoàng
trong truyện Cây khế, đàn khỉ trong truyện Hà rầm hà rạc…
1.2.3. Nhân vật lịch sử
Đây là dạng nhân vật thường xuất hiện trong truyền thuyết. Họ là những
nhân vật lịch sử được tái tạo. Tác giả dân gian hư cấu, sáng tạo trên nền lịch sử
(thường là lí tưởng hóa những sự kiện, con người mà họ ca ngợi). Nhân vật trong

19


truyền thuyết cũng được xây dựng bằng chuỗi hành động giống như trong cổ tích và
có số phận không thể đảo ngược so với sự thật lịch sử. Nhân vật chính có thể là
nhân vật trung tâm của một truyện hoặc một chuỗi truyện.
Nhân vật lịch sử trong truyền thuyết có thể chia thành hai loại chính: Một là
nhân vật truyền thuyết khởi nguyên và anh hùng văn hóa. Nhân vật khởi nguyên
giải thích về nguồn gốc và quá trình hình thành các thị tộc, bộ tộc, bộ lạc, gia tộc,
các làng xã, các thủy tổ của các làng nghề thủ công truyền thống. Nhân vật anh
hùng văn hóa trong huyền thoại giải thích những cái trước đây chưa có, xa lạ với
con người hoặc những thứ mà con người chưa đủ khả năng để giải thích. Họ có khả

yếu tố của thần thánh nhưng được các lực lượng thần thánh giúp đỡ như thần Kim
Quy, Long Quân… Nhân vật xây dựng theo cách này có nhân tính, nhân cách rõ
hơn loại nhân vật được xây dựng theo cách thứ nhất.
1.2.4. Nhân vật loài vật
Nhân vật loài vật trong tác phẩm văn học là những con vật được nhân hóa,
chúng có thể biết nói và có những suy nghĩ, hành động như con người. Tác giả nói
về loài vật nhưng không đơn thuần là dừng lại ở loài vật mà dùng loài vật để nói
chuyện của loài người, cách ứng xử trong đời sống và xã hội của loài người.
Nhà nghiên cứu Lê Trường Phát cho rằng: “Hình ảnh các con vật cùng mối
quan hệ giữa chúng vừa phải giống chúng tồn tại ngoài đời thực, nghĩa là trong cái
thế giới hoang dã của chúng, vừa mang theo đặc tính của con người và mối quan hệ
giữa người với người”. Điều này làm cho các nhân vật chính trong truyện cổ tích
loài vật có tính chất hai mặt: mặt “tự nhiên” tức là giống những con vật thật ngoài
đời (vật nuôi), ngoài tự nhiên (vật hoang dã), lại vừa mang tính “xã hội” nghĩa là lại
vừa giống với những bản chất khác nhau của các hạng người trong xã hội.
Nhân vật loài vật được nhân hóa một cách hồn nhiên trong trí tưởng tượng của
dân gian. Thế giới nhân vật loài vật đã làm cho các truyện kể thêm phong phú, sống
động, hấp dẫn.
* Nguyên tắc xây dựng nhân vật trong truyện dân gian
Nhân vật trong truyện dân gian là những nhân vật chức năng. Tác giả dân
gian xây dựng nên những nhân vật đó để gửi gắm những tâm tư, tình cảm, mong
ước, khát vọng của mình và cũng để tìm cách lí giải cho những hiện tượng con
người chưa giải thích được bằng khoa học.

21



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status