BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
BÙI NGUYỄN PHƢƠNG LÊ
THẨM QUYỀN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
KINH DOANH CỦA TÒA ÁN THEO BỘ LUẬT
TỐ TỤNG DÂN SỰ - NHỮNG ĐIỂM MỚI VÀ CÁC
VẤN ĐỀ ĐẶT RA CHO THỰC TIỄN THI HÀNH
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số:
60 38 50
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. PHAN CHÍ HIẾU
Hà Nội - 2005
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với Tiến sĩ Phan Chí Hiếu,
các Thầy, Cô giáo, gia đình và các đồng nghiệp đã tận tình giúp đỡ tôi
hoàn thành bản luận văn này.
Tác giả
TAND
Tòa án nhân dân
TANDTC
Tòa án nhân dân tối cao
TS.
Tiến sỹ
TTGQCVAKT
Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ................................................................................................ 1
CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THẨM QUYỀN GIẢI
QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH CỦA TÒA ÁN................................ 5
1.1. Khái quát về tranh chấp kinh doanh và thẩm quyền giải quyết tranh
chấp kinh doanh của Tòa án ........................................................................... 5
1.1.1. Khái niệm và các đặc trƣng pháp lý của tranh chấp kinh doanh ...... 5
1.1.2. Thẩm quyền giải quyết các tranh chấp kinh doanh của Tòa án ...... 12
1.2. Cơ sở phân định thẩm quyền giải quyết các tranh chấp kinh doanh
của Tòa án ..................................................................................................... 15
1.2.1. Căn cứ vào đƣờng lối, chính sách của Đảng, Nhà nƣớc về hoạt
động tƣ pháp .............................................................................................. 15
CHƢƠNG 3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM THI HÀNH HIỆU QUẢ
CÁC QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VỀ THẨM
QUYỀN GIẢI QUYẾT CÁC TRANH CHẤP KINH DOANH CỦA
TÒA ÁN ........................................................................................................... 58
3.1. Hoàn thiện cơ sở pháp lý cho việc thi hành các quy định của
BLTTDS về thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh doanh của Tòa án ...... 58
3.2. Các điều kiện bảo đảm về tổ chức và con ngƣời ................................... 71
3.2.1. Các điều kiện bảo đảm về tổ chức .................................................. 71
3.2.2. Các điều kiện bảo đảm về con ngƣời .............................................. 75
KẾT LUẬN ...................................................................................................... 80
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................... 81
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Nền kinh tế thị trƣờng của nƣớc ta với các mặt tích cực của nó đã thúc
đẩy mạnh mẽ sự phát triển nền sản xuất hàng hoá và theo đó là sự gia tăng
đáng kể số lƣợng các tranh chấp trong hoạt động kinh doanh. Các tranh chấp
phát sinh đòi hỏi phải đƣợc giải quyết một cách thoả đáng bằng một cơ chế
nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tranh chấp và trật tự công
cộng.
Trong bối cảnh Việt Nam hiện nay, khi các thiết chế công quyền vẫn
đƣợc ngƣời dân coi trọng và tin tƣởng áp dụng để giải quyết các tranh chấp
trong xã hội thì hình thức giải quyết các tranh chấp kinh doanh bằng Tòa án
vẫn tiếp tục khẳng định đƣợc vị trí quan trọng của mình trong hệ thống các
phƣơng thức giải quyết tranh chấp trong kinh doanh. Tuy nhiên, chất lƣợng
hoạt động giải quyết các vụ án kinh tế của Tòa án còn yếu; các bản án, quyết
định của Tòa án còn bị cải sửa, bị huỷ nhiều. Thực tế này xuất phát từ nhiều
chí Nghiên cứu lập pháp, số 4/2004... Nhƣng việc nghiên cứu một cách
chuyên biệt về thẩm quyền giải quyết các tranh chấp kinh doanh của Tòa án,
tiếp cận từ các quy định mới của BLTTDS để đề xuất các kiến nghị nhằm
thực thi hiệu quả các quy định mới đó thì đây là công trình nghiên cứu đầu
tiên ở cấp độ luận văn thạc sỹ luật học.
3. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đề tài tập trung nghiên cứu các quy định của BLTTDS về thẩm quyền
giải quyết các tranh chấp kinh doanh trong quan hệ so sánh với các quy định
của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế (TTGQCVAKT) để làm nổi
bật các điểm mới, tiến bộ trong các quy định của BLTTDS. Đề tài không
nghiên cứu về thẩm quyền giải quyết các yêu cầu về kinh doanh, thƣơng mại
3
của Tòa án, ví dụ, các yêu cầu liên quan đến các biện pháp hỗ trợ tƣ pháp đối
với hoạt động của trọng tài.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để thực hiện các nhiệm vụ đề tài đặt ra, luận văn đã sử dụng phối hợp
nhiều phƣơng pháp nghiên cứu khoa học chuyên ngành nhƣ phƣơng pháp lịch
sử, phân tích, so sánh, chứng minh, tổng hợp và phƣơng pháp xã hội học nhƣ
lấy số liệu, sử dụng các kết quả thống kê, phƣơng pháp khảo sát, thăm dò lấy
ý kiến trong phạm vi những ngƣời làm công tác thực tiễn... cũng đƣợc sử
dụng trong quá trình nghiên cứu luận văn.
5. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài đặt ra mục đích nghiên cứu làm rõ các quy định mới của BLTTDS
về thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh doanh của Tòa án; đánh giá tác
động của các quy định mới đó đối với hoạt động giải quyết tranh chấp kinh
doanh của Tòa án; dự báo các khó khăn vƣớng mắc sẽ gặp phải khi thi hành các
quy định này từ đó đề xuất các giải pháp nhằm thực hiện có hiệu quả BLTTDS.
kinh doanh của Tòa án
- Chƣơng 2: Những điểm mới của BLTTDS về thẩm quyền giải quyết
các tranh chấp kinh doanh và một số vấn đề đặt ra trong thực tiễn thi hành
- Chƣơng 3: Một số kiến nghị nhằm thi hành hiệu quả các quy định của
BLTTDS về thẩm quyền giải quyết các tranh chấp kinh doanh của Tòa án.
5
CHƢƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THẨM QUYỀN GIẢI QUYẾT
TRANH CHẤP KINH DOANH CỦA TÒA ÁN
1.1. Khái quát về tranh chấp kinh doanh và thẩm quyền giải quyết
tranh chấp kinh doanh của Tòa án
1.1.1. Khái niệm và các đặc trưng pháp lý của tranh chấp kinh doanh
1.1.1.1. Khái niệm tranh chấp kinh doanh
Chuyển sang nền kinh tế thị trƣờng, quan hệ kinh tế trở nên sống động,
đa dạng và phức tạp. Mục đích đạt đƣợc lợi nhuận tối đa trở thành động lực
trực tiếp của các bên tham gia quan hệ kinh tế. Trong điều kiện nhƣ vậy, tranh
chấp kinh doanh không những khó tránh khỏi, mà còn là một vấn đề lớn đòi
hỏi phải có sự quan tâm giải quyết một cách thoả đáng. Đó vừa là một yêu
cầu nghiêm ngặt của nguyên tắc pháp chế, vừa là một đòi hỏi bức xúc của
thực tiễn kinh doanh trong nền kinh tế thị trƣờng.
Hiện nay, trong khoa học pháp lý ở Việt Nam, khái niệm tranh chấp
kinh doanh chƣa đƣợc các nhà luật học quan tâm một cách thoả đáng. Do vậy,
trong các văn bản pháp luật, trong các tài liệu khoa học pháp lý, cũng nhƣ
trong thực tiễn, chúng ta thƣờng gặp nhiều tên gọi khác nhau để chỉ các tranh
chấp loại này nhƣ tranh chấp kinh tế, tranh chấp kinh doanh, tranh chấp
thƣơng mại, tranh chấp về kinh doanh, thƣơng mại...
Về thuật ngữ “tranh chấp kinh doanh” hay “tranh chấp kinh tế”, đa số
Bên cạnh đó, cũng có nhà luật học đồng nhất trong cách sử dụng thuật
ngữ “tranh chấp kinh tế” và “tranh chấp kinh doanh”. Cuốn “Tìm hiểu luật kinh
tế” sử dụng hai thuật ngữ này hầu nhƣ không có sự phân biệt [24, tr.187-194].
