BỘ TƯ PHÁP
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGUYỄN ANH THÚY
ĐẤU TRANH PHÒNG, CHỐNG TỘI PHẠM VỀ MA TÚY
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH YÊN BÁI
Chuyên ngành : Tội phạm học và điều tra tội phạm
Mã số
: 60 38 70
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN: TS. LÊ THỊ SƠN
HÀ NỘI - 2005
BẢNG TỪ VIẾT TẮT
BLHS
: Bộ LUật Hình Sự
BLTTHS
Chương 2 – Nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm về ma tuý
trên địa bàn tỉnh Yên Bái ............................................................................ 31
2.1 Nguyên nhân và điều kiện về môi trường kinh tế – xã hội ..................... 31
2.2 Nguyên nhân và điều kiện về cơ chế, chính sách pháp luật .................... 34
2.3 Những tồn tại trong công tác điều tra, truy tố, xét xử tội phạm về ma tuý
trên địa bàn tỉnh Yên Bái ........................................................................... 39
2.3.1 Những tồn tại trong công tác điều tra tội phạm về ma tuý ............... 39
2.3.2 Những tồn tại trong công tác kiểm sát hoạt động điều tra và thực hiện
quyền công tố của cơ quan Viện kiểm sát ....................................... 43
2.3.3 Những tồn tại trong công tác xét xử tội phạm về ma tuý của cơ quan
Toà án................................................................................................. 44
2.4 Những tồn tại trong hoạt động của cơ quan quản lý khác về phòng, chống
ma tuý ...................................................................................................... 45
2.5 Nguyên nhân và điều kiện về môi trường giáo dục ................................. 47
2.6 Nguyên nhân và điều kiện về tuyên truyền giáo dục ............................... 48
2.7 Những hạn chế trong công tác cai nghiện ma tuý .................................. 49
Chương 3 – Giải pháp nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội
phạm về ma tuý trên địa bàn tỉnh Yên Bái ............................................... 52
3.1 Dự báo tình hình tội phạm về ma tuý trên địa bàn tỉnh Yên Bái trong thời
gian tới ..................................................................................................... 52
3.2 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm về
ma tuý trên địa bàn tỉnh Yên Bái ............................................................. 53
3.2.1 Nhóm giải pháp giảm cung ma tuý .................................................. 55
3.2.1.1 Giải pháp về kinh tế - xã hội ...................................................... 55
3.2.1.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật đấu tranh phòng, chống tội phạm
về ma tuý ................................................................................... 57
3.2.1.3 Giải pháp tăng cường hiệu quả hoạt động của các cơ quan Công
an, Viện kiểm sát, Toà án........................................................... 59
phạm trong nước và nước ngoài.
Trước tình hình đó, việc nghiên cứu đề tài “Đấu tranh phòng, chống tội
phạm về ma tuý trên địa bàn tỉnh Yên Bái” đang là vấn đề cấp thiết phục
vụ cho công tác đấu tranh phòng chống tội phạm về ma tuý trên địa bàn
tỉnh Yên Bái.
2. Tình hình nghiên cứu.
Trong những năm gần đây, việc nghiên cứu về công tác đấu tranh
phòng, chống tội phạm về ma tuý đã được quan tâm và có kết quả đáng kể.
