Hợp đồng đầu tư theo hình thức đối tác công tư và thực tiễn trong lĩnh vực xây dựng công trình kết cấu hạ tầng giao thông vận tải ở việt nam (luận văn thạc sĩ luật học) - Pdf 51

MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ......................................................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài .......................................................................... 1
2. Tình hình nghiên cứu đề tài ............................................................................................... 2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ..................................................................................... 3
4. Phương pháp nghiên cứu ................................................................................................... 3
5. Mục tiêu và nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài ............................................................. 4
6. Đóng góp mới của luận văn ............................................................................................... 5
7. Kết cấu của luận văn .......................................................................................................... 5
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG ĐẦU TƯ THEO HÌNH THỨC
ĐỐI TÁC CÔNG TƯ VÀ PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG ĐẦU TƯ THEO HÌNH THỨC ĐỐI
TÁC CÔNG TƯ .......................................................................................................................... 6
1.1.Một số vấn đề lý luận về hợp đồng đầu tư theo hình thức đối tác công tư ........................ 6
1.2.Pháp luật về hợp đồng đầu tư theo hình thức đối tác công tư.......................................... 20
Kết luận Chương 1 ................................................................................................................. 30
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ HỢP ĐỒNG ĐẦU TƯ THEO
HÌNH THỨC ĐỐI TÁC CÔNG TƯ ......................................................................................... 32
2.1.Quy định về các loại hợp đồng đầu tư theo hình thức đối tác công tư ............................ 32
2.2.Quy định về chủ thể có thẩm quyền ký kết và thực hiện hợp đồng đầu tư theo hình thức
đối tác công tư ....................................................................................................................... 35
2.3.Quy định về lĩnh vực đầu tư, phân loại dự án đầu tư và nguồn vốn thực hiện dự án ...... 40
2.4.Quy định về lựa chọn nhà đầu tư thực hiện đàm phán, ký kết hợp đồng đầu tư theo hình
thức đối tác công tư ............................................................................................................... 46
2.5.Quy định về triển khai thực hiện hợp đồng đầu tư theo hình thức đối tác công tư ......... 50
2.6.Quy định về ưu đãi và đảm bảo đầu tư đối với nhà đầu tư và doanh nghiệp dự án......... 57
Kết luận Chương 2 ................................................................................................................. 60
Chương 3: THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG ĐẦU TƯ THEO HÌNH
THỨC ĐỐI TÁC CÔNG TƯ TRONG LĨNH VỰC XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH KẾT CẤU
HẠ TẦNG GIAO THÔNG VẬN TẢI Ở VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ ................. 61
3.1.Thực tiễn áp dụng pháp luật về hợp đồng đầu tư theo hình thức đối tác công tư trong lĩnh
vực xây dựng công trình kết cấu hạ tầng giao thông vận tải ở Việt Nam.............................. 61

Ở Việt Nam, đầu tư theo mô hình PPP đã được triển khai ở một số dự
án giao thông bằng hình thức BOT, BTO, BT nhưng để áp dụng có hiệu quả
mô hình này thì cần phải đánh giá được những ưu, nhược điểm của nó để các
nhà hoạch định chính sách có sự điều chỉnh pháp luật phù hợp với thực tiễn
và đảm bảo quản lý của nhà nước, đồng thời tạo tiền đề để phát triển cơ sở
hạ tầng giao thông góp phần vào sự phát triển kinh tế quốc gia. Xuất phát từ
lý do này và nhu cầu cần thiết của việc phát triển cơ sở giao thông vận tải ở
nước ta hiện nay, tác giả chọn đề tài “Hợp đồng đầu tư theo hình thức đối
tác công tư và thực tiễn trong lĩnh vực xây dựng công trình kết cấu hạ tầng