Về thuật ngữ “tranh chấp kinh tế”, “tranh chấp kinh doanh” và “tranh
chấp hợp đồng kinh tế (HĐKT)”, xuất phát từ điều kiện kinh tế - xã hội nhất
định, đã có các quan điểm nhấn mạnh mối liên quan mật thiết của các thuật
ngữ này. PGS.TS. Trần Đình Hảo trong chuyên đề “Hoà giải, thƣơng lƣợng
trong việc giải quyết tranh chấp HĐKT” đã viết: “Tranh chấp trong kinh
7
doanh khá đa dạng nhƣng loại tranh chấp chủ yếu vẫn thƣờng là các tranh
chấp về hợp đồng” [32, tr.99].
Ngoài ra, khi có sự ra đời của Luật thƣơng mại, bên cạnh các thuật ngữ
“tranh chấp kinh doanh”, “tranh chấp kinh tế” còn xuất hiện thêm thuật ngữ
“tranh chấp thƣơng mại”. Theo Điều 238 Luật Thƣơng mại thì “tranh chấp
thƣơng mại là tranh chấp phát sinh do việc không thực hiện hoặc thực hiện
không đúng hợp đồng trong hoạt động thƣơng mại” [13], tức là sự thoả thuận
giữa thƣơng nhân với thƣơng nhân, thƣơng nhân với các bên có liên quan
nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ giữa các bên trong
hoạt động mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ thƣơng mại và xúc tiến
thƣơng mại. Chính vì vậy mà có quan điểm đã cho rằng “tranh chấp thƣơng
mại” là một dạng của “tranh chấp kinh doanh” bởi chúng đều phát sinh từ
hoạt động kinh doanh và có quan hệ mật thiết với hoạt động này.
Nhƣ vậy, tùy theo thói quen sử dụng thuật ngữ hoặc tùy thuộc vào mục
đích nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu mà các nhà luật học sử dụng thuật ngữ
“tranh chấp kinh tế”, “tranh chấp kinh doanh”, “tranh chấp thƣơng mại”, hay
“tranh chấp HĐKT”. Trong phạm vi đề tài đã đƣợc xác định, chúng tôi thống
nhất sử dụng thuật ngữ “tranh chấp kinh doanh” vì hai lý do sau:
chấp nào đƣợc coi là tranh chấp kinh doanh và thuộc thẩm quyền giải quyết
của Tòa án.
Điều 12 Pháp lệnh TTGQCVAKT sử dụng thuật ngữ “tranh chấp kinh
tế” và liệt kê ra các tranh chấp kinh tế thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa
án nhƣ sau:
1. Tranh chấp về HĐKT giữa pháp nhân với pháp nhân, giữa pháp nhân
với cá nhân có đăng ký kinh doanh;
2. Các tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty, giữa các
thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động,
giải thể công ty;
9
3. Các tranh chấp liên quan đến việc mua bán cổ phiếu, trái phiếu;
4. Các tranh chấp kinh tế khác theo quy định của pháp luật [21].
Pháp lệnh trọng tài thƣơng mại sử dụng thuật ngữ “tranh chấp phát sinh
trong hoạt động thƣơng mại” [20]. Luật Thƣơng mại 1997 cũng sử dụng thuật
ngữ này (Điều 238) [13].
Điều 29 BLTTDS sử dụng thuật ngữ “tranh chấp về kinh doanh, thƣơng
mại” và cũng tiếp tục liệt kê các tranh chấp về kinh doanh, thƣơng mại thuộc
thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhƣng với nhiều loại tranh chấp hơn [1].
Nghiên cứu pháp luật và tập quán thƣơng mại của các quốc gia trên thế
giới, chúng tôi thấy rằng có sự khác nhau rất lớn giữa các quốc gia khi tiếp
cận khái niệm tranh chấp kinh doanh. Không phải quốc gia nào cũng có sự
phân biệt giữa tranh chấp kinh doanh với tranh chấp dân sự.
