VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
----------------------
Vũ Thúy Nga
THỜI TRONG TIẾNG NHẬT
VÀ CÁC BIỂU HIỆN TƢƠNG ĐƢƠNG
TRONG TIẾNG VIỆT
Chuyên ngành:
Mã số:
Ng n ngữ so sánh đối chiếu
9 22 20 24
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC
HÀ NỘI - 2018
Công trình được hoàn thành tại:
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
VIỆN NGÔN NGỮ HỘC VIỆN KHOA HỌC XÁC HỘI VIỆT
NAM
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. Trần Thị Chung Toàn
Phản biện 1:
Phản biện 2:
không sử dụng thời như một ngữ pháp bắt buộc. Do đó, với người Việt,
việc hiểu và sử dụng tốt thời trong tiếng Nhật - một loại hình ngôn ngữ
chắp dính hoàn toàn khác biệt là một khó khăn không hề nhỏ. Để giúp
người Việt có thể hiểu và vận dụng đúng thời tiếng Nhật hay giúp người
Nhật nắm bắt được các biểu đạt thời gian trong ngôn ngữ không bị ngữ
pháp hóa về thời như tiếng Việt đòi hỏi cần có những nghiên cứu về mặt
lý luận và đối chiếu của các nhà nghiên cứu, giảng dạy ở cả hai ngôn ngữ
tiếng Nhật và tiếng Việt.
Với những lí do trên, chúng tôi chọn nghiên cứu đối chiếu “Thời
trong tiếng Nhật và các biểu hiện tương đương trong tiếng Việt” làm đề
tài nghiên cứu của luận án.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu
- Nắm rõ cơ chế hoạt động của thời trong tiếng Nhật từ góc độ lí
luận với tư cách là một phạm trù ngữ pháp thuộc loại hình ngôn
ngữ chắp dính khác biệt với tiếng Việt.
- Xác định lại những đặc thù khác biệt của tiếng Nhật khi biểu đạt
thời trong so sánh với cách biểu đạt thời gian của người Việt.
- Cung cấp thêm nguồn tư liệu thực chứng về hoạt động của phạm
trù thời trong tiếng Nhật thông qua việc xem xét các biểu hiện
hoạt động của phạm trù này trong khối ngữ liệu thực tế để phục
2
vụ cho công tác nghiên cứu về thời nói chung và tại Việt Nam nói
riêng.
- Đưa ra một số đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy thời
cho sinh viên Việt Nam trước mắt cũng như lâu dài.
Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống lại những vấn đề liên quan đến thời trong ngôn ngữ học
Ngữ liệu dùng để khảo cứu và khảo sát cho luận án là:
3
-
Các công trình nghiên cứu về Nhật ngữ học và Việt ngữ học liên
quan đến thời.
- Nguồn ngữ liệu tiếng Nhật: là những ấn phẩm văn hoá đáng tin
cậy, có văn phong chuẩn mực, một số tiểu thuyết, truyện ngắn
của các nhà văn có tầm ảnh hưởng lớn tại Nhật Bản đã được dịch
sang tiếng Việt nên sẽ thuận tiện cho việc đối chiếu ngôn ngữ
như: Akutagawa Ryunosuke, Miyazawa Kenji, Murakami Ryu.
- Nguồn ngữ liệu tiếng Việt: chúng tôi lựa chọn một số truyện ngắn
của các tác giả có tên tuổi trong làng Văn học Việt Nam đã được
các dịch giả Nhật Bản dịch sang tiếng Nhật như: Thạch Lam, Võ
Thị Hảo.
6. Đóng góp mới về khoa học của luận án
Thông qua cơ sở lý luận về thời gian trong ngôn ngữ với trọng tâm là
thời, luận án góp phần làm rõ thêm những vấn đề lý luận tổng quan liên
quan đến thời.
Bằng phương pháp đối chiếu, luận án đã khẳng định, thời là phạm trù
ngữ pháp trong tiếng Nhật, có chức năng định vị sự tình trong thời gian
thông qua các biểu hiện hình thái ở vị từ (không chỉ ở động từ mà bao
gồm cả tính từ và cấu trúc ngữ pháp chứa danh từ) và có sự khác biệt rất
rõ rệt với các biểu đạt thời gian trong tiếng Việt.
