A. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Truyện cổ tích là một thể loại văn học dân gian luôn có sức hấp dẫn với
mọi đối tượng trong mọi thời điểm. Làm nên sức sống lâu bền và tầm ảnh hưởng
rộng lớn này cũng chính bởi sự độc đáo phong phú của truyện cổ tích. Truyện cổ
tích là một loài hình nghệ thuật ngôn từ chứa đầy thơ, chất trí tuệ, sự lãng mạn
bay bổng nhưng vẫn mang một vẻ đẹp bình dị, rất đời thường. Mỗi câu chuyện
là sự kết tinh giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Đó là lòng nhân ái và bản
lĩnh kiên cường, hiện thực và ước mơ, niềm vui và nỗi buồn, hạnh phúc và khổ
đau. Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam vốn rất phong phú và đa dạng. Mỗi câu
chuyện được lưu truyền là một bài học quý của ông cha để lại cho thế hệ sau.
Hầu hết các câu chuyện đều thể hiện quan niệm sống của ông cha ta thông qua
việc xây dựng các hình tượng nhân vật với các mối quan hệ của nó trong gia
đình cũng như ngoài xã hội.
Như chúng ta đều biết, trẻ em luôn có nhu cầu tìm hiểu và khám phá môi
trường xung quanh, trong đó thế giới nhân vật truyện cổ tích vô cùng phong
phú, chứa đựng nhiều điều hấp dẫn đối với các em. Từ đây, các em biết được
nhiều điều kì thú, học thêm được nhiều kiến thức quan trọng trong cuộc sống.
Lứa tuổi học sinh tiểu học đang ở độ tuổi ngây thơ, trong sáng và hồn nhiên, các
em như trang giấy trắng, người dạy phải biết khơi dậy những cảm xúc thẫm mĩ
cho các em, các em chỉ mới tiếp cận được với thế giới xung quanh thông qua
những gì gần gũi, thân thuộc nhất như cây cối, các đồ vật, con vật. Qua đó, học
sinh có thêm hiểu biết về thế giới nhân vật, nhận thức được cái đúng, cái sai, cái
tốt, cái xấu, cách xử sự, hành vi phù hợp với quy tắc, chuẩn mực chung của xã
hội. Từ đó, hình thành những nền tảng ban đầu về mặt đạo đức, giúp các em có
cái nhìn đúng đắn qua các mối quan hệ trong việc giao tiếp hàng ngày, có lý
tưởng sống cao đẹp, là công dân tốt, có ích cho xã hội, điều này thấy được thông
qua thái độ ứng xử với ông bà, cha mẹ, anh chị em ruột trong gia đình, với thầy
cô giáo, bạn bè…
1
2.1. Các công trình nghiên cứu chung về truyện cổ tích
Tác giả Nguyễn Tất Phát, Bùi Mạnh Nhị trong bài Nhân vật lý tưởng và cốt
truyện của cổ tích thần kỳ báo văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh số 316 ở mục
“Những phần thưởng dành cho nhân vật” có viết “Trong truyện cổ tích thần kỳ,
nhân dân luôn chăm chú theo dõi nhân vật lý tưởng của mình và dành cho họ
những phần thưởng xứng đáng”. Bên cạnh những phần thưởng mà nhân dân
dành cho nhân vật lý tưởng bao giờ cũng kèm theo đòn trừng phạt đối với kẻ
thù.
Trong “Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam”, cố giáo sư Nguyễn Đổng Chi
đã có phần khảo dị, nó tạo điều kiện cho sự nghiệp nghiên cứu, so sánh truyện
cổ tích ở các địa phương trong nước, của Việt Nam với các nước khác trên thế
giới.
Việc nghiên cứu trực tiếp thi pháp truyện cổ tích và truyện ngụ ngôn có thể
kể đến Hà Bình Trị. Trong cuốn “Những đặc điểm thi pháp của các thể loại văn
học dân gian”, ông đã cho người đọc hiểu được những khái niệm về một số yếu
tố của thi pháp các thể loại văn học dân gian, yếu tố ngôn ngữ, kết cấu, nhân vật
chính, không gian và thời gian nghệ thuật…
Tác giả Tăng Kim Ngân trong Cổ tích thần kì Người Việt – Đặc điểm cấu
tạo cốt truyện, NXB KHXH,1994 đã đề cập đến các truyện cổ tích thần kì, đặc
điểm cấu tạo cốt truyện của các truyện cổ tích.