Đã có nhiều công trình nghiên cứu tệ nạn ma tuý dưới những góc độ và phạm
2
vi khác nhau. Các nhà xã hội học, luật học đã có những công trình nghiên cứu
về các đề tài thuộc lĩnh vực đấu tranh phòng, chống tội phạm về ma tuý như:
Tổng luận “Tệ nạn ma tuý ở Việt Nam và giải pháp” của Bộ lao động, thương
binh và xã hội; Tổng luận “Ma tuý và cuộc đấu tranh chống lạm dụng ma tuý”
của Bộ công an; “Hiểm hoạ ma tuý với cuộc chiến mới” của tác giả Nguyễn
Xuân Yêm và Trần Văn Luyện; “Các tội phạm về ma tuý - Đặc điểm hình sự,
dấu vết pháp lý, các biện pháp phát hiện điều tra” của tác giả Nguyễn Phong
Hoà; “Trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về ma tuý” của tác giả Trần
Văn Luyện; “Phòng chống ma tuý trong nhà trường” (năm1997) của tác giả
Vũ Ngọc Bừng; Các Luận văn thạc sĩ luật học “Đấu tranh phòng, chống ma
tuý trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh” của tác giả Trịnh Văn Nam (1997);
“Đấu tranh phòng, chống tội sản xuất, tàng trữ, mua bán, vận chuyển trái phép
các chất ma tuý” của tác giả Phan Đình Khánh (1998); Dưới góc độ tội phạm
học, đáng chú ý là Luận văn thạc sĩ luật học “Đấu tranh phòng, chống tội
phạm về ma tuý ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Tuyết Mai (2002). ở luận
văn này tác giả đã nghiên cứu tình hình tội phạm về ma tuý trong phạm vi
toàn quốc một cách hệ thống và chuyên sâu.
Tuy nhiên, do Yên Bái là một tỉnh miền núi với những đặc điểm riêng
Phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, lô gic, so sánh, xã hội học, phỏng
vấn và khoa học dự báo để thực hiện các nhiệm vụ của luận văn.
5. Mục đích, nhiệm vụ của luận văn.
Mục đích của luận văn tập trung làm sáng tỏ về lý luận và thực tiễn
công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm về ma tuý trên địa bàn tỉnh Yên
Bái. Từ đó đề ra các giải pháp hữu hiệu cho cuộc đấu tranh nhằm hạn chế và
từng bước đẩy lùi tội phạm về ma tuý trên địa bàn tỉnh Yên Bái.
Từ mục đích đặt ra như trên, nhiệm vụ của luận văn :
- Khái quát thực trạng tệ nạn ma tuý và tình hình tội phạm về ma tuý
trên địa bàn tỉnh Yên Bái từ năm 1998 – 2004.
4
- Nghiên cứu hoạt động đấu tranh phòng, chống tội phạm về ma tuý
trên địa bàn tỉnh Yên Bái.
- Phân tích làm rõ nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm về
ma tuý trên địa bàn tỉnh Yên Bái trong thời gian qua.
- Dự báo tình hình tội phạm về ma tuý và đề xuất một số giải pháp nâng
cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm về ma tuý trong thời gian tới.
6. Những kết quả nghiên cứu mới của luận văn.
Luận văn đã xác định được đầy đủ các đặc điểm riêng của tình hình tội
phạm về ma tuý trên địa bàn tỉnh Yên Bái trong thời gian gần đây. Từ đó làm
sáng tỏ nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm về ma tuý và bằng
những giải pháp phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương, tác giả hy
vọng sẽ góp phần nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội
phạm về ma tuý trên địa bàn tỉnh Yên Bái trong thời gian tới.
7. Kết cấu của luận văn.
Luận văn gồm 70 trang, ngoài phần mở đầu và kết luận được chia thành
3 chương:
Chương 1: Tình hình tội phạm về ma tuý trên địa bàn tỉnh Yên Bái.
tuý ngày càng thể hiện tính phức tạp, đa dạng hơn và xu hướng phát triển
mạnh ở các thành phố, thị xã, trung tâm công nghiệp, khu du lịch…
Để nghiên cứu tình hình tội phạm về ma tuý trên địa bàn tỉnh Yên Bái,
chúng tôi bắt đầu nghiên cứu một cách khái quát về tệ nạn ma tuý.
6
Tệ nạn ma tuý, theo Luật phòng chống ma tuý nước Cộng hoà xã hội
chủ nghĩa Việt Nam đã xác định là “tình trạng nghiện ma tuý, tội phạm về ma
tuý và các hành vi trái phép khác về ma tuý’’[14].