Có thể thấy rõ, thời trong tiếng Nhật giữ vai trò quan trọng giúp cho
người tiếp nhận thông tin nắm được rõ ràng thời điểm xảy ra hành động,
sự việc thuộc về khung thời gian nào kể cả trong những phát ngôn không
có các yếu tố từ vựng hay các phó từ chỉ mức độ. Trong khi đó, các phó
tiếng Nhật nắm được những kiến thức cơ bản và có ý thức thường xuyên
hơn về biểu đạt thời trong tiếng Nhật cũng như ý thức hơn các biểu hiện
thời gian tương đương giữa tiếng Việt và tiếng Nhật trong quá trình dạy
và học tiếng Nhật.
Đề xuất phương pháp giảng dạy thời trong tiếng Nhật trên cơ sở của
kết quả nghiên cứu đối chiếu, nêu bật tính đặc thù ngôn ngữ biểu đạt tư
duy có liên quan đến thời gian mà thời mang lại, hướng tới biên soạn các
bài giảng tiếng Nhật có chú trọng tới các biểu hiện thời.
8. Cấu trúc của luận án
Luận án gồm 150 trang chính văn. Ngoài phần mở đầu và kết luận,
luận án được chia thành 4 chương:
Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận phục vụ
nghiên cứu;
Chƣơng 2: Phân tích các biểu hiện của thời tiếng Nhật từ góc độ hình thái
và ngữ nghĩa;
Chƣơng 3: Phân tích biểu đạt của thời tiếng Nhật qua đối chiếu với các
biểu đạt thời gian tương ứng trong tiếng Việt trên cứ liệu dịch Nhật - Việt
và Việt - Nhật;
Chƣơng 4: Khảo sát cách nắm bắt và sử dụng thời trong tiếng Nhật của
sinh viên Việt Nam, đề xuất lưu ý trong dạy và học có liên quan đến thời.
5
CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN PHỤC VỤ NGHIÊN CỨU
1.1. Tổng quan về tình hình nghiên cứu
1.1.1. Tình hình nghiên cứu thời trên thế giới nói chung
Phạm trù thời là vấn đề thu hút sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu
trên thế giới. Theo quan điểm của các nhà ngữ pháp truyền thống, “Thời”
6
1.1.2. Tình hình nghiên cứu thời tại Nhật Bản
Ở Nhật Bản, những nghiên cứu về thời, thể đã được quan tâm từ thời
kỳ trung thế nhưng những nghiên cứu sớm nhất về thời trong tiếng Nhật
hiện đại phải kể tới là của Yuzawa (1929). Tác giả đã chỉ ra dạng chia của
động từ “テ イ/ル te i/ru” hay “テ アル te a/ru” là hình thái của thời,
thể trong tiếng Nhật thời kỳ trung đại khác nhiều so với hình thái biểu
hiện thời, thể trong tiếng Nhật hiện đại.
Trong tiếng Nhật hiện đại, có thể kể tới một số nhà nghiên cứu lớn gắn
với các công trình để lại nhiều dấu ấn quan trọng như: Kindaichi
Haruhiko (1950, 1955), Suzuki Shigerushin (1965, 1979), Teramura
Hideo (1984), Takahashi Taro (1986), Kato Yasuhiko & Fukuchi
Tsutomu (1989), Masuoka Takashi & Takubo Yukinori (1992), Kudo
Mayumi (1995), Nitta Yoshio (2007), Suzuki Tai (2013), Iori Isao &
Kiyomi (2016) v.v...
Các nhà nghiên cứu ngôn ngữ Nhật đã đưa ra nhiều khái niệm về
thời trong tiếng Nhật. Nghiên cứu của Teramura (1984), Kato & Fukuchi
(1989), Masuoka & Takubo (1992), Nitta (2007) v.v… đều nhất trí cho
rằng thời trong tiếng Nhật không chỉ biểu hiện phạm trù ngữ pháp của
động từ như trong ngôn ngữ Ấn - Âu mà biểu hiện ở cả vị ngữ là tính từ
và danh từ.
Các học giả đã phân tích các cách sử dụng dạng “ta” biểu hiện thời
Quá khứ và dạng “ru” biểu hiện thời Phi quá khứ dựa trên 3 yếu tố: tính
chất của vị ngữ; tính kết nối trong câu; tâm lý của người nói.
