Luận văn thạc sỹ - Giải pháp phát triển sản phẩm nhãn lồng Hưng Yên - Pdf 51

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN


TRẦN THỊ THU

GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM NHÃN LỒNG
HƯNG YÊN

CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ PHÁT TRIỂN

Người hướng dẫn khoa học:
TS. ĐẶNG THỊ LỆ XUÂN

Hà Nội - 2015


MỤC LỤC


DANH MỤC BẢNG, SƠ ĐỒ
BẢNG:
Tính cấp thiết của đề tài
Nhãn là một loại quả đặc sản ở Việt Nam. Lịch sử trồng nhãn đã có từ lâu đời,
khoảng 300 – 400 năm trước. Nhãn được trồng ở nhiều nơi trên đất nước ta như Hưng
Yên, Hải Dương, Hà Nội, Hà Nam (đồng bằng bắc bộ), ở các tỉnh phía Nam như Cao
Lãnh (Đồng Tháp), Vĩnh Châu (Sóc Trăng). Song chất lượng và hương vị của nhãn
ngon nhất là giống nhãn lồng Hưng Yên. Hưng Yên là một tỉnh nông nghiệp thuộc
vùng kinh tế trọng điểm đồng bằng Bắc Bộ với lợi thế thuộc vùng phù sa Sông Hồng,
sông Luộc rất thích hợp cho phát triển cây ăn quả có giá trị kinh tế cao, nhất là nhãn
lồng Phố Hiến đã nổi tiếng từ thế kỷ 17. Quả nhãn nơi đây rất to, cùi dày, da láng ăn
ngọt như đường phèn, hương vị dịu thơm mà không vùng nào sánh được.

- Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận liên quan đến sản phẩm nhãn lồng,
phát triển sản phẩm nhãn lồng
- Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển sản phẩm nhãn lồng Hưng Yên
trong thời gian vừa qua
- Đề xuất các giải pháp chủ yếu phát triển sản phẩm Nhãn lồng Hưng Yên
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến phát
triển sản phẩm nhãn lồng Hưng Yên
Phạm vi nghiên cứu:
- Về nội dung nghiên cứu: Sản phẩm nhãn lồng Hưng Yên, hoạt động phát
triển sản phẩm nhãn lồng Hưng Yên
- Về không gian: Đề tài chủ yếu nghiên cứu 2 vùng có diện tích trồng nhiều
nhãn lồng trong tỉnh Hưng Yên: Thành phố Hưng Yên và huyện Tiên Lữ.
- Về thời gian: Các số liệu thứ cấp được thu thập từ năm 2010 đến năm
2014, giải pháp đề xuất đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030.
4. Phương pháp nghiên cứu
4.1 Cơ sở lý thuyết sử dụng để phân tích thực tiễn
Sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa tư liệu để xây
dựng cơ sở lý thuyết về phát triển sản phẩm.
4.2 Các nguồn dữ liệu


a. Nguồn dữ liệu thứ cấp:
- Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ một số cơ quan chức năng như phòng
Thống kê các huyện, Cục Thống kê Hưng Yên, Sở Nông nghiệp & PTNT Hưng
Yên. Ngoài ra dữ liệu thứ cấp còn được thu thập từ các thư viện (Trường Đại học
Nông Nghiệp Hà Nội, Thư viện Quốc gia), một số cơ quan khác như Viện chiến
lược chính sách Nông Nghiệp và PTNT, một số tài liệu về Ngành hàng, một số sách
báo, tạp chí, internet…
b. Nguồn dữ liệu sơ cấp

NHÃN LỒNG HƯNG YÊN
1.1 Giới thiệu tổng quan về sản phẩm nhãn lồng Hưng Yên
1.1.1 Nguồn gốc cây nhãn và nhãn lồng Hưng Yên
1.1.1.1 Cây nhãn
Có nhiều quan điểm khác nhau khi nói đến nguồn gốc của cây nhãn:
-

Theo Jonathan H. Crane, Carlos F.Balerdi và Steven A. Sargent thì cây nhãn

(hay theo một số tên gọi phổ biển khác như: Lugan, Dragon eye, Mamoncillo chilo,
Longana, Leng keng hay Lam yai) thuộc họ Sapindaceae có nguồn gốc ở Myanmar,
phía nam Trung quốc, Tây – Nam Ấn Độ, Srilanca và bán đảo Đông Dương.
-