Các nƣớc theo hệ thống pháp luật Anh - Mỹ không phân biệt lĩnh vực
kinh doanh (với mục đích tìm kiếm lợi nhuận) và lĩnh vực dân sự (mục đích
tiêu dùng), mọi tranh chấp phát sinh từ hoạt động kinh doanh hay hoạt động
kinh doanh) là sự bất đồng chính kiến về một sự kiện pháp lý, là sự mâu thuẫn
hay xung đột về lợi ích, về quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể tham gia vào
các quan hệ kinh tế ở các cấp độ khác nhau” [39, tr.33].
NCS. Đào Văn Hội đƣa ra khái niệm: “Tranh chấp kinh tế là những
mâu thuẫn hay bất đồng liên quan đến quyền và lợi ích kinh tế của các tổ
chức, cá nhân khi tham gia các quan hệ kinh tế” [7, tr.23].
PGS.TS. Trần Đình Hảo đƣa ra khái niệm về tranh chấp kinh doanh
nhƣ sau: “Tranh chấp trong kinh doanh đƣợc hiểu là sự bất đồng về một hiện
tƣợng pháp lý (quyền và nghĩa vụ) phát sinh trong đời sống kinh tế giữa các
chủ thể tham gia kinh doanh và thông thƣờng gắn liền với các yếu tố, lợi ích
về mặt tài sản. Tranh chấp trong kinh doanh biểu hiện mâu thuẫn, xung đột
quyền lợi giữa các chủ thể” [33, tr.98].
11
Theo chúng tôi, tranh chấp kinh doanh được hiểu là những mâu thuẫn,
bất đồng ý kiến giữa các chủ thể kinh doanh với nhau hoặc với các bên có
liên quan khi họ tham gia quan hệ kinh doanh, phát sinh do một bên không
thực hiện hoặc thực hiện không đúng các nghĩa vụ pháp lý của mình.
1.1.1.2. Đặc trưng pháp lý của tranh chấp kinh doanh
Từ khái niệm tranh chấp kinh doanh nêu trên, chúng ta thấy tranh chấp
kinh doanh có những đặc trƣng cơ bản sau:
Thứ nhất, các bên trong tranh chấp kinh doanh thƣờng là các chủ thể
kinh doanh có vị trí ngang bằng, tham gia quan hệ trên cơ sở tự nguyện.
Thông thƣờng, các bên trong tranh chấp kinh doanh là các tổ chức, cá nhân
đƣợc Nhà nƣớc thừa nhận quyền kinh doanh. Bằng việc cấp giấy chứng nhận
đăng ký kinh doanh, Nhà nƣớc công nhận các tổ chức, cá nhân này đã hội đủ
các điều kiện kinh tế và pháp lý để tiến hành một loại hoạt động khá phức tạp
trong xã hội là hoạt động kinh doanh thu lợi nhuận. Khác với chủ thể trong
là tiền đề của một quan hệ kinh doanh khác. Do đó, các tranh chấp kinh doanh
nếu không đƣợc giải quyết triệt để, kịp thời dễ gây ra hậu quả có tính chất dây
chuyền, có thể làm đình đốn các hoạt động kinh doanh khác và tác động xấu
tới lợi ích của nhiều đối tƣợng.
Đặc thù này của tranh chấp kinh doanh dẫn đến đòi hỏi tất yếu là phải
giải quyết tranh chấp kinh doanh một cách triệt để, chính xác và hiệu quả để các
bên liên quan có thể nhanh chóng khắc phục hậu quả phát sinh từ tranh chấp.
1.1.2. Thẩm quyền giải quyết các tranh chấp kinh doanh của Tòa án
Thẩm quyền của Tòa án là chế định quan trọng trong pháp luật tố tụng
nói chung và tố tụng dân sự nói riêng. Thẩm quyền của Tòa án là một khái
niệm bao hàm nhiều mặt, nhiều khía cạnh, mang tính lịch sử cụ thể, quy định
quyền xét xử, phạm vi xem xét và ra quyết định của Tòa án. Nội dung của nó
do các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội và các điều kiện khác quyết định.