Văn học dân gian và những tác phẩm chọn lọc, NXBGD 2004. Tác giả Bùi
Mạnh Nhi đã sưu tầm những tác phẩm văn học dân gian thuộc các thể loại khác
nhau như truyện cười, truyện ngụ ngôn, truyện cổ tích.
2.2. Các công trình nghiên cứu về thế giới nhân vật trong truyện cổ tích
Tác giả Nguyễn Bích Hà trong cuốn Thạch Sanh và kiểu truyện dũng sỹ
trong truyện cổ Việt Nam và Đông Nam Á, khi bàn tới vấn đề “ Về cái chết và
sự hóa thân của nhân vật Lí Thông đã nhận xét: “Cái chết và sự hóa thân của
những kẻ ác thành con vật xấu xa chính là thắng lợi tuyệt đối của cái thiện, của
đặc điểm của thế giới nhân vật.
- Tìm hiểu thế giới nhân vật trong các tác phẩm trong chương trình Tiếng
Việt, rút ra ý nghĩa và bài học góp phần giáo dục học sinh Tiểu học.
4
5. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu
sau:
- Phương pháp khảo sát, thống kê: Thống kê các truyện cổ tích ở chương
trình Tiếng Việt Tiểu học có nhân vật loài vật, nhân vật thần kỳ, nhân vật sinh
hoạt từ đó phân loại các kiểu nhân vật với từng đặc điểm cụ thể
- Phương pháp phân tích – tổng hợp: Phân tích các kiểu nhân vật trong
truyện cổ tích để thấy được đặc điểm của từng kiểu nhân vật từ đó tổng hợp,
khái quát và đưa ra kết luận chung.
- Phương pháp so sánh: So sánh để thấy được điểm khác biệt giữa nhân vật
loài vật, nhân vật thần kỳ và nhân vật sinh hoạt.
-Phương pháp hệ thống: Tìm hiểu thế giới nhân vật trong truyện cổ tích ở
chương trình Tiếng Việt ở Tiểu học phải dựa trên hệ thống đặc điểm, nội dung,
nghệ thuật truyện. Phương pháp hệ thống giúp người viết hệ thống hóa thế giới
nhân vật ở chương trình Tiểu học.
6. Đóng góp của đề tài
Về mặt lí luận là công trình nghiên cứu một cách có hệ thống về các kiểu
nhân vật đặc trưng của truyện cổ tích Việt Nam trong chương trình Tiếng Việt ở
bậc Tiểu học, đề tài nghiên cứu thế giới nhân vật trong truyện cổ tích ở chương
trình Tiếng Việt Tiểu học. Từ đó phân loại làm rõ các vấn đề về đặc điểm của
từng nhân vật. Góp thêm tiếng nói mới vào vấn đề nghiên cứu thế giới nhân vật.
Ngoài ra đề tài cũng làm nổi bật được vai trò, ý nghĩa giáo dục chân – thiện –
mỹ cho học sinh Tiểu học. Khẳng định những đóng góp trong nghệ thuật xây
dựng nhân vật của truyện cổ tích trong hệ thống các thể loại văn học dân gian
thông điệp mang tính xã hội vào trong cuộc sống để mỗi người có những điều
chỉnh về nhận thức của mỗi cá thể trong cộng đồng. Ở đây, nhân vật văn học
được thể hiện bằng chất liệu riêng là ngôn từ. Vì vậy, nhân vật văn học đòi hỏi
người đọc phải vận dụng trí tưởng tượng, liên tưởng để dựng lại một con người
hoàn chỉnh trong tất cả các mối quan hệ của nó. Nhân vật văn học là một đơn vị
nghệ thuật, nó mang tính ước lệ, không thể bị đồng nhất với con người có thật.
Nhân vật văn học là sự thể hiện quan niệm nghệ thuật của nhà văn về con người,
ý nghĩa của nhân vật chỉ có được trong hệ thống một tác phẩm cụ thể. Gắn với
sáng tác ngôn ngữ của những thời đại khác nhau, nhân vật văn học in dấu những
xu hướng tiến hóa của tư duy nghệ thuật. Thực tiễn sáng tác đã nêu lên nhiều
kiểu nhân vật văn học, dựa vào vai trò của từng nhân vật mà người ta chia ra
thành nhiều kiểu nhân vật khác nhau như: nhân vật chính, nhân vật phụ, nhân
vật chính diện, nhân vật phản diện… Như vậy, các nhà nghiên cứu lí luận văn
học bằng cách này hay cách khác khi định nghĩa về nhân vật văn học vẫn căn
bản gặp nhau ở những nội dung sau:
Thứ nhất, đó là đối tượng mà văn học miêu tả, thể hiện bằng phương tiện
văn học.