Theo Groff: Nhãn có nguồn gốc ở miền nam Trung quốc (tại các tỉnh

Quảng đông, Quảng tây, Phúc kiến, Tứ xuyên…) sau đó nhãn được phát triển ra các
châu lục và các nước khác trên thế giới. Năm 1798 nhãn được du nhập vào Ấn độ.
Năm 1903 nhãn từ Trung quốc được du nhập vào miền nam bang Florida nước Mỹ
sau đó phát triển ra một số nước thuộc vùng Caribe như Bermuda, Puerto Rico và
Cu ba, các nước châu phi, OOtxtraylia, ở đó nhãn được trồng trong các nông
trường, các trạm, trại thí nghiệm vừa để lấy quả vừa để làm cảnh và lấy bóng mát.
-

Theo De Candolle thì nhãn có nguồn gốc ở Ấn Độ, tại các vùng có khí

hậu lục địa. Tại bang Bengal và Assam, nhãn được trồng ở độ cao 1000. Tại phía
tây Ghats ở độ cao 1600m có rừng nhãn dại.
Như vậy cây nhãn có thể phân ra làm hai nhóm khác nhau: nhóm có nguồn
gốc từ vùng á nhiệt đới (Trung Quốc) và nhóm có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới (Ấn

nứa giữ cho chim, dơi khỏi ăn, loại này cùi dày và mọng. Cho đến nay tập quán


lồng nhãn vẫn có ở các vườn nhãn ở miền Trung. Ngoài ra, còn một cách giải thích
khác, gọi là nhãn lồng vì áo hạt (tử y) – cùi quả phát triển đến độ nhất định, bọc kín
lấy hạt rồi hai đầu lồng lên nhau khoảng 1cm nên có tên gọi là “nhãn lồng”
1.1.2 Đặc điểm sản phẩm nhãn lồng Hưng Yên
1.1.2.1Đặc điểm kinh tế kỹ thuật của cây nhãn
Cây nhãn (Dimocarpus loagan lour) thuộc họ bồ hòn (Sapindaceac). Họ bồ hòn
là một họ lớn với 125 loài và hơn 1000 giống bao gồm: vải, nhãn, chôm chôm,..được
trồng ở các vùng nhiệt đới và á nhiệt đới. Cây nhãn được trồng chủ yếu trong vĩ độ 15
– 280 Bắc và Nam đường xích đạo. Nhãn được trồng tập trung chủ yếu ở Trung
Quốc, Thái Lan và Việt Nam, nhãn được xếp vào cây ăn quả đặc sản do có nhiều đặc
điểm quý trong cả sử dụng tươi cũng như chế biến làm thuốc đông y.
Việt Nam có lịch sử trồng nhãn khoảng 300 đến 400 năm, cây nhãn được
trồng ở nhiều vùng khác nhau trong cả nước như Sơn La, Yên Bái, Hưng Yên, Hải
Dương, Quảng Ninh, Quảng Bình, Quảng Trị và đồng bằng sông Cửu Long.
Cây cao 5-10 m. Vỏ cây xù xì, có màu xám. Thân nhiều cành, lá um tùm xanh
tươi quanh năm. Lá kép hình lồng chim, mọc so le, gồm 5 đến 9 lá chét hẹp, dài 720cm, rộng 2,5-5cm. Mùa xuân vào các tháng 2, 3, 4 ra hoa màu vàng nhạt, mọc
thành chum ở đầu cành hay kẽ lá, đài 5-6 răng. Tràng 5-6, nhị 6-10, bầu 2-3 ô. Quả
tròn có vỏ ngoài màu vàng xám, hầu như nhẵn. Hạt đen nhánh, có áo hạt màu trắng
bao bọc. Mùa quả là vào khoảng tháng 7-8. Cây nhãn tương đối chịu rét hơn so với
các loại cây cùng họ như vải, đồng thời cũng kén ít đất hơn. Chính vì vậy nhãn
được trồng rất phổ biến ở khắp các tỉnh thành Việt Nam.
1.1.2.2 Đặc điểm sản phẩm nhãn lồng Hưng Yên
Nhãn đã được trồng tại Hưng Yên từ hơn 350 năm về trước, với rất nhiều
giống nhãn khác nhau. Có thể chia thành hai nhóm giống chính bao gồm:
Nhóm nhãn cùi: chiếm khoảng 65 – 70%; trong nhóm nhãn này, nhãn Lồng
khoảng 20 – 25%, đường phèn khoảng 5%, nhãn Hương Chi 30%; nhãn cùi, nhãn
muộn 10%. Đây là nhóm cho chất lượng ngon, bán quả tươi là chủ yếu và có giá