Tại Nhật Bản, ngoài những nghiên cứu về mặt lý luận của các nhà
Nhật ngữ đã nêu trên, cũng có rất nhiều các nghiên cứu đối chiếu giữa
thời trong tiếng Nhật với thời trong các ngôn ngữ khác như: đối chiếu
thời trong tiếng Nhật với thời trong tiếng Hàn (Inoue Yu & Ikukoshi
Hương (2014), đối chiếu với thời trong tiếng Anh của Lương Bá Phương
(2016) v.v…
Cho đến nay, hiện vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu đối chiếu
về thời trong tiếng Nhật với các biểu hiện thời gian trong tiếng Việt. Để
giúp người học tiếng Nhật hiểu và vận dụng đúng các biểu đạt thời gian
trong ngôn ngữ có thời là tiếng Nhật sang ngôn ngữ không ngữ pháp hóa
về thời như tiếng Việt và ngược lại, là vấn đề đòi hỏi cần có thêm nhiều
nghiên cứu về mặt lý luận và đối chiếu của các nhà nghiên cứu, giảng dạy
ở cả hai ngôn ngữ tiếng Nhật và tiếng Việt. Luận án là công trình đầu tiên
nỗ lực để giải quyết vấn đề này.
1.2. Cơ sở lý luận phục vụ nghiên cứu của luận án
1.2.1. Biểu hiện thời gian và phạm trù Thời
Cách nhìn thời gian và thể hiện thời gian trong các ngôn ngữ khác
nhau.
Lyons J. (1977) chỉ ra rằng, thời gian khách quan là thời gian siêu
ngôn ngữ (metalingiustic tense), thời gian ngữ pháp hóa là thời gian ngôn
ngữ (language‟s tense). Có ngôn ngữ ngữ pháp hóa thời gian bằng hệ
thống phạm trù thời, thể, tình thái như tiếng Anh, tiếng Nhật v.v… nhưng
có ngôn ngữ lại chủ yếu sử dụng phương tiện từ vựng (qua hệ thống các
từ chỉ thời gian như: hôm nay, sáng mai, lúc ấy, bây giờ, sớm, muộn v.v...)
kết hợp với các yếu tố ngữ pháp, hay bổ sung thêm ngữ cảnh, suy luận
logic, phương thức đảo trật tự từ… để thể hiện thời gian như: tiếng Việt,
tiếng Trung v.v…
8
Trong sự phát triển của ngành nghiên cứu ngôn ngữ học, đặc biệt là
ngữ pháp học, cùng với các kết quả nghiên cứu mới được bổ sung trên cứ
liệu của nhiều ngôn ngữ khác loại hình với các thứ tiếng Ấn - Âu, mối
quan hệ giữa thời gian và biểu đạt thời gian ngày càng được nhìn nhận
Trong đó, (T) là các từ vựng có chức năng chỉ xuất thời gian cụ thể và
trong ngữ cảnh khi lần đầu tiên xuất hiện, đồng thời cũng chịu trách
nhiệm xác lập khung thời gian cho sự tình; (P) là yếu tố mang tính ngữ
pháp biểu đạt trạng thái về thời gian của sự tình.
5 cách thức cơ bản này đã tạo cho tiếng Việt có nhiều cấu trúc biểu
hiện thời gian, tuy nhiên, chỉ có một cấu trúc có mặt đầy đủ cả (T) và (P) và,
9
cấu trúc này lại không mấy được ưa thích sử dụng trong các phát ngôn của
người Việt bởi cách biểu đạt không tự nhiên, gò bó. Phần lớn các cấu trúc
khác chỉ có mặt một trong hai yếu tố (T) hoặc (P) theo nguyên tắc “ngầm
định” hay “tiết kiệm”.
Luận án không lấy vấn đề thời trong tiếng Việt làm mục đích nghiên
cứu nên tạm thời chấp nhận kết quả nghiên cứu này để giúp cho việc phân
tích, và đặc biệt, đối chiếu hoạt động của thời trong tiếng Nhật với biểu
hiện thời gian tương đương trong tiếng Việt.
1.2.3. Phạm trù thời trong mối quan hệ với thể và tình thái
Thời, thể có những đặc trưng cơ bản là phản ánh trực tiếp thuộc tính
của hoàn cảnh, sự vật như: thời điểm diễn ra hành động; hành động có
tính kéo dài hay không kéo dài, có bị hạn định hay không có hạn định bởi
thời gian hay một thuộc tính nào đó v.v… Do vậy, thời, thể biểu hiện tình
thái khách quan và có mối liên hệ gắn kết với nhau khi cùng liên quan
đến vấn đề biểu hiện thời gian trong từng ngôn ngữ.
Tình thái là phạm trù phổ quát cho mọi ngôn ngữ. Trong ngôn ngữ
học, người ta phân biệt cấu trúc nghĩa của phát ngôn thành hai phần cơ
bản là: dictum (biểu hiện nội dung sự tình, gắn với chức năng thông tin,
chức năng miêu tả của ngôn ngữ) và modus (tình thái) gắn với cách thức
biểu đạt sự tình của người nói.