Tội phạm về ma tuý là một bộ phận của tệ nạn ma tuý, nó chỉ bao gồm
những hành vi liên quan đến ma tuý có tính chất, mức độ nguy hiểm lớn cho
xã hội và được luật hình sự quy định là tội phạm. Để đấu tranh phòng, chống
các tội phạm về ma tuý có hiệu quả, Bộ luật hình sự của Nhà nước ta qua các
giai đoạn phát triển ngày càng thể hiện tính kiên quyết đối với việc đấu tranh
các tội phạm về ma tuý. Từ chỉ quy định tại 2 điều là điều 96a và điều 203 ở
BLHS năm 1985, nay đã quy định gồm 10 điều thành một chương riêng: các
tội phạm về ma tuý, tại chương XVIII của BLHS năm 1999.
Theo nghĩa hẹp, thì tệ nạn ma tuý được dùng để chỉ tình trạng nghiện
hút, lạm dụng ma tuý.
Cũng theo nghĩa hẹp, có thể khái quát tội phạm về ma túy là các hoạt
động trồng trọt, sản xuất điều chế và lưu thông phân phối ma tuý một cách bất
hợp pháp [12].
Xét đến cùng các hoạt động sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán
trái phép chất ma tuý là để cung cấp cho người sử dụng ma tuý. Nếu không
còn nhu cầu về sử dụng ma tuý thì cũng không có các hoạt động phạm tội về
ma tuý. Ma tuý sẵn có trên thị trường lại kích thích tệ nạn nghiện hút phát
triển. Và vấn đề quan trọng khác là tệ nạn nghiện hút ma tuý là động lực thúc
đẩy sự gia tăng của các tội phạm khác về ma tuý. Mối quan hệ qua lại đó
sơ kiểm soát, trong đó có 2.213 người nghiện ngoài xã hội và 883 người
nghiện trong trại giam, cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh và công trường 06.
Tuy nhiên, số người nghiện ma tuý trên thực tế có thể còn cao hơn. Năm 2004
cơ quan điều tra đã phát hiện 977 người nghi nghiện nhưng chỉ mới kiểm tra,
kết luận được 482 người, trong đó đã phát hiện 177 người nghiện 305 người
không nghiện; Còn lại 495 người chưa kiểm tra kết luận được. Như vậy,
8
chúng ta phải chấp nhận một thực tế những số liệu thống kê của các cơ quan
chức năng chỉ mang tính tương đối, chưa phản ánh chính xác tình hình thực
tế. Sau đây là bảng tổng hợp thống kê số người nghiện ma tuý:
Bảng 1: Thống kê về số người nghiện ma tuý trên địa bàn tỉnh
Yên Bái giai đoạn 1998 – 2004.
Năm
Số người nghiện hút Tỷ lệ so với năm 1998(%)
(1)
(2)
(3)
1998
3.595
100
2004
3.046
85
Nguồn: Phòng tổng hợp Công an tỉnh Yên Bái.
Tệ nạn nghiện hút ma tuý trên địa bàn tỉnh Yên Bái mang sắc thái của
một tỉnh miền núi. Có thể chia làm hai loại như sau:
Số người nghiện hút thuốc phiện mang tính tập quán lâu đời ở vùng
thiểu số chiếm tỷ lệ khá cao. Trong tổng số 3.046 người nghiện ma tuý năm
2004 trên địa bàn tỉnh, trong đó huyện Mù Cang Chải có trên 1000 người
nghiện chiếm 40%; Huyện Trạm Tấu có trên 500 người nghiện chiếm 17%.
Nguồn thuốc phiện do họ lén lút trồng. Hình thức hút chủ yếu bằng tẩu, bàn
đèn. Người cao tuổi chiếm tỷ lệ 70%, hiện nay đang có chiều hướng lan rộng
trong tầng lớp thanh thiếu niên.