thấp,
hình
bán
nguyệt. Lá
có màu xanh
thẫm, bóng,
mật độ dày

Trọng
Tỷ lệ cùi
lượng
quả
Quả to, cùi dày, vân 11 – 12 62,7%
hanh vàng, múi gam/quả
chồng lên nhau ở
đỉnh quả. Quả chín
ăn giòn, vị ngọt đậm,
mùi thơm. Độ bám
giữa cùi và hạt, cùi
và vỏ quả yếu. Kích
thước quả đều
Cùi giòn, ngọt, sắc 11 – 13 Lớn hơn
nước, hạt nhỏ, vỏ gam/quả 60%
mỏng,

đẹp,
hương

Phân bố
Chủ yếu ở

(5%)

Lá nhỏ hơn Vỏ quả và kiểu chum
so với nhãn quả như nhãn lồng,
Lồng, nhãn quả nhỏ hơn có cùi
cùi. Ra hoa và dày, mặt cùi có u nhỏ
chín
chậm như cục đường phèn,
hơn nhãn cùi hương thơm đặc biệt,
từ 9 – 15 ngày vị ngọt sắc
Nhãn bàm Quả to gần bằng quả nhãn lồng,
bàm (5%) trông quả hơi vẹo, cùi dày, khô, ăn
có vị ngọt nhạt.

7 – 10 60%
gam/quả

1215
gam/quả

Phân bố rải
rác, nhưng
có nhiều ở
Thành phố
Hưng Yên
và H. Tiên
Lữ
Phân bố rải
rác


dày, ráo nước và thơm ngon đặc biệt. Vì trên mặt cùi có các u cục nhỏ như cục
đường nên dân gian gọi là nhãn đường phèn. Tuy nhiên, do quả nhãn nhỏ, năng suất
thấp, nên nhãn Đường phèn hiện nay không được trồng phổ biến bằng nhãn Hương
Chi, chủ yếu được các hộ trồng với mục đích sử dụng gia đình hoặc làm quà.
1.1.3 Phân loại sản phẩm nhãn lồng Hưng Yên
Nhãn lồng cho rất nhiều sản phẩm bổ ích cho sức khỏe cũng như làm thuốc


trong Đông y. Có bốn loại sản phẩm từ cây nhãn lồng Hưng Yên bao gồm:
1.1.3.1 Nhãn quả tươi
Nhãn là loại hoa quả khá phổ biến tại Việt Nam, mỗi vùng miền đều trồng
giống cây này, vì thế nó có rất nhiều loại khác nhau, hương vị, chất lượng mỗi loại
tất nhiên cũng sẽ khác nhau. Người từng ăn nhãn chắc chắn đều nghe qua tên nhãn
lồng Hưng Yên, không chỉ là giống nhãn ngon nhất hiện nay, nhãn lồng còn là đặc
sản nổi tiếng của vùng quê nhãn này. Chính vì vậy mà nhãn lồng thường bị tráo đổi
với nhiều loại nhãn khác nhau rồi đem bán nhằm kiếm lợi nhuận, cùng với đó là
việc sử dụng các thuốc bảo vệ thực phẩm để nhãn tươi lâu hơn, làm mất giá trị, uy
tín của nhãn lồng trong lòng người tiêu dùng. Tuy nhiên, trường hợp này thường
xảy ra đối với nhãn nhập từ Trung Quốc, còn đối với nhãn lồng, thông thường bà
con nông dân sẽ cắt nhãn rồi xếp luôn vào sọt đem đi tiêu thụ, nên nhãn vẫn còn lá
xanh tươi, mùi thơm dễ chịu, cuống quả vẫn còn xanh, quả rắn chắc, không ra nước,
không rụng rời, khi bóc ra cùi mọng nước, ăn vào thơm ngọt…
Để mua được nhãn lồng Hưng Yên chính gốc thì cẩn phải phân biệt được các
loại nhãn với nhau, có rất nhiều loại nhãn được bày bán trên thị trường, nhưng
không phải loại nào cũng giống nhau, vì thế, chỉ cần chú ý là người tiêu dùng có thể
nhận biết được đâu là nhãn lồng, đâu là giống nhãn khác. Một số đặc điểm của các
loại nhãn phổ biến trên thị trường hiện nay là;
Nhãn Thái Lan: do thời gian vận chuyển từ 1 – 2 ngày thì nhãn mới về đến
chợ đầu mối, nên thường bị ngâm, ủ chất bảo quản. Nhãn cũng có thể bị nhũn, ra
nước do trời nóng và để trong thùng kín nên cần quan sát trước khi tiêu dùng. Về đặc