Thứ hai, đó là những con người hoặc những con vật, đồ vật, sự vật, hiện
tượng mang linh hồn con người, đó là hình ẩn dụ về con người.
7
Thứ ba, đó là đối tượng mang tính ước lệ và có cách điệu so với đời sống
hiện thực bởi nó đã được khúc xạ qua lăng kính chủ quan của con người nghệ sĩ
tài năng.
1.2. Truyện cổ tích
Từ điển văn học định nghĩa truyện cổ tích như sau: “Truyện cổ tích là loại
truyện dân gian có tính phổ biến, hình thành từ thời cổ đại, phát triển, tồn tại qua
nhiều thời kì xã hội khác nhau, gắn chặt với quá trình tan rã của công xã nguyên
thủy, hình thành gia đình phụ quyền và phân hóa giai cấp trong xã hội. Nó
cũng mang tính chỉnh thể trong sáng tác nghệ thuật của nhà văn có tổ chức và sự
sống riêng, phụ thuộc vào ý thức sáng tạo của nghệ sĩ. Nằm trong thế giới nghệ
thuật, thế giới nhân vật cũng là sản phẩm tinh thần, là kết quả của trí tưởng
tượng sáng tạo của nhà văn và chỉ xuất hiện trong các tác phẩm văn học, trong
sáng tác nghệ thuật. Thế giới nhân vật là cảm nhận một cách trọn vẹn, toàn diện
và sâu sắc của chủ thể sáng tạo về toàn bộ nhân vật xuất hiện trong tác phẩm,
mối quan hệ, môi trường hoạt động của họ, ý nghĩa tư tưởng, tình cảm của họ
trong cách đối nhân xử thế trong giao lưu với xã hội, với gia đình.
Trong thế giới cổ tích, nhân vật hết sức phong phú và đa dạng, nó góp phần
làm cho câu chuyện thêm sinh động và là cầu nối đi tới tâm hồn của các em.
Nhân vật xuất hiện trong cổ tích bao giờ cũng nêu lên những mâu thuẫn trong
quan hệ xã hội, quan hệ gia đình.
1.4. Truyện cổ tích trong chương trình Tiếng Việt ở Tiểu học
1.4.1. Khảo sát hệ thống truyện cổ tích trong chương trình Tiểu học
Qua khảo sát truyện cổ tích trong chương trình Tiếng việt tiểu học, truyện
được sắp xếp khá hợp lí trong SGK từ lớp 1 đến lớp 5. Lớp 1 gồm 7 truyện, lớp
2 gồm 8 truyện, lớp 3 gồm 8 truyện, lớp 4 gồm 10 truyện và lớp 5 có 1 truyện.
Nội dung của các truyện cổ tích được dùng làm ngữ liệu để dạy Tiếng Việt từ đó
rèn luyện các kỹ năng phát triển ngôn ngữ, tư duy cho học sinh.
Những câu chuyện cổ tích được đưa vào chương trình Tiếng Việt tiểu học
nhằm mục đích cung cấp những kinh nghiệm về cách sống, cách ứng xử cho các
em. Theo từng câu chuyện các em sẽ thấy được từ những phong tục tập quán
đến cảnh sắc thiên nhiên qua đó làm tăng thêm vốn hiểu biết cho học sinh tiểu
9
học.
1.4.2. Vị trí, ý nghĩa của việc dạy truyện cổ tích đối với học sinh Tiểu học
1.4.2.1. Vị trí
Ở trường Tiểu học, học sinh lĩnh hội truyện cổ tích qua phân môn kể
CHƯƠNG TRÌNH TIẾNG VIỆT TIỂU HỌC
2.1. Nhân vật loài vật
Những truyện kể về loài vật chắc hẳn đã nảy sinh từ nhu cầu của người thời
cổ, đặc biệt là người săn bắt, muốn đúc kết những kinh nghiệm và hiểu biết về
đời sống và tập tính của một số các con vật ít nhiều có liên quan đến cuộc sinh
tồn của họ để truyền dạy cho lớp người trẻ. Về sau, những truyện kể ấy mất dần
tính chất thần thoại, trở thành truyện cổ tích về loài vật. Trong thế giới cổ tích,
nhân vật loài vật hết sức phong phú và đa dạng. Bước vào thế giới nhân vật này,
chúng ta có thể bắt gặp rất nhiều con vật gần gũi xung quanh cuộc sống.