Số người nghiện theo dạng tiêm, chích, hít hêrôin tập trung chủ yếu ở
thành phố, thị xã, khu công nghiệp, nơi khai thác khoáng sản…Hình thức sử
9
dụng ma tuý theo dạng tiêm chích chiếm 90%; hít hêrôin, ma tuý tổng hợp
chiếm 10%; Người cao tuổi chiếm tỷ lệ thấp, chủ yếu ở lứa tuổi lao động từ
18 - 45 tuổi. Đây là vấn đề đáng lo ngại, khi nhóm nghiện hút chủ yếu là
thanh niên, nguồn lao động chủ yếu của đất nước hiện tại và tương lai, tác hại
về kinh tế xã hội là vô cùng to lớn, tốc độ lan truyền rất nhanh chóng, hậu quả
không chỉ là trước mắt mà cả lâu dài.
1.2 Tình hình tội phạm về ma tuý trên địa bàn Tỉnh Yên Bái.
Tình hình tội phạm về ma tuý là một hiện trạng xã hội đặc biệt, mang
Bảng 2: Thống kê về số vụ, đối tượng bị bắt giữ và bị khởi tố trên địa
bàn tỉnh Yên Bái giai đoạn 1998 – 2004.
(1)
1998
Bắt giữ
Vụ
Đối
tượng
(2)
(3)
202
333
Khởi tố
Vụ
Đối
tượng
(4)
(5)
109
160
(2/4)
53,96
(3/5)
48,0
162
245
125
160
77,1
65,3
2002
162
233
127
165
78,4
70,8
2003
186
963
1.283
76,86
67,14
Năm
Tỷ lệ %
Vụ
Đối tượng
Nguồn: Phòng tổng hợp Công an tỉnh Yên Bái.
Số liệu hàng năm từ 1998 – 2004 cho thấy số vụ, đối tượng bị bắt giữ
về các tội phạm ma tuý tăng đáng kể. Năm 1998 Cơ quan điều tra đã phát hiện,
bắt giữ 202 vụ, 333 đối tượng. Năm 1999 số lượng phát hiện, bắt giữ tăng so
với năm 1998 là 104,95% về số vụ, tăng 103,3% về số đối tượng. Năm 2000
phát hiện, bắt giữ có giảm 45,75% so với năm 1999 về số vụ (115/212), giảm
54,65% về số đối tượng (156/344). Đến năm 2003, năm 2004 số phát hiện bắt
giữ tăng mạnh. Đặc biệt là năm 2004 số vụ bắt giữ cao nhất trong 7 năm qua,
11
tăng so với năm 2003 là 115% về số vụ (214/186), tăng 115% về số đối tượng
(322/278).
Nhìn vào số liệu thống kê về số vụ, đối tượng bị bắt giữ và Cơ quan điều tra
đã ra quyết định khởi tố trong giai đoạn 1998 – 2004, chúng ta thấy một thực tế
là tỷ lệ số vụ, đối tượng Cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố còn thấp, nhất là
2004 được thể hiện qua bảng thống kê dưới đây:
Bảng 3: Thống kê về số vụ tội phạm về ma tuý được thụ lý và xét xử
trên địa bàn tỉnh Yên Bái giai đoạn 1998 – 2004.