Long nhãn là vị thuốc quý, được chế biến từ cùi của quả cây nhãn, tên khoa
học là Euphoria Lamk. Trong thành phần long nhãn chứa 0,85 nước, chất không tan
trong nước là 19,39%, chất tan trong nước là 79,77% gồm 29,91 glucose, 0,22%
sacharose, 1,26% acid tartaric, ngoài ra có saponin, chất béo, tannin và các chất
khác. Long nhãn từ xưa nay nổi tiếng là sản phẩm bổ dưỡng. Cùi nhãn, vỏ quả, rễ,
hạt, hoa, lá đều có giá trị chữa bệnh khá cao. Tác phẩm y học cổ xưa nhất Trung
Quốc còn lại tới nay là cuốn “Thần nông bản thảo kinh” có nói, long nhãn chủ trị,
ngũ tạng tà khí, an thần, kích thích tiêu hóa, trừ độc do côn trùng đốt, diệt ba loại


sâu bọ. Cuốn “Bản thảo cương mục” của Lý Thời Trân viết “long nhãn vị ngọt, bổ
tỳ vị, bổ hư, tăng cường trí tuệ”. Danh y Trương Tích Thuần đã khái quát công dụng
của long nhãn là: “Bổ tâm huyết, tâm khí, tỳ huyết, khỏe tỳ vị, chữa lo lắng quá độ,
thương tổn tâm lý, hồi hộp mất ngủ, tiêu chảy do tỳ hư”
Y học hiện đại qua nghiên cứu đã phát hiện trong long nhãn có đường Gluco,
đường xacaro, lipid, vitamin B1, B2, C, P và các nguyên tố vô cơ như canxi, phốt
pho, sắt…Nghiên cứu về dược lý cho thấy long nhãn có tác dụng bổ huyết và trấn
tĩnh, chữa hồi hộp do thần kinh; thuốc sắc long nhãn có tác dụng hạn chế trực khuẩn
lỵ ngoài cơ thể và khuẩn nấm tiểu nha bào.
Long nhãn là một sản phẩm có nguồn gốc từ quả nhãn lồng Hưng Yên, long
nhãn được chế biến bằng các phương pháp thủ công, dùng sức người tách vỏ và hạt,
sau đó đem sấy ở nhiệt độ vừa phải. Cách nhận biết long nhãn làm từ nhãn lồng
Hưng Yên:
Nhìn bằng mắt thường: long nhãn có màu vàng hanh hoặc vàng thẫm đặc
trưng, những loại long nhãn màu nâu sẫm thường kém chất lượng hoặc không sử
dụng lò điện để sấy khô.
Sờ: long nhãn chất lượng tốt thường được sấy khô đúng tiêu chuẩn, do đó khi
chạm vào sẽ thấy các hạt long nhãn tách rời nhau, không dính nước rat ay. Nếu có là
do long nhãn chưa được sấy khô hoàn toàn, rất dễ hỏng.
Ngửi: Long nhãn tốt là ngay cả khi sấy rồi, người ta vẫn ngửi được mùi vị