Ngoài ra, xét về tính tiết kiệm, một trong những đặc thù cơ bản của
thời), chứ không phải là trong thế tam phân: “quá khứ/ hiện tại/ tương lai”
như cách hiểu trong nhiều ngôn ngữ khác. Nitta (2007) đã đưa ra một khái
niệm ngắn gọn nhưng bao hàm được cả những nội dung rộng hơn về thời
trong tiếng Nhật đó là: “Thời là phạm trù ngữ pháp của vị ngữ đặt sự việc
mà câu biểu hiện trên trục thời gian”. Theo Nitta, trong thành phần vị ngữ
không chỉ có động từ mà còn có cả tính từ và cấu trúc vị ngữ chứa danh từ.
Điều này hiện đã trở thành quan điểm chung thống nhất giữa các nhà
Nhật ngữ học. Như vậy, có thể nói, thời trong tiếng Nhật có phạm vi hoạt
động và diện biểu hiện rộng hơn so với phạm vi thời trong các ngôn ngữ
Ấn - Âu như tiếng Nga, tiếng Anh, tiếng Pháp v.v… vốn chỉ coi thời là
phạm trù ngữ pháp riêng của động từ.
1.3.2. Thời tuyệt đối và thời tương đối
1.3.2.1. Thời tuyệt đối
Thời tuyệt đối là thời lấy thời điểm phát ngôn làm tọa độ qui chiếu,
những sự việc xảy ra sau hay đồng thời với thời điểm phát ngôn thuộc vào
phân khúc “hiện tại hoặc tương lai”, những sự việc xảy ra trước thời điểm
phát ngôn thuộc vào phân khúc “quá khứ”.
Thời tuyệt đối bộc lộ rõ rệt nhất trong vị ngữ của câu đơn, hoặc trong
các mệnh đề đẳng lập của câu phức có các thành phần kết nối theo quan
hệ đẳng lập, hoặc là vị ngữ của mệnh đề đứng cuối trong câu phức có các
quan hệ phụ thuộc. Dạng “ru” về cơ bản miêu tả trạng thái, sự việc, hành
động, động tác của những sự tình ở thời phi quá khứ chỉ hiện tại và tương
lai nhưng cũng có những trường hợp chúng biểu hiện Siêu thời như miêu
tả những đặc trưng, tính chất mang tính vĩnh cửu; những qui tắc, chân lý
mang tính phổ biến hay những ghi chép nhật kí, thuyết minh, giải thích
v.v… Dạng “ta” miêu tả trạng thái, sự việc, động tác của sự tình ở thời
quá khứ.
1.3.2.2. Thời tương đối
Thời tương đối là thời không lấy thời điểm phát ngôn làm tọa độ qui
chiếu mà lấy thời điểm xảy ra của một sự tình nào đó hay chỉ đơn giản là
Kindaichi (1955) cho rằng, thể của động từ tiếng Nhật hiện đại là sự
đối lập về mặt hình thức ở “dạng vận động” và “dạng trạng thái” chứ
không phải là sự đối lập giữa “suru” và “shite i/ru”. Tuy nhiên, Okuda
(1977) lại thống nhất về mặt hình thái và ý nghĩa của dạng này và cho
rằng, “suru” là “thể hoàn thành”, biểu hiện một hành động, động tác được
xem như một chỉnh thể hoàn chỉnh không chia cắt, còn “shite i/ru” là “thể
chưa hoàn thành”, miêu tả động tác, hành động diễn ra liên tục được chia
thành các nhát cắt trong các giai đoạn phát triển của sự tình. Tương ứng
“thể hoàn thành” và “thể chưa hoàn thành”, có sự đối lập của thời quá khứ
và thời phi quá khứ. Teramura (1984) cho rằng “shita” được hiểu như là
một khối, điểm thể hiện tính thời, còn “shite i/ta” được hiểu theo bề rộng,
kéo dài thể hiện tính thể.
12
Tuy cùng chung một hình thức đuôi từ là “ru” hoặc “ta” nhưng trong
ngữ cảnh nào đó, nét nghĩa thuộc phạm trù thể hay thời sẽ được người
tham thoại chú trọng hơn và trở thành tiêu điểm của phát ngôn.
Luận án đặt trọng tâm nghiên cứu về thời trong tiếng Nhật nên tạm
thời sẽ tách khỏi những tiêu điểm về thể, tình thái và chỉ tập trung nhấn
mạnh vào các nội dung ngữ nghĩa liên quan đến thời.