Tổng số vụ tội phạm về ma tuý
Năm
Thụ lý
Đã xét xử
Tỷ lệ %
Vụ
Bị cáo
Vụ
Bị cáo
Vụ
Bị cáo
(1)
(2)
(3)
235
94,15
92,52
2000
108
178
103
165
95,37
92,7
2001
118
149
116
146
92,11
2004
148
170
134
159
90,54
93,53
Tổng
984
1.350
912
1.251
92,68
92,67
2004
13
Từ những phân tích trên có thể rút ra một số nhận xét về tệ nạn ma tuý
(theo nghĩa hẹp) và tình hình tội phạm về ma tuý trên địa bàn tỉnh Yên Bái
thời gian qua như sau :
Thứ nhất, tệ nạn ma tuý và tội phạm về ma tuý có mối quan hệ mật
thiết với nhau. Mối quan hệ qua lại đó mang yếu tố cầu – cung và các hoạt
động phục vụ cho quy luật cung cầu đó. Tuy nhiên, quan niệm trên (cung –
cầu) chỉ có ý nghĩa tương đối, vì trong số tội phạm về ma tuý có tội sử dụng trái
phép chất ma tuý (Đ.199 BLHS 1999). Thực trạng tệ nạn ma tuý phản ánh căn
bản “cầu” ma tuý, còn thực trạng tội phạm về ma tuý phản ánh căn bản “cung”
ma tuý. Đã có thời kỳ chúng ta quan niệm người nghiện ma tuý chỉ là nạn nhân,
là người mắc bệnh xã hội cần được chạy chữa, cưu mang, quan tâm. Nếu họ có
vi phạm thì chỉ bị xử lý bằng biện pháp hành chính là chủ yếu. Quan niệm đó
mang tính nhân đạo sâu sắc và đến nay vẫn đúng, nhưng chưa đủ khi vấn đề ma
tuý được nhìn nhận dưới góc độ chính trị, kinh tế, pháp luật thì thấy rằng giữa
tội phạm ma tuý và người nghiện ma tuý là quan hệ cung – cầu, có người mua
sẽ có kẻ bán, thị trường sẽ điều tiết giá cả…Giữa bọn tội phạm ma tuý và các
đối tượng nghiện ma tuý là một chu trình khép kín, do đó các tội phạm về ma
tuý có tăng hay giảm cũng chính là ta có kiểm soát và giải quyết được tình
trạng nghiện ma tuý hay không?
Để đáp ứng kịp thời yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm về ma
tuý BLHS Việt Nam năm 1999 đã quy định người sử dụng trái phép chất ma
tuý mặc dù đã được giáo dục nhiều lần, được cai nghiện, đã bị xử phạt hành
chính nhưng vẫn tái nghiện thì bị xử lý về hình sự.
Thứ hai, tình trạng nghiện ma tuý, lạm dụng ma tuý trên địa bàn tỉnh
Yên Bái đến cuối năm 2004 đã giảm 15% so với năm 1998. Nhưng số vụ, đối
tượng tội phạm về ma tuý bị phát hiện bắt giữ lại có chiều hướng gia tăng, đặc
các tội phạm hình sự bị đưa ra xét xử trên địa bàn tỉnh Yên Bái cao gấp 3 lần so
với toàn quốc. Trên địa bàn tỉnh Yên Bái năm 1998 các tội phạm về ma tuý bị
đưa ra xét xử là 154 vụ chiếm 40,53%, các năm tiếp theo có xu hướng giảm
15
dần, đến năm 2004 lại tăng lên đáng kể chiếm 45,73% số vụ tội phạm hình sự
các loại đã xét xử.
Bảng 4: So sánh tổng số vụ tội phạm về ma tuý đã xét xử với tổng số
các vụ tội phạm hình sự các loại đã xét xử trên địa bàn tỉnh Yên Bái
giai đoạn 1998 – 2004.
Số vụ tội phạm
Số vụ tội phạm hình sự
về ma tuý
các loại đã xét xử
1998
154
380
40,35
1999
161
128
354
36,16
2004
134
293
45,73
Tổng
912
2.386
38,22
Năm
Tỷ lệ%
Nguồn : Phòng tổng hợp Toà án nhân dân tỉnh Yên Bái.