Từ xa xưa cây nhãn đã là cây gắn bó mật thiết với con người. Quả nhãn là
loại thực phẩm thường ăn tươi, chứa nhiều nước, tuy cung cấp ít năng lượng nhưng
lại có nhiều chất khoáng vi lượng, đặc biệt nhiều vitamin, nhất là vitamin C là chất
không thể thiếu được đối với cơ thể con người. Theo các nhà dinh dưỡng học, mỗi
người mỗi ngày cần tối thiểu khoảng 100 gam quả tươi để đảm bảo cung cấp
vitamin cần thiết cho cơ thể hoạt động.
Đặc biệt, hiện nay ở nước ta, tỷ lệ trẻ dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng còn
chiếm tỷ trọng khá cao (khoảng %), tập trung nhiều ở các vùng nông thôn. Nguyên
nhân của hiện tượng này một phần là do chế độ dinh dưỡng của ta chưa hợp lý,
nặng về chất bột, nhẹ về rau và hoa quả là những thực phẩm mà nước ta có nhiều


điều kiện thuận lợi để sản xuất. Vì vậy, phát triển sản xuất cây ăn quả nói chung,
cây nhãn nói riêng sẽ góp phần quan trọng vào việc cải thiện cơ cấu bữa ăn trong
mỗi gia đình, cải thiện tình trạng sức khỏe cho người dân, đặc biệt là cho trẻ em và
người già.
Bên cạnh đó, xã hội càng phát triển, thu nhập của người dân không ngừng
được nâng cao thì nhu cầu về thực phẩm quả giàu vitamin sẽ ngày càng tăng lên cả
về số lượng, chất lượng và chủng loại. Để đáp
ứng ứng nhu cầu đó của còn người, cần thiết phải phát triển sản phẩm cây ăn
quả nói chung và cây nhãn nói riêng.
1.1.4.2 Cây nhãn là loại cây trồng có hiệu quả kinh tế cao
Xuất phát từ giá trị dinh dưỡng cao của quả nhãn, từ đặc điểm kinh tế - kỹ
thuật của cây nhãn là yêu cầu đầu tư lớn và cho khai thác nhiều lần trong thời gian
tương đối dài v.v; nhất là trong điều kiện sản xuất ở nước ta chưa đáp ứng đủ nhu
cầu thị trường cả về số lượng, chất lượng và về giá cả, mà trồng cây nhãn đã và
đang mang lại thu nhập cao hơn so với trồng nhiều loại cây khác. Một ha nhãn lồng
trên đất Hưng Yên theo tính toán của Phòng Nông Nghiệp và Phát triển Nông Thôn
tỉnh Hưng Yên năm 2013 thì bình quân một năm cho thu nhập khoảng. Trong khi
đó, nếu trồng bạch đàn cũng trên đất gò đồi thì sau 8 năm 1 ha chỉ cho thu nhập

thể là những vật thể, dịch vụ, địa điểm, những tổ chức, những ý nghĩ.
Phát triển sản phẩm có thể hiểu là một quá trình lớn lên về mọi mặt của sản
phẩm trong một thời kỳ nhất định, trong đó bao gồm cả sự tăng lên về quy mô sản
lượng hay giá trị sản phẩm hàng hóa dịch vụ và sự tiến bộ về mặt cơ cấu mặt hàng.
Phát triển theo quy mô: huy động mọi nguồn lực vào sản xuất như tăng diện
tích, tăng thêm vốn, bổ sung thêm lao động và khoa học công nghệ mới, mở mang
thêm nhiều ngành nghề, xây dựng thêm nhiều xí nghiệp tạo ra những mặt hàng mới.
Phát triển theo chiều sâu (phát triển chất lượng): xác định cơ cấu đầu tư, cơ
cấu nghành nghề, cơ cấu loại hình hợp lý, đẩy mạnh ứng dụng các thành tựu khoa
học công nghệ tiên tiến, cải tiến tổ chức sản xuất, phân công lại lao động, sử dụng
hợp lý hiệu quả các nguồn lực.
Phát triển theo chiều rộng và chiều sâu là yêu cầu chung của bất kỳ một nền
kinh tế hay một doanh nghiệp nào. Nhưng ở mỗi nước, mỗi daonh nghiệp, mỗi địa