2.1.1. Nhân vật loài thú
Ta thấy loài vật cũng có mối quan hệ gia đình, bạn bè, thù địch. Tác giả dân
gian đã biến những loài vật bình thường trở nên sinh động, mượn thế giới loài
vật ấy để nói lên cuộc sống, những điều gặp phải trong xã hội và muốn thông
qua đây răn dạy cho con người những điều hay, lẽ phải. Quan hệ bạn bè giúp đỡ
lẫn nhau, thể hiện được mối quan hệ tương trợ. Thế giới loài vật đa dạng, phong
phú. Chúng sống với nhau và có mối quan hệ tương quan. Với câu chuyện Cóc
kiện trời, những nhân vật đã tạo nên một bức tranh toàn cảnh về cuộc sống và
mối quan hệ của chúng. Với các đại từ xưng hô tôi, bác, chú, anh, chị…cho ta
thấy một điều, các con vật sống với nhau rất hòa thuận, tình cảm và rất đoàn kết.
Vì thế ở truyện cổ tích loài vật vừa có nội dung sinh hoạt vừa có nội dung
mang ý nghĩa xã hội với những mức độ khác nhau, và hai mặt nội dung đó gắn
bó hòa quyện với nhau rất chặt nhiều khi rất khó tách bạch. Truyện cổ tích loài
vật ngoài việc phản ánh sự ra đời, đặc điểm của các loài vật, những con vật nuôi
hoang dã hoặc trong nhà con gián tiếp phản ánh mối quan hệ giữa con người với
con người. Những con vật trong cổ tích loài vật hầu hết đều được nhân cách hóa
biết nói năng, suy nghĩ, và hành động như con người.
11
giữ vai trò quan trọng trong việc tạo nên yếu tố hấp dẫn li kì của kiểu truyện.
Yếu tố thần kì xuất hiện trong thế giới của lực lượng thần kì có thể coi là một
phương tiện nghệ thuật giúp cho tác giả dân gian giải quyết những mâu thuẫn
xung đột của con người trong đời sống thường ngày.
2.2.1. Nhân vật tài giỏi, dũng sĩ
Nhân vật tài giỏi, dũng sĩ, nhân vật chính lập công, diệt trừ cái ác, bảo vệ
cái thiện, mưu cầu hạnh phúc cho con người.
Trong truyện Bốn anh tài (TV 4/ tập 2). Nội dung ngày xưa, bản kia có một
chú bé tuy nhỏ nhưng ăn một lúc hết chín chõ xôi. Dân bản đặt tên cho chú là
Cẩu Khây. Cẩu Khây lên mười tuổi, sức đã bằng trai mười tám, mươi lăm tuổi
đã tinh thông võ nghệ. Hồi ấy, trong vùng xuất hiện một con yêu tinh chuyên bắt
người và súc vật. Chẳng mấy chốc làng bản tan hoang, nhiều nơi không còn ai
sống sót. Thương dân bản Cẩu Khây quyết chí lên đường diệt trừ yêu tinh. Đến
một cánh đồng khô cạn, Cẩu Khây thấy một cậu bé vạm vỡ đang dùng tay làm
vồ đóng cọc để đắp đập dẫn nước vào ruộng. Mỗi quả đấm của cậu giáng xuống,
cọc tre thụt sâu hàng gang tay. Hỏi chuyện, Cẩu Khây biết tên cậu là Nắm Tay
Đóng Cọc. Nắm Tay Đóng Cọc sốt sắng xin được cùng Cẩu Khây đi diệt trừ yêu
tinh. Đến một vùng khác, hai người nghe thấy tiếng tát nước ầm ầm. Họ ngạc
nhiên thấy một cậu bé đang lấy vành tai tát nước suối lên một thửa ruộng cao
bằng mái nhà. Nghe Cẩu Khây nói chuyện, Lấy Tai Tát Nước hăm hở cùng hai
bạn lên đường. Đi được ít lâu, ba người lại gặp một cậu bé đang ngồi dưới gốc
cây, lấy móng tay đục gỗ thành lòng máng dẫn nước vào ruộng. Cẩu Khây cùng
các bạn đến làm quen và nói rõ chí hướng của ba người. Móng Tay Đúc Máng
hăng hái xin được làm em út đi theo. Bốn anh tài: Cẩu Khây, Nắm Tay Đóng
Cọc, Lấy Tai Tát Nước, Móng Tay Đúc Máng lên đường. Câu chuyện ca ngợi
sức khỏe, tài năng lòng nhiệt thành làm việc nghĩa của bốn anh em Cẩu Khây.