1.4. Tiểu kết chƣơng 1
Trong chương này, chúng tôi đã phác thảo bức tranh chung về thời
với các quan điểm, khái niệm liên quan đến thời gian trong ngôn ngữ, đặc
biệt là những đặc trưng cơ bản nhất có liên quan đến thời trong tiếng Nhật.
Thời - thể - tình thái, mặc dù có sự phân bậc rõ ràng trong cấu trúc
chung của thành phần vị từ, nhưng nhiều trường hợp, ở dấu hiệu hình thái,
ngay trong cùng một vỏ ngữ âm của các vĩ tố “ru” và “ta”, chúng có thể
biểu thị đồng thời cả 3 chức năng thời, thể và tình thái. Đây cũng là một
trong những điểm khác biệt khá lớn giữa tiếng Nhật với các ngôn ngữ
Thời
Hình thái
biểu hiện
Động từ
Tính từ-i
Tính từ-na và danh từ
Phi quá khứ
ru
i
Quá khứ
ta
katta
da/de aru/desu
datta/de atta/deshita
Khảo sát nguồn ngữ liệu, chúng tôi thu được tỉ lệ biểu hiện thời trong
thành phần vị từ ở các từ loại như ở bảng 2.2:
Bảng 2.2: Tỉ lệ vị ngữ biểu hiện thời ở động từ, tính từ và hệ từ
Thứ tự
Từ loại
Số lƣợng Tỉ lệ (%)
1
Động từ
1025
và phân tích xem thời tuyệt đối và thời tương đối biểu hiện theo hình thái
như thế nào. Kết quả như ở bảng 2.3:
Bảng 2.3: Tỉ lệ thời tuyệt đối, thời tƣơng đối trong ngữ liệu
Thời
Số lƣợng biểu hiện
Tỉ lệ (%)
TĐ
Tđ
không có (T)
682
51,7
87
có (T)
không có (T)
có (T)
Tổng
463
115
56
1316
35,3
8,7
4,3
2.1.2.1.Biểu hiện của thời tương đối ở vị ngữ động từ
Chúng tôi thu được 128 động từ ở thời tương đối, chiếm tỉ lệ 9,7% . Ở
dạng Phi quá khứ sử dụng cấu trúc: {[thân từ] + vĩ tố “ta” }; ở dạng quá
khứ sử dụng cấu trúc: {[thân từ] + vĩ tố “ru”}.
2.1.2.2. Biểu hiện của thời tương đối ở vị ngữ tính từ và danh từ
Chúng tôi thu được 28 vị ngữ là tính từ-i ở thời tương đối, chiếm tỉ lệ
2,2 %. Ở dạng Phi quá khứ sử dụng cấu trúc: biến đổi đuôi “i” sang “ta”
là {[thân từ] + vĩ tố“katta”}; khi biểu hiện quá khứ sử dụng cấu trúc:
{[thân từ] + vĩ tố “i”}; 15 vị ngữ tính từ na và danh từ ở thời tương đối
(1,1%). Ở dạng Phi quá khứ sử dụng cấu trúc: {[thân từ] + hệ từ de at/de
shi/ dat + vĩ tố “ta”}; khi biểu hiện quá khứ sử dụng cấu trúc:{[thân từ]
+ hệ từ da/de aru/desu}.
2.2. Phân tích biểu hiện ngữ nghĩa của thời tiếng Nhật từ góc độ
tính chất của vị ngữ
15
Phần lớn các nhà nghiên cứu ngôn ngữ Nhật cho rằng thời trong tiếng
Nhật biểu hiện khác biệt ở hai loại vị ngữ là vị ngữ trạng thái và vị ngữ
hành động.
2.2.1. Biểu hiện ngữ nghĩa của thời trong vị ngữ trạng thái
Do yêu cầu biểu đạt của người phát ngôn, vị ngữ trạng thái có thể
xuất hiện ở trong bất cứ thành phần nào của câu, có thể ở cả mệnh đề
chính và mệnh đề phụ. Chúng có các nội dung ngữ nghĩa như: biểu đạt
những trạng thái thường xuyên, ổn định, Siêu thời gian; biểu đạt những
trạng thái nào đó
tại một thời điểm nhất định.