Việc xác định thẩm quyền của Tòa án trong giải quyết các tranh chấp kinh
13
doanh sẽ giúp cho các Tòa án chủ động trong xét xử, tránh đƣợc các hiện
tƣợng đùn đẩy việc cho nhau. Mặt khác, nó đảm bảo cho xét xử đƣợc chính
xác, khách quan, bảo đảm quyền tự do dân chủ của công dân, quyền và lợi ích
hợp pháp của những ngƣời tham gia tố tụng.
Việc nghiên cứu và đƣa ra một khái niệm khoa học, đúng đắn về thẩm
quyền giải quyết tranh chấp kinh doanh của Tòa án có ý nghĩa quan trọng
trong việc xác định quyền hạn cụ thể của Tòa án khi thụ lý, xét xử các tranh
chấp kinh doanh của các chủ thể kinh doanh.
Khi nói đến thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh doanh tức là nói đến
một loại quyền hạn cụ thể của Tòa án. Vì vậy, thẩm quyền giải quyết tranh
chấp kinh doanh vừa có những đặc điểm chung về thẩm quyền của Tòa án,
vừa có những nét đặc thù riêng. Trong một số sách, báo, tài liệu, các công
động của Tòa án và quyền năng pháp lý của Tòa án có mối liên quan chặt chẽ
với nhau tạo thành thẩm quyền của Tòa án. Thẩm quyền của Tòa án bao gồm:
thẩm quyền xét xử, phạm vi - giới hạn xét xử và quyền hạn quyết định của
Tòa án [23, tr.8].
Từ điển giải thích thuật ngữ luật học định nghĩa: “Thẩm quyền kinh tế
là tổng thể các quyền và nghĩa vụ về kinh tế của các chủ thể đƣợc pháp luật
xác nhận, tạo cơ sở pháp lý để các chủ thể thực hiện các hành vi nhằm tạo cho
mình những quyền và nghĩa vụ cụ thể” [35, tr.103].
Trong pháp luật của nhiều quốc gia trên thế giới cũng đã đề cập đến
khái niệm thẩm quyền của Tòa án. Tuy cách hiểu có khác nhau nhƣng điểm
chung về thẩm quyền của Tòa án đều đƣợc thừa nhận là quyền xét xử và quyền
quyết định của Tòa án. Ở Pháp, thẩm quyền đƣợc hiểu là quyền của một cơ
quan nhà nƣớc, một quan chức nhà nƣớc hay tƣ pháp đƣợc làm những việc và
có quyền quyết định những vấn đề trong phạm vi đƣợc pháp luật cho phép.
Theo Lemeunier, tác giả cuốn từ điển pháp luật thì thẩm quyền của Tòa
án đƣợc hiểu là “khả năng của một Tòa án xem xét một vụ việc trong
phạm vi pháp luật cho phép”.
15
Theo TS. Wolf Ruecliger Schenke, Giáo sƣ Trƣờng Đại học Tổng hợp
Mannheim - Cộng hoà Liên bang Đức sau khi nghiên cứu thẩm quyền
của Tòa án đã đặt ra vấn đề là: “Đối với thẩm quyền của Tòa án thì cần
phân biệt sự khác nhau giữa thẩm quyền vụ việc, địa điểm và thẩm quyền
phẩm cấp” [9, tr.13].
Đặt khái niệm thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh doanh trong mối
liên hệ với các khái niệm gốc đƣợc nêu ra ở trên, cũng nhƣ trong mối liên hệ
với cơ cấu tổ chức và nhiệm vụ của Tòa án đƣợc nêu trong Luật tổ chức Tòa
nguyện vọng của toàn thể nhân dân. Trên thực tế, pháp luật luôn thể chế hóa
đƣờng lối, chính sách của Đảng thành những quy định chung, thống nhất
trong toàn xã hội.