phương, mỗi thời kỳ, sự kết hợp này có khác nhau. Theo quy luật chung của các
nước cũng như các doanh nghiệp là thời kỳ đầu của sự phát triển thường tập trung
để phát triển theo quy mô, sau đó tích lũy thì chủ yếu phát triển theo chiều sâu.
Do sự khan hiếm nguồn lực làm hạn chế sự phát triển theo chiều sâu. Sự
khan hiếm này ngày càng trở nên khốc liệt trong điều kiện cạnh tranh do nhu cầu
của xã hội và thị trường, do sự cần thiết để xây dựng, đổi mới và hiện đại hóa cơ sở
vật chất kỹ thuật của nền sản xuất xã hội hoặc của doanh nghiệp. Muốn vậy phải
phát triển theo chiều sâu thì mới có thể tích lũy vốn. Như vậy, bất kỳ một doanh
nghiệp. một địa phương, một quốc gia nào muốn phát triển thì đòi hỏi phải phát
triển cả chiều sâu và chiều rộng nhưng chú trọng phát triển theo chiều sâu là rất cần
thiết và có ý nghĩa to lớn.
1.2.2 Nội dung phát triển sản phẩm nhãn lồng Hưng Yên
Dựa trên cơ sở lý luận về phát triển sản phẩm, chúng ta có thể quan niệm
phát triển sản phẩm nhãn lồng Hưng yên là sự gia tăng về quy mô, sản lượng và
sự tiến bộ về cơ cấu cây trồng, cơ cấu chất lượng sản phẩm và hiệu quả kinh tế.

quảng canh. Sản lượng lương thực có hạt của thế giới từ 510 triệu tấn năm 1901
tăng lên 771 triệu tấn năm 1950, trong đó chủ yếu là do mở rộng diện tích từ 508
triệu ha lên 723 triệu cùng thời gian tương ứng, nghĩa là diện tích tăng 41,76%
trong lúc đó năng suất tăng 5,68%. Với sự phát triển của xã hội, nhu cầu đòi hỏi về
lượng nông sản ngày càng lớn, nhưng khả năng mở rộng diện tích bị hạn chế, con
người phải chuyển sang việc nâng cao chất lượng canh tác, thông qua việc đầu tư
thêm tư liệu sản xuất và sức lao động để thu được nhiều sản phẩm hơn trên đơn vị
diện tích. Theo phương thức đó đến giai đoạn nhất định của lịch sử, thâm canh có ý
nghĩa to lớn và đoáng vai trò quyết định của nông nghiệp.
1.2.3.1.2 Sự gia tăng về sản lượng nhãn lồng
Sự gia tăng về sản lượng nhãn lồng phản ánh sự phát triển của sản phẩm
Sản lượng nông nghiệp phụ thuộc vào khoa học và công nghệ nhưng có thể
không rõ phụ thuộc như thế nào, mức độ ra sao. Đầu thế kỷ 20, thực chất của bất kỳ
sự gia tăng sản lượng lương thực nào cũng là do tăng thêm những vùng đất canh tác


mới. Cuối thế kỷ 20, hầu hết sự gia tăng sản lượng là do cải tiến về giống, hạt
giống, phân bón, thuốc trừ sâu, tự động hóa và kỹ năng quản lý, tất cả từ thành quả
nghiên cứu.
Năng suất nông nghiệp thường được tính theo sản lượng trên mỗi đơn vị diện
tích hay nhân công. Mức năng suất cao nhất ở vài nước châu Á với tổng sản lượng
thu hoạch của cây trồng và vật nuôi trên mỗi hecta gấp tám lần của Mỹ do nền nông
nghiệp thâm canh với rất nhiểu lao động, vốn và phân bón cũng như thu hoạch
nhiều vụ trên mỗi hecta.
Tuy nhiên, không phải để tăng năng suất thì chỉ cần ném vào đó nhiều tài
nguyên hơn như tăng phân bón, hóa chất, máy móc và năng lượng; nên nhớ là sản
xuất nhiều hơn nghĩa là phải chi phí nhiều hơn. Vấn đề là làm thế nào để thu được
nhiều hơn với tổ hợp những yếu tố cho sẵn gồm đất, lao động, vốn, vật tư – chúng
ta gọi đó là năng suất tổng hợp (TFP – Total Factor Productivity). TFP tăng là sự
phản ánh của những cải tiến về công nghệ quản lý, đó là khả năng biết cách thu