Ví dụ: 公園内に日本庭園風のデザインや植物の配置をすることは
[いやが外られ]たが、国人が利用する旅館やホテルなどにはいま
も 日本庭園は[欠かせな]い。Trong các công viên, mô hình bài trí
ngữ không có thành phần từ vựng chỉ xuất thời gian (T) hay phó từ chỉ
mức độ (Pht), chiếm tỉ lệ 60% và 522 vị ngữ có (T) hay (Pht) chiếm tỉ lệ
40 %, được mô tả như ở bảng 2.4.
Bảng 2.4: Vị ngữ biểu hiện thời trong câu đơn/ câu ghép không có (T)
và có (T)
Loại câu
Câu đơn
Câu ghép
Tổng Tỉ lệ
Biểu hiện
Thời TĐ
Thời Tđ
Thời TĐ
Thời Tđ
Không có
(T)
Có (T)
66
1
599
128
Qua khảo sát chúng tôi thu được 522 vị ngữ biểu hiện thời trong câu
có (T), chiếm tỉ lệ 40%. Trong đó có 31 vị ngữ biểu hiện thời trong câu
đơn và 491 vị ngữ biểu hiện thời trong câu ghép. Thời trong câu có (T)
cũng biểu hiện qua hình thái của vĩ từ như trong câu không có (T), có thể
mô tả hoạt động của chúng qua: Sự phối kết logic của (T) và thành phần
vị ngữ biểu hiện thời tuyệt đối; Sự lệch chuẩn trong kết hợp giữa (T) với
thành phần vị ngữ biểu đạt thời.
2.3.3. Biểu hiện ngữ nghĩa của thời trong cấu trúc câu có chứa phó từ
liên quan đến yếu tố thời gian
Trong tiếng Nhật, có một số phó từ chỉ tần suất (Pht) của sự tình, về
cơ bản, chúng thiên về biểu đạt ý nghĩa chỉ thể hoặc chỉ tần suất, trạng
thái của sự tình hơn là ý nghĩa chuyên biệt về thời gian nhưng cũng góp
phần tạo ra các vị từ chỉ thời gian như: 常に(thường xuyên), 時々 (thỉnh
thoảng), 一 般 的 に (nói chung, cơ bản là) 、 既 に (đã), ま だ (vẫn
chưa/chưa), もう (đã) v.v...
17
2.3.4. Mối liên hệ giữa (T) và (Pht) trong cấu trúc câu ghép
Quan sát ngữ liệu, chúng tôi thấy có sự phân biệt về thời giữa mệnh
đề phụ với nhau hoặc giữa mệnh đề chính và các mệnh đề phụ trong cùng
một phát ngôn, chứng tỏ luôn có sự độc lập của từng mệnh đề nhỏ với các
(T) hoặc (Pht) của chúng trong tổng thể phát ngôn.
Thông thường, mệnh đề chính đảm nhiệm vai trò ngữ pháp cho toàn
phát ngôn, đặt sự việc, sự vật trong mối quan hệ với các phát ngôn trước
và sau đó. Trong phát ngôn, có thể có (T)/(Pht) có quan hệ trực tiếp với vị
ngữ của mệnh đề chính, nhưng trong nhiều trường hợp, chúng chỉ có quan
hệ trực tiếp với mệnh đề phụ trong tổng thể phát ngôn.
2.3.4.1. Tính kết nối trong câu ghép đẳng lập
Khảo sát tư liệu chúng tôi thống kê được 156 câu có cấu trúc câu
đạt thời trong tiếng Nhật. Ở cấp độ câu, chúng tôi phân tách thành các
trường hợp câu đơn, câu ghép; đặc biệt chú trọng phân tích hoạt động của
thời trong câu ghép đa thành phần.