Trong lĩnh vực pháp luật giải quyết tranh chấp kinh doanh, các đƣờng
lối, chính sách thể hiện trong các Nghị quyết của Đảng luôn là những căn cứ
để các nhà làm luật xây dựng các văn bản pháp luật tƣơng ứng. Năm 1972,
Hội nghị lần thứ 20 Ban chấp hành Trung ƣơng Đảng quyết nghị: “Xoá bỏ lối
quản lý hành chính cung cấp, thực hiện quản lý kinh doanh theo phƣơng thức
XHCN, khắc phục cách quản lý thủ công, phân tán theo lối sản xuất nhỏ, xây
dựng cách tổ chức của nền công nghiệp lớn”. Và tiếp đó, cuối năm 1973,
Nghị quyết 22 của Ban chấp hành Trung ƣơng Đảng đề ra nhiệm vụ “phải
tăng cƣờng pháp chế XHCN”. Thực hiện các Nghị quyết đó của Ban chấp
hành Trung ƣơng Đảng, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 54-CP ngày
10/3/1975 về chế độ HĐKT. Và ngày 14/4/1975, Chính phủ ban hành Nghị
định số 75/CP về điều lệ tổ chức và hoạt động của Trọng tài kinh tế. Theo
Nghị định này, Trọng tài kinh tế đƣợc thành lập nhƣ một cơ quan nhà nƣớc có
chức năng quản lý công tác HĐKT với nội dung: giữ vững tính kỷ luật nhà
nƣớc về HĐKT, giải quyết các tranh chấp HĐKT và xử lý các vi phạm HĐKT.
Năm 1986, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đã đề ra đƣờng lối đổi
mới với quyết tâm: Triệt để xoá bỏ cơ chế kế hoạch hoá tập trung, bao cấp,
chuyển sang nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trƣờng có
sự quản lý của Nhà nƣớc theo định hƣớng xã hội chủ nghĩa. Với đƣờng lối đó,
17
Đảng ta đã đặt ra nhiệm vụ phải hoàn thiện bộ máy bảo vệ pháp luật bằng
công cuộc cải cách tƣ pháp, nhằm xây dựng một bộ máy gọn nhẹ, hoạt động
có hiệu quả với sự phân định rõ ràng về quyền hạn, nhiệm vụ cho từng mắt
xích, từng tổ chức, từng cơ quan. Trƣớc yêu cầu đó, ngày 28/12/1993, Quốc
hƣớng chiến lƣợc nêu trên là kết quả của hoạt động nghiên cứu lý luận, tổng
kết thực tiễn của Đảng ta. Việc tuân theo đƣờng lối, chính sách của Đảng là
một trong những yêu cầu cơ bản không thể thiếu khi xây dựng, sửa đổi các
quy định về thẩm quyền của Tòa án các cấp.
1.2.2. Căn cứ vào cơ cấu tổ chức của hệ thống Tòa án và các nguyên
tắc hiến định trong hoạt động của Tòa án
Khác với hệ thống Tòa án của nhiều nƣớc trên thế giới, Tòa án Việt
Nam có những đặc thù về mặt tổ chức, những đặc thù này tác động không nhỏ
đến việc phân định thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh doanh của Tòa án.
Cụ thể nhƣ sau:
Thứ nhất, hệ thống Tòa án của Việt Nam đƣợc tổ chức theo địa giới
hành chính. Theo cách tổ chức này thì tỉnh nào, huyện nào cũng có TAND.
Hiện nay, Việt Nam có 64 tỉnh và 673 huyện, tƣơng ứng với nó, chúng ta có
64 TAND cấp tỉnh và 673 TAND cấp huyện. Cách tổ chức nhƣ vậy dẫn đến
nhu cầu phải phân định thẩm quyền theo lãnh thổ, hoặc theo sự lựa chọn của
nguyên đơn, nghĩa là, phải xác định TAND của địa phƣơng nào sẽ có thẩm
quyền giải quyết tranh chấp.
Thứ hai, hệ thống TAND đƣợc tổ chức ở 3 cấp là TAND cấp huyện,
TAND cấp tỉnh và TAND tối cao. Điều 2 Luật Tổ chức TAND 2002 quy định:
Ở nƣớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam có các Tòa án sau đây:
- Tòa án nhân dân tối cao;
- Các TAND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ƣơng;
- Các TAND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh...[14].
19
Quy định này đặt ra cho pháp luật tố tụng một nhiệm vụ là phải quy
định những vụ án nào thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND cấp
huyện, những vụ án nào thuộc thẩm quyền của TAND cấp tỉnh.