2.2.2. Nhân vật siêu nhiên
Đây là những lực lượng không có trong thực tế mà chỉ được biểu hiện rõ
và đa dạng. Việc đưa ra các kiểu loại nhân vật chính trong tiểu loại truyện cổ
tích sinh hoạt đã được rất nhiều nhà nghiên cứu văn học dân gian đề cập đến
trong các bài viết hoặc các công trình nghiên cứu. Truyện cổ tích sinh hoạt ngoài
14
lối kết thúc có hậu, nhiều truyện còn có lối kết thúc bi kịch, các nhân vật chính
đều phải chết hoặc ra đi biệt tích nhưng tinh thần lạc quan vẫn tỏa sáng, vì
những cái chết ấy hay sự ra đi biệt tích của các nhân vật chính diện làm tăng
thêm niềm tin và sự khẳng định đối với phẩm chất cao đẹp của con người chân
chính.
2.3.1. Nhân vật đức hạnh
Nhân vật đức hạnh là nhân vật mang trong mình những phẩm chất đáng
trân trọng như giàu lòng vị tha, giàu đức hi sinh, là người hết lòng vì người khác
khi khó khăn…Khảo sát trong truyện cổ tích sinh hoạt thì có rất nhiều truyện
xuất hiện nhân vật đức hạnh. Nhân vật đức hạnh được thể hiện rất đa dạng như:
tình cảm bà cháu, người vợ đức hạnh, người chồng chung thủy, người cha –
người mẹ hết lòng yêu thương con cái, người con nuôi hiếu thảo, người bạn
trọng tình, trọng nghĩa.
Kiểu nhân vật đức hạnh chiếm số lượng lớn trong tiểu loại cổ tích sinh
hoạt. Điều này thể hiện sự nhìn nhận khách quan về cuộc sống của tác giả dân
gian. Nó cho thấy trong cuộc sống có rất nhiều người tốt, rất nhiều người tình
nghĩa. Người tốt thường gặp nhiều thử thách, khó khăn. Họ có thể vượt qua hay
không vượt qua được. Qua những thử thách khó khăn đó phẩm chất của họ được
bộc lộ, tỏa sáng. Với việc tạo dựng nhiều nhân vật tốt đẹp, nhân dân ta muốn họ
là những tấm gương về đạo đức và cách cư xử để từ đó chúng ta học tập và noi
theo.
2.3.2. Nhân vật xấu xa
Trong xã hội luôn có người tốt và kẻ xấu. Xuất phát từ thực tế đó, tác giả
dân gian đã xây dựng nhiều kiểu nhân vật xấu xa. Nếu như nhân vật tốt đẹp
năng, sự nhanh nhẹn và và mưu trí của mình đã giành được thắng lợi, giành
được hạnh phúc. Thông qua kiểu nhân vật thông minh, tác giả dân gian muốn đề
cao sức mạnh trí tuệ của con người. Chính trí tuệ của con người, đã giúp họ làm
chủ được số phận của chính mình, chiến thắng được những thế lực đàn áp.
2.3.4. Nhân vật ngốc nghếch
Truyện cổ tích sinh hoạt ra đời khi tư duy con người đã chiếm ưu thế hơn
hẳn so với lối tư duy cảm tính có yếu tố ảo tưởng trong truyện cổ tích thần kỳ.
16
Với lối tư duy “hiện thực tỉnh táo” đã giúp tác giả dân gian phát hiện ra một đối
tượng mới đó là nhân vật ngốc nghếch. Những nhân vật ngốc nghếch ấy này đã
đối lập hoàn toàn với kiểu nhân vật thông minh.