Cơ cấu của tình hình tội phạm về ma tuý còn được thể hiện qua tỷ trọng
từng loại tội phạm về ma tuý trong tổng số tội phạm về ma tuý đã xét xử. Trong
số vụ
tàng trữ, vận
Tội tổ chức sử
Tội sử dụng
tội
chuyển, chiếm
dụng trái phép
trái phép chất
phạm
đoạt trái phép
chất ma tuý
ma tuý
về ma
chất ma tuý.
tuý
9,74%
1999
161
116
72,05%
38
23,65%
4
2,48%
2000
103
86
83,5%
16
15,53%
96,09%
3
2004
134
110
82,09%
Tổng
912
718
78,73%
3
1,86%
1
0,97%
2
0,77%
Nguồn: Phòng tổng hợp Toà án nhân dân tỉnh Yên Bái.
Con số thống kê của Toà án nhân dân tỉnh Yên Bái cho thấy trong thời
gian 1998 – 2004, chỉ có 7 bị cáo bị xét xử về tội trồng cây thuốc phiện chiếm
một tỷ lệ trung bình rất nhỏ là 0,77%. Trên thực tế, Đảng và Nhà nước ta có cân
nhắc nhiều đến tập quán trồng và sử dụng thuốc phiện của đồng bào dân tộc,
việc xử lý hình sự đối với các hành vi này chỉ đặt ra trong những trường hợp
17
nhất định. Trong 7 năm, cơ quan điều tra lập hồ sơ xử lý hơn 300 đối tượng vi
phạm tái trồng cây thuốc phiện, nhưng chỉ khởi tố 15 vụ, 17 đối tượng còn lại
xử lý hành chính và kiểm điểm trước dân 283 đối tượng. Như vậy, chính sách
phòng, chống tội phạm về ma tuý do người dân tộc ít người của ta chủ yếu
theo hướng giáo dục, vận động họ không trồng và sử dụng thuốc phiện hoặc
các chất ma tuý khác.
Tính chất nghiêm trọng của tình hình tội phạm nói chung, tính chất
nguy hiểm của tội phạm về ma tuý nói riêng cũng được thể hiện thông qua mức
hình phạt đã tuyên với người phạm tội này.
Bảng 6 : Thống kê về tình hình xử lý các bị cáo phạm tội về ma tuý
trên địa bàn tỉnh Yên Bái giai đoạn 1998 – 2004.
Số bị cáo đã xét xử theo quyết định của Toà án
Năm
Tổng
số vụ
Miễn
Tù
chung
thân
Tử
hình
Các
hình
phạt
khác
1998
227
14
147
21
44
1999
235
11
98
25
15
2002
144
1
9
97
28
9
2003
175
2
2
111
0
0,24
4,4
0,16
0,16
0
Tổng 1251
%
63,55 16,39 15,11
1
Nguồn: phòng tổng hợp Toà án nhân dân tỉnh Yên Bái.
18
Trong 7 năm, từ năm 1998 – 2004 đã có 2 bị cáo phạm tội về ma tuý
phải nhận mức án tử hình (chiếm 0,16%), 2 bị cáo bị phạt tù chung thân (chiếm
0,16%). Có 189 bị cáo trên tổng số 1.251 bị cáo bị đưa ra xét xử phải nhận mức
án tù có thời hạn trên 10 năm đến 20 năm. Các hình phạt trên 7 năm đến 10
năm có 205 bị cáo (chiếm 16,39%). Số bị cáo phải nhận mức án từ 7 năm trở
xuống chiếm tỷ lệ cao gồm 795 bị cáo (chiếm 63,55%).
Các hình phạt từ 7 năm tù trở xuống đa phần được tuyên cho người
rừng núi, tập quán nhân dân thường qua lại thăm thân ở các xã giáp ranh biên
giới để vận chuyển ma tuý từ Lào qua Sơn La, Lai Châu vào Yên Bái, chủ yếu
là thuốc phiện và hêrôin. Điển hình là vụ Nguyễn Văn Hải ở thị xã Nghĩa Lộ bị
bắt ngày 15 tháng 04 năm 1998 do vận chuyển 7,2 kg thuốc phiện…
Đối tượng buôn bán, vận chuyển, tàng trữ trái phép các chất ma tuý
hoạt động rất tinh vi xảo quyệt với nhiều thủ đoạn để che giấu tội phạm từ khi
thu gom, cất giấu, vận chuyển, giao nhận.