CHƢƠNG 3
PHÂN TÍCH BIỂU ĐẠT CỦA THỜI TIẾNG NHẬT QUA
ĐỐI CHIẾU VỚI CÁCH BIỂU ĐẠT THỜI GIAN TƢƠNG ỨNG
TRONG TIẾNG VIỆT TRÊN CỨ LIỆU DỊCH
NHẬT - VIỆT VÀ VIỆT - NHẬT
3.1. Phân tích biểu đạt thời tiếng Nhật qua các biểu đạt tƣơng ứng
trong tiếng Việt trên cứ liệu Nhật - Việt
3.1.1. Đối chiếu thời tuyệt đối tiếng Nhật với các biểu hiện tương đương
trong tiếng Việt trên cứ liệu dịch Nhật - Việt
Trong tổng số 1316 vị ngữ biểu hiện thời, luận án thu được 682 vị
ngữ biểu hiện thời tuyệt đối không có (T). Có thể thấy, các biểu hiện chỉ
dấu thời trong tiếng Nhật xuất hiện mang tính bắt buộc và có sự phân
định chức năng giữa “ru”, “ta”, “te i/ru”, “te i/ta” trong khi tiếng Việt do
không qui định sử dụng thời mang tính ngữ pháp như vậy mà chủ yếu
theo sự ngầm định về khung thời gian mà không cần phải thường xuyên
có mặt các yếu tố ngữ pháp; bởi vậy, phần lớn các biểu hiện thời trong
tiếng Nhật dịch sang tiếng Việt được đánh dấu là “”. Một số trường hợp
có các phó từ “đã”, “sẽ”, “đang”, “vẫn” xuất hiện, chiếm tỉ lệ thấp (15%)
và chủ yếu biểu đạt những mối quan hệ giữa các sự kiện trên trục thời
gian trong mối liên quan với các biểu đạt về tình thái và thể hơn là biểu
đạt thời một cách bắt buộc cho từng trường hợp hay trong tất cả các vị từ
như tiếng Nhật.
Luận án cũng thu được 463 vị ngữ biểu hiện thời tuyệt đối có thành
phần từ vụng chỉ xuất thời gian (T). Có thể thấy rằng khi dịch câu tiếng
Nhật có (T) sang tiếng Việt, ngoài biểu hiện từ vựng tương đương, sự
vắng mặt các phó từ (P) như “đã”, “sẽ”, “đang”... trong câu tiếng Việt
vẫn chiếm số lượng lớn. Tuy nhiên, nhiều trường hợp vẫn không thể thiếu
của người Việt là không sử dụng các yếu tố ngữ pháp chuyên biệt chỉ thời
như một yêu cầu ngữ pháp bắt buộc.
3.2.2. Xem xét các phát ngôn có chứa các yếu tố ngữ pháp biểu hiện thời
gian (P) được dịch sang tiếng Nhật
Theo Trần Thị Chung Toàn (2016), các yếu tố chỉ thời gian (P), dù
không phải là yếu tố chuyên biệt về mặt ngữ pháp để thể hiện thời, nhưng
chúng có vai trò bổ sung cho người tham thoại nhận diện thêm góc độ
thời gian trong một số phát ngôn.
Qua các ví dụ khảo sát, chúng tôi hệ thống các phó từ “đã”, “vẫn”,
“đang”, “sắp/sẽ” trong tiếng Việt được dịch sang các cấu trúc tiếng Nhật
như ở các bảng sau:
Bảng 3.5: Biểu hiện đối ứng giữa “đã” với cấu trúc tiếng Nhật
Trường hợp Tiếng Việt
“đã” 1
Dịch sang tiếng Nhật
“ta”
“đã” 2
“te i/ru”
Biểu hiện
thời Quá khứ tuyệt
đối, thể hoàn thành
và tình thái trong câu
- thời Phi quá khứ
tuyệt đối, thể hoàn
thành và tình thái
thời Quá khứ tuyệt
đối, thể tiếp diễn,
Bảng 3.7: Biểu hiện đối ứng giữa “đang” với cấu trúc tiếng Nhật
Trƣờng hợp Tiếng Việt
“đang” 1 (Mđc)
Dịch sang tiếng Nhật
“te i/ta”
“đang” 2 (Mđp)
“te i/ru”
Biểu hiện
thời Quá khứ tuyệt
đối, thể tiếp diễn
thể tiếp diễn, thời
tương đối
Bảng 3.8 Biểu hiện đối ứng giữa “sẽ, sắp” với cấu trúc tiếng Nhật
Trường hợp Tiếng Việt
“sẽ” 1 (câu trực tiếp)
Dịch sang tiếng Nhật
“ru”
“sẽ” 2 (câu kể)
đạt bằng các yếu tố ngữ pháp chuyên dụng tương đương; các yếu tố “đã”
“đang” “sẽ”... không nhất thiết phải được huy động như các yếu tố hình
thái “ru” hay “ta” của tiếng Nhật; chúng chỉ được huy động khi trong câu
tiếng Nhật có thêm sự nhấn mạnh về nghĩa tình thái hoặc thể.