Xây dựng kiểu nhân vật Ngốc, tác giả dân gian muốn thể hiện rõ quan niệm
sự ngốc nghếch, thiếu hiểu biết là không thể chấp nhận được trong cuộc sống
nhưng cũng không phải là cái khiến cho nhân dân căm phẫn cao độ. Tác giả dân
gian để nhân vật Ngốc phải chịu hậu quả của sự ngu dốt, ngốc nghếch của mình
là cái chết, chỉ để nhấn mạnh, khắc họa sâu sắc bài học thất bại của những con
người không nắm được quy luật của tự nhiên, của cuộc sống để có cách ứng xử
hợp lý. Vì vậy, con người cần phải linh hoạt trong hành động sao cho phù hợp
với hoàn cảnh sống. Nếu con người cứ máy móc, không làm chủ được suy nghĩ
và hành động của mình thì sẽ gặp thất bại.
Qua kiểu nhân vật ngốc nghếch, tác giả dân gian muốn gửi vào đó mục đích
giáo dục, răn dạy con người phải biết ứng xử hợp lí với hoàn cảnh, đừng rập
khuôn, máy móc, phải biệt trang bị cho mình những kiến thức cơ bản. Ngoài ra,
với kiểu nhân vật này làm cho thế giới nhân vật trong truyện cổ tích sinh hoạt đa
dạng hơn, tạo thêm tiếng cười, niềm vui trong cuộc sống vất vả của người lao
động.
Với sự hiện diện của bốn kiểu nhân vật: đức hạnh, xấu xa, thông minh,
ngốc nghếch, truyện cổ tích sinh hoạt đã góp phần làm cho hệ thống nhân vật
đối tượng không phải người thường gắn với cách nhìn, với thái độ của người
nói. Cho nên, bằng nhân hoá người ta có thể bộc lộ tâm tư của mình một cách
kín đáo.
Với nghệ thuật nhân hóa đó, tác giả dân gian đã gửi gắm những ước mơ, lí
tưởng, khát vọng của mình vào một cuộc sống tốt đẹp, ấm no và hạnh phúc.
3.2. Xung đột
Trong thế giới văn học dân gian, nếu như thần thoại phản ánh quan niệm và
sự nhận thức của người Việt cổ về thế giới, truyền thuyết là sự nhận thức, lí giải
về lịch sử thì truyện cổ tích lại gần gũi hơn với con người trong cách phản ánh
những vấn đề cơ bản trong xã hội có giai cấp. Đó là những mâu thuẫn xảy ra
trong cuộc sống mà con người không thể tránh khỏi, nó trở thành vấn đề của
mọi giai cấp.
Nhìn chung, xung đột nổi bật trong truyện cổ tích loài vật là xung đột giữa
kẻ yếu và kẻ mạnh. Ở đây, những con vật nhỏ nhưng gan dạ, mưu trí, lại biết
hợp quần luôn luôn thắng những con vật chỉ biết ỷ vào sức mạnh hung bạo. Các
con vật đóng vai trò chính trong kết cấu cốt truyện nhưng mối quan hệ giữa
chúng ít nhiều cũng thể hiện được mối quan hệ của con người với những suy
nghĩ, hành động như con người.
Trong truyện cổ tích thần kỳ nổi lên hai loại xung đột: xung đột xã hội và
xung đột giữa con người với những trở lực của thiên nhiên. Xung đột xã hội
trong truyện cổ tích, đặc biệt trong truyện cổ tích thần kỳ thường diễn ra trong
19
phạm vi gia đình. Đề tài về sự xung đột giữa con người với những trở lực của
thiên nhiên trong truyện cổ tích thần kỳ có thể coi là sự tiếp nối hợp quy luật đề
tài về cuộc đấu tranh của con người nhằm tìm hiểu và chế ngự những sức mạnh
tự nhiên trong thần thoại và sử thi cổ đại
Truyện cổ tích sinh hoạt của người Việt tập trung khai thác hai đề tài lớn.
Đó là đề tài đạo đức và đề tài trí khôn. Những truyện cổ tích sinh hoạt về đề tài
của nhân vật trong các tình huống đời sống và các quan hệ ứng xử. Đây là một
phương diện quan trọng để thể hiện tính cách nhân vật. Chính hành động có tác
dụng bộc lộ quá trình phát triển của tính cách và giúp tiến trình câu chuyện được
đẩy tới, cốt truyện đạt được sự hoàn chỉnh.
Hành động nhân vật là khái niệm nhằm chỉ các việc làm của nhân vật.