Đối tượng buôn bán thường xuất hiện ở vùng trồng thuốc phiện để thu
gom thuốc phiện. Số này thường đưa tiền, hàng hoá hợp thị hiếu lên các vùng
trồng thuốc phiện đặt cọc từ khi thuốc phiện mới ra hoa rồi tuyển lựa đối tượng
gom hàng là người dân tộc ở địa phương. Vận chuyển là khâu quan trọng nhất
đồng thời là khâu dễ sơ hở nhất, có đến 80% các vụ đã phát hiện trên địa bàn
tỉnh Yên Bái thông qua khâu vận chuyển. Vì vậy, chúng sử dụng nhiều thủ
đoạn để che dấu khi vận chuyển như cho lẫn vào hàng hoá khác để tránh phát
hiện trong kiểm tra công khai, giấu trong các hốc xe ô tô, đóng gói vào các bao
ni lông, đựng trong can nhựa, giấu vào trong khúc gỗ, sử dụng va li hai đáy,
quấn quanh người, có nhiều trường hợp chúng cho hêrôin vào bao cao su rồi
nuốt vào bụng hoặc giấu trong hậu môn, bộ phận sinh dục…Khi vận chuyển
trên các phương tiện giao thông công cộng chúng thường ngồi ở một chỗ, hàng
để một chỗ đề phòng khi bị kiểm tra, phát hiện thì “bỏ của chạy lấy người” và
hàng đó là hàng vô chủ…Khi vận chuyển chúng thường đi hai người để hỗ trợ
20
nhau khi cần thiết hoặc móc ngoặc với lái xe khi đến gần trạm kiểm soát thì
xuống, qua trạm kiểm soát an toàn lại tiếp tục lên xe đi.
Về thủ đoạn giao nhận, khi bán hàng chúng thường gặp nhau trước để
bàn bạc, xem mẫu, định giờ và thống nhất kế hoạch giao nhận. Sau đó mới cử
tay chân hoặc thuê người đem đến địa điểm đã hẹn. Chúng thường sử dụng
người già, người tàn tật, phụ nữ có thai, nuôi con nhỏ, người dân tộc thiểu số
pháp luật và các lực lượng phòng chống các tội phạm này. Điều này đã phản
ánh tính chất ngày càng nghiêm trọng của tình hình tội phạm về ma tuý trên địa
bàn tỉnh Yên Bái và cũng nói lên sự khó khăn, gian khổ trong cuộc đấu tranh
chống tội phạm về ma tuý.
1.2.3 Nhân thân của những người phạm tội về ma tuý trên địa bàn tỉnh
Yên Bái.
Tính chất nguy hiểm của tội phạm về ma tuý cũng được thể hiện ở các
đặc điểm nhân thân người phạm tội. Nghiên cứu các đặc điểm này cũng góp
phần tạo cơ sở cho việc lý giải các nguyên nhân, điều kiện của tình hình tội
phạm để từ đó đề ra các biện pháp đấu tranh phòng, chống loại tội phạm này.
Chúng ta theo dõi số liệu thống kê ở bảng dưới đây:
Bảng 7: Thống kê về đặc điểm nhân thân các bị cáo phạm tội về
ma tuý đã xét xử trên địa bàn tỉnh Yên Bái giai đoạn 1998 – 2004.
Đặc điểm nhân thân bị cáo đã xét xử
Tổng
số bị
Năm
cáo
đã xét
xử
Dân
tộc ít
người
Từ 18 Từ 30
Công
tuổi
tuổi
84
80
63
93
80
58
tuổi
trở
lên
1998
227
64
44
25
73
46
21
65
51
30
2
4