nhập vào thị trường tiêu thụ của đối thủ cạnh tranh, lôi kéo những người tiêu dùng
hiện tại của đối thủ cạnh tranh sang thị trường tiêu thụ của mình, và kích thích
những người không tiêu dùng tương đối tiêu thụ sản phẩm của mình. Để thực hiện
được chiến lược này, đòi hỏi địa phương phải có những phương án, cách thức hữu
hiệu. Việc mở rộng thị trường có thể thực hiện theo hai cách, đó là mở rộng thị
trường theo chiều rộng và mở rộng thị trường theo chiều sâu.
Mở rộng thị trường theo chiều rộng: là việc địa phương thực hiện xâm nhập
vào thị trường mới, thị trường mà người tiêu dùng chưa biết đến sản phẩm của địa
phương. Hay còn gọi là thị trường của đối thủ cạnh tranh.
Mở rộng thị trường theo chiều sâu là việc địa phương khai thác tốt hơn thị
trường hiện có của địa phương, tiến hành phân đoạn, cắt lớp thị trường, cải tiến hệ
thống phân phối, thực hiện các chính sách về sản phẩm, giá, dịch vụ sau bán hàng.
1.2.3.2 Tiêu chí đánh giá phát triển về chất lượng
1.2.3.2.1 Lợi nhuận
Lợi nhuận = Doanh thu – Chi phí
Doanh thu hay tổng giá trị sản xuất (GO):


GO = PxQ
Trong đó: P: giá bán/kg nhãn lồng
Q: Sản lượng nhãn
Tổng chi phí sản xuất (TC) = IC + KH + Công lao động gia đình
Trong đó:
IC: Giá trị gia tăng/Chi phí trung gian
KH: Khấu hao
1.2.3.2.2 Bao bì sản phẩm, bảo quản và vệ sinh an toàn thực phẩm
Người tiêu dùng ngày càng quan tâm đến sức khỏe của họ, nguồn gốc xuất
xứ và chất lượng của những sản phẩm mà họ tiêu dùng. Phần lớn các quy định
thông thường đều tập trung đến phẩm chất, kích thước, trọng lượng và ghi nhãn bao
bì. Qui định nghi nhãn mác yêu cầu các thông tin như: nước xuất khẩu, tên sản

thương hiệu: sự trung thành của khách hàng đối với thương hiệu, sự nhận biết về
thương hiệu, sự nhận thức về chất lượng sản phẩm, sự liên tưởng đối với thương
hiệu và một số thuộc tính khác của thương hiệu. Sức mạnh thương hiệu tỷ lệ với giá
trị thương hiệu và nó được phản ánh thông qua chỉ tiêu về: Sản lượng và giá cả tiêu
thụ sản phẩm, kênh phân phối sản phẩm, thị phần của sản phẩm trong và ngoài tỉnh.
1.2.3.2.4 Sự hài lòng của khách hàng
Theo Kotler (2000) định nghĩa “Sự hài lòng như là một cảm giác hài lòng
hoặc thất vọng của một người bằng kết quả của việc so sánh thực tế nhận được của
sản phẩm (hay kết quả) trong mối liên hệ với những mong đợi của họ”. Sự hài lòng
của khách hàng là việc khách hàng căn cứ vào những hiểu biết của mình đối với sản
phẩm hay dịch vụ mà hình thành nên những đánh giá hoặc phán đoán chủ quan. Đó
là một dạng cảm giác về tâm lý sau khi nhu cầu của khách hàng được thỏa mãn. Sự
hài lòng của khách hàng được hình thành trên cơ sở những kinh nghiệm, đặc biệt
được tích lũy khi mua sắm và sử dụng sản phẩm hay dịch vụ. Sau khi mua và sử
dụng sản phẩm khách hàng sẽ có sự so sánh giữa hiện thực và kỳ vọng, từ đó đánh
giá được sự hài lòng hay không hài lòng.
Trong môi trường cạnh tranh như hiện nay khách hàng là nhân tố quyết định
sự tồn tại của sản phẩm. Sản phẩm nào dành được mối quan tâm và sự trung thành
của khách hàng sản phẩm đó sẽ thắng lợi và phát triển. Chiến lược phát triển sản