Ðây là phương diện đặc biệt quan trọng để thể hiện tính cách nhân vật vì việc
làm của mỗi người là căn cứ quan trọng có ý nghĩa quyết định nói lên tư cách, lí
tưởng, phẩm chất cũng như những đặc điểm thuộc về thế giới tinh thần của
người đó. Hơn nữa, trong các truyện cổ tích, tính cách nhân vật không phải ngay
từ đầu đã được hình thành trọn vẹn. Chính hành động có tác dụng bộc lộ quá
trình phát triển của tính cách và thúc đẩy sự diễn biến của hệ thống cốt
truyện...Thông qua các mối quan hệ, sự đối xử giữa các nhân vật trong những
tình huống khác nhau, người đọc có thể xác định được những đặc điểm, bản chất
của nhân vật.
Thông thường, khi miêu tả hành động nhân vật, nhà văn thường kết hợp
với những biểu hiện nội tâm tương ứng vì đằng sau mỗi hành động, bao giờ
cũng có một tâm trạng hoặc một động cơ nào đó. Dùng nội tâm để lí giải hành
động, sử dụng hành động để làm sáng tỏ nội tâm là một hiện tượng phổ biến
trong việc miêu tả nhân vật.
3.4. Không gian, thời gian
Không gian trong truyện cổ tích loại vật là không gian sinh tồn và hoạt
động của loài vật, hợp nhất giữa không gian tự nhiên vốn tự nó như thể tự thuở
hồng hoang xa xưa với không gian sinh hoạt của những con vật và không gian
sinh hoạt xã hội của con người. Ở đây con vật biết nói, biết hoạt động và ứng xử
21
như người. Hai thứ không gian tự nhiên và không gian xã hội kết hợp với nhau
tạo nên một “thế giới cổ tích” độc đáo riêng của cổ tích loài vật.
phát triển chủ yếu trong xã hội giai cấp với chủ đề chủ yếu là chủ đề xã hội.
Qua những câu chuyện mang đậm yếu tố hoang đường kì ảo, tác giả dân gian đã
biểu hiện cách nhìn hiện thực đối với thực tại, đồng thời nói lên quan điểm đạo
đức, những quan niệm về công lí xã hội và ước mơ về một cuộc sống tốt đẹp
hơn. Mỗi câu chuyện lại là một số phận, một cuộc đời, một hoàn cảnh sống,
song tất cả đều là những mắt xích tạo nên một chuỗi nhân vật có những đặc
điểm chung nào đó về tính cách. Truyện cổ tích có ba thế giới nhân vật chính:
nhân vật loài vật, nhân vật thần kỳ, nhân vật sinh hoạt. Với mỗi thế giới nhân vật
đó, tác giả dân gian làm cho nhân vật hiện lên rõ nét qua những hành động, tính
cách, việc làm của họ.
Nhân vật loài vật là loại truyện cổ tích chủ yếu lấy các loài vật, làm đối
tượng phản ánh, tường thuật và lí giải. Vì thế ở truyện cổ tích loài vật vừa có nội
dung sinh hoạt vừa có nội dung mang ý nghĩa xã hội với những mức độ khác
nhau, và hai mặt nội dung đó gắn bó hòa quyện với nhau rất chặt nhiều khi rất
khó tách bạch. Những con vật trong thế giới loài vật hầu hết đều được nhân cách
hóa (biết nói năng, suy nghĩ, và hành động như con người) nhưng nhìn chung
đều mang tính chất “trần gian” thực tại chứ không siêu nhiên, kì ảo như các con
vật trong cổ tích thần kì.
Nhân vật thần kì là nhân vật quan trọng và tiêu biểu của thể loại truyện cổ
tích. Nó ra đời sớm hơn truyện cổ tích sinh hoạt và có những đặc trưng nổi bật
của truyện cổ tích đều có thể tìm thấy trong nhóm truyện này. Những xung đột
ấy trước hết thể hiện ở mối quan hệ giữa những con người trong gia đình với
nhau, sau đó là những con người trong xã hội. Chính thế giới thần kì, màu nhiệm
này khiến cho truyện cổ tích thần kì mang đậm yếu tố kì ảo và đề cao trí tưởng
tượng phong phú lãng mạn của tác giả dân gian. Kết thúc truyện cổ tích thần kì
thường là có hậu, mang lại sự vui vẻ lạc quan, thỏa mãn mơ ước của nhân dân.
23
Những kết thúc có hậu như nhân vật bất hạnh được đổi đời và sống hạnh phúc.