Trên cứ liệu dịch Việt - Nhật, với những phát ngôn có chứa (P) trong
tiếng Việt, có thể thấy “sắp”, “sẽ” có sự tương ứng về hình thái vĩ từ là
„ru” hơn các yếu tố khác, biểu đạt thời. Bên cạnh đó, so với “đang” thì
“đã” dường như có sức nặng về biểu đạt thời hơn khi phần lớn các
phương án dịch đều hướng về dạng biểu đạt “ta” hoặc “te i/ta”; so với
“vẫn” thì “đang” được tiếp nhận ở nghĩa là thời chỉ hiện tại hơn là nghĩa
tình thái mặc dù chúng đều được dịch sang hình thái đuôi từ là “te i/ru”
hoặc “te i/ta”. Về cơ bản có sự đối ứng khá lớn giữa các (P) trong tiếng
Việt với các biểu hiện hình thái đuôi từ “ta” và “ru” trong tiếng Nhật, tuy
nhiên, khó có thể đưa ra một sự đối ứng hoàn toàn một - một giữa chúng
vì cơ bản, hoạt động của phạm trù thời trong tiếng Nhật thiên về bình diện
ngữ pháp trong khi tiếng Việt lại thiên về bình diện Từ vựng- ngữ pháp.
CHƢƠNG 4
KHẢO SÁT CÁCH NẮM BẮT VÀ SỬ DỤNG THỜI
TRONG TIẾNG NHẬT CỦA SINH VIÊN VIỆT NAM - ĐỀ XUẤT
LƢU Ý TRONG DẠY VÀ HỌC CÓ LIÊN QUAN ĐẾN THỜI
4.1. Xem xét cách nắm bắt và sử dụng thời tiếng Nhật qua khảo sát
văn bản dịch của sinh viên
Luận án đã tiến hành khảo sát về cách dịch thời trong tiếng Nhật với
đối tượng là sinh viên năm thứ 4 của khoa tiếng Nhật, Trường Đại học Hà
Nội. Đây là khối sinh viên có chương trình học và khối lượng kiến thức
tương đương với sinh viên các Trường Đại Học có đào tạo cử nhân tiếng
Nhật ở Việt Nam.
4.1.1. Khảo sát lần thứ nhất
Tháng 9.2015, chúng tôi đã tiến hành khảo sát 120 sinh viên đang học
học kỳ 1, năm thứ 4 của khoa tiếng Nhật, Trường Đại học Hà Nội.
Thị Hảo.
4.1.4. Phân tích kết quả khảo sát lần thứ hai
Ngoài những biểu hiện từ vựng chỉ thời gian tương ứng thì tỉ lệ sinh
viên chú ý dịch biểu đạt thời trong tiếng Nhật sang tiếng Việt là 49,5% và
tỉ lệ dịch tiếng Việt sang tiếng Nhật có chú ý sử dụng đúng thời là 45%.
Do chưa nắm vững cách sử dụng thời tuyệt đối và thời tương đối nên
nhiều sinh viên còn sử dụng lẫn lộn dẫn tới kết quả chung vẫn chưa đạt
50%. Bên cạnh đó, sinh viên có khuynh hướng dịch các biểu hiện thời
trong tiếng Nhật sang tiếng Việt chủ yếu là “”, còn hạn chế huy động
các phó từ chỉ thời gian trong tiếng Việt. Điều này cho thấy, người Việt,
dù đã học lí thuyết tiếng về thời trong tiếng Nhật, được nhắc nhở về ý
thức sử dụng thời song ảnh hưởng tư duy, ngôn ngữ của tiếng mẹ đẻ vẫn
còn khá lớn.
4.2. Đề xuất một số lƣu ý trong dạy - học có liên quan đến thời
Từ thực tiễn giảng dạy cũng như qua kết quả khảo sát cách hiểu và sử
23
dụng thời của người học, có thể thấy rằng thời là một phạm trù ngữ pháp
quan trọng trong tiếng Nhật song chưa thực sự được quan tâm, chú ý đưa
vào dạy và học tiếng Nhật ở Việt Nam một cách bài bản, hệ thống.
Trong dạy và học, có thể lưu ý đến chuỗi kết hợp các yếu tố như: Yếu
tố nhận thức; Yếu tố luyện tập; Yếu tố tự xác nhận mô hình biểu đạt của
câu; Thực hành tổng hợp.
4.3. Tiểu kết chƣơng 4
Trong chương này, từ kết quả khảo sát sinh viên học tiếng Nhật tại
Trường Đại học Hà Nội về cách hiểu và dịch thời trong tiếng Nhật, chúng
tôi nhận thấy phần lớn sinh viên vẫn chưa nắm vững đặc thù biểu đạt thời
trong tiếng Nhật do chưa có thời gian rèn luyện đầy đủ cũng như vấn đề
thời, thể chưa được chú trọng trong quá trình giảng dạy tiếng Nhật cho