phẩm tới khách hàng là mục tiêu hàng đầu của các doanh nghiệp, địa phương, làm thế
nào để đem đến cho khách hàng sự hài lòng tốt nhất luôn là vấn đề các doanh nghiệp,
tổ chức cố gắng làm hết khả năng của mình. Việc làm hài lòng khách hàng đã trở
thành một việc quan trọng đối với doanh nghiệp và tổ chức trong nỗ lực nâng cao
chất lượng sản phẩm dịch vụ để từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm.
Chất lượng là yếu tố quan trọng nhất trong việc tạo nên sự hài lòng khách hàng, tạo ra
ưu thế phát triển và thế mạnh trong cạnh tranh với các sản phẩm đồng loại.
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển sản phẩm nhãn lồng
1.3.1

Nhiệt độ, lượng mưa, ẩm độ: Đây là chỉ tiêu rất quan trọng để quyết định
chọn cây gì, con gì cho vùng sinh thái đó, vì các loại khác nhau có những yêu cầu
khác nhau về nhiệt độ,độ ẩm như:
Bảng 1.2: Yêu cầu nhiệt độ, lượng mưa của một số cây ăn quả
Cây trồng
Nhãn
Vải
Bưởi
Na

Nhiệt độ trung bình (0C)
Thích hợp Trung bình Trung bình tối
21 - 22
24 - 29
22 - 30
22 – 30

tối cao
27
29
30
29

thấp
10
10
16
10

Lượng mưa thích

Không kén đất, tốt nhất trên đất có tầng dày >70cm, đất phù sa
ven sông, phù sa cổ, đất ven đồi núi, ưa đất chua PH 5 – 5,5.

1.3.1.2 Tiến bộ khoa học – công nghệ


Trong bối cảnh sự cạnh tranh ngày càng gia tăng, tiến bộ khoa học công nghệ
và việc ứng dụng chúng vào quy trình sản xuất, chế biến, bảo quản quả ngày càng
trở nên quan trọng, góp phần tạo lợi thế cạnh tranh cho sản phẩm trên thị trường
trong nước và quốc tế.
Công nghệ nhân giống nhãn có ảnh hưởng rất lớn đến số lượng, chất lượng
(cây con đạt tiêu chuẩn kỹ thuật, đảm bảo các đặc tính di truyền tốt, không mang
bệnh.v.v) và giá thành cây con sản xuất ra. Công nghệ nhân giống, lai tạo giống còn
cho phép tạo ra các giống nhãn cho quả với năng suất cao, chất lượng tốt thỏa mãn
nhu cầu ngày càng tăng của con người.
Công nghệ sản xuất quả nhãn với hệ thống qui trình sản xuất và các biện
pháp kỹ thuật trong khâu trồng (làm đất, chọn mật độ trồng, kỹ thuật trồng); tạo tán;
chăm sóc; và thu hoạch ngày càng được nghiên cứu, cải tiến và hoàn thiện hơn cho
phù hợp với các điều kiện sinh thái khác nhau, đã cho phép tạo dựng được các vườn
trồng có năng suất, chất lượng sản phẩm cao và thời vụ thu hoạch dài, đáp ứng nhu
cầu ngày càng tăng của thị trường và nâng cao hiệu quả sản xuất.
Công nghệ bảo quản quả nhãn tươi, theo ước tính, tổn thất sau thu hoạch sản
phẩm rau quả nói chung của nước ta hiện còn khá cao, vào khoảng 20 – 25%. Sự
hao hụt này là do các quá trình vật lý (chẳng hạn như sự thoát hơi nước, sự sinh
nhiệt); các quá trình sinh lý (chẳng hạn như sự hô hấp, sự chín) và quá trình thay
đổi thành phần hóa học (chẳng hạn như sự thay đổi màu sắc, sự chuyển hóa các
chất) xảy ra trong quả tươi khi tồn trữ. Vì vậy, công nghệ bảo quản quả sau thu
hoạch có vai trò đặc biệt trong việc nâng cao hiệu quả kinh tế của ngành hàng này.
Ngoài các phương pháp bảo quản quả tươi truyền thống, khoa học ngày nay đã tìm
ra nhiều phương pháp mới, hiện đại hơn nhằm bảo quản quả tươi lâu hơn.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status