2

giao thông vận tải ở Việt Nam” làm nội dung nghiên cứu trong luận văn thạc
sỹ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trên thế giới có rất nhiều công trình nghiên cứu về mô hình đầu tư
PPP. Ở Việt Nam, hình thức hợp tác công tư đang ngày càng được sự quan
tâm của các nhà đầu tư tư nhân bởi những lợi ích cũng như hiệu quả mà mô
hình đầu tư PPP mang lại. Những nghiên cứu về PPP tiêu biểu trong thời gian
gần đây đã phần nào giải đáp những kiến thức cần thiết về PPP và thực tiễn
của mô hình PPP trên thế giới, trong đó phải kể đến các công trình nghiên cứu
của các tác giả:
Luận án Tiến sỹ kinh tế của Huỳnh Thị Thúy Giang (2012) về
“Hình thức hợp tác công tư - (Public private partnership) để phát triển cơ sở
hạ tầng giao thông đường bộ Việt Nam”. Trong nghiên cứu này, tác giả đã
nghiên cứu cách thức PPP hoạt động tại những quốc gia chưa tồn tại thị
trường PPP như Việt Nam để thu hút vốn đầu tư phát triển đường bộ thông
qua việc nghiên cứu các mô hình thực nghiệm trên thế giới để từ đó tìm hiểu
cách thức vận hành và các nhân tố thành công hoặc các rào cản trong lĩnh vực

đường bộ.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các vấn đề pháp lý về hợp đồng
PPP như về bản chất, đặc điểm, các hình thức về hợp đồng của loại hình đầu
tư này trong lĩnh vực xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông vận tải đường bộ ở
Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu: Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài sẽ tập trung
làm rõ các vấn đề pháp lý hiện hành về hợp đồng PPP và thực tiễn khi áp
dụng ở Việt Nam trong lĩnh vực xây dựng giao thông đường bộ để từ đó tìm
ra những ưu điểm, hạn chế của hình thức này khi áp dụng trong thực tiễn và
có những khuyến nghị nhằm hoàn thiện hành lang pháp lý tạo điều kiện cho
mô hình đầu tư dưới hình thức hợp đồng PPP được áp dụng thuận lợi hơn ở
Việt Nam trong thời gian tới, nhất là trong lĩnh vực đầu tư xây dựng các dự án
giao thông đường bộ.
4. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp định tính: Trên cơ sở kế thừa và vận dụng có chọn lọc các
kết quả nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm trên thế giới nhằm xác định các


4

nhân tố và sự khác biệt về mức độ ảnh hưởng của các nhân tố này đến sự
thành công của PPP ngành đường bộ ở các quốc gia phát triển và đang phát
triển. Mục đích của phương pháp nghiên cứu này nhằm tìm hiểu cách thức
vận hành và các hình thức của hợp đồng đầu tư công - tư PPP trong lĩnh vực
xây dựng giao thông đường bộ ở các quốc gia trên thế giới để từ đó lựa chọn
phương pháp tiếp cận phù hợp cho Việt Nam khi áp dụng mô hình này.
Phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh được sử dụng để đánh giá
tình hình đầu tư tư nhân trong lĩnh vực đường bộ để cân nhắc việc áp dụng
PPP trong lĩnh vực xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ tại Việt Nam.

thiết. Sự tương tác này phải hướng đến dung hòa lợi ích của các bên cũng như
tạo ra chất lượng của các công trình giao thông vận tải nói chung và giao
thông đường bộ nói riêng ở Việt Nam.
- Hai là, từ kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới về hợp đồng PPP
để rút ra phương thức áp dụng cho Việt Nam khi áp dụng mô hình này cần
phải đạt được các yếu tố: (i) Lợi nhuận đầu tư; (ii) Khung pháp lý đầy đủ và
minh bạch; (iii) Chia sẻ rủi ro phù hợp giữa nhà nước và tư nhân; (iv) Kinh tế
vĩ mô ổn định; (v) Đối tác tin cậy để từ đó tạo tiền đề thu hút nguồn vốn đầu
tư tư nhân thông qua PPP để phát triển giao thông đường bộ ở Việt Nam như:
xây dựng bộ tiêu chuẩn để lựa chọn các dạng hợp đồng PPP cho từng điều
kiện cụ thể (quy mô, tài chính, đặc điểm dự án, lợi ích kinh tế, lợi ích xã
hội…), cung cấp hành lang pháp lý, cơ chế phân bổ rủi ro và một số giải pháp
hỗ trợ các dự án PPP đường bộ thành công.
7. Kết cấu của luận văn
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về hợp đồng đầu tư theo hình thức đối tác
công tư và pháp luật về hợp đồng đầu tư theo hình thức đối tác công tư
Chương 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam về hợp đồng đầu tư theo hình thức
đối tác công tư
Chương 3: Thực tiễn áp dụng pháp luật về hợp đồng đầu tư theo hình thức
đối tác công tư trong lĩnh vực xây dựng công trình kết cấu hạ tầng giao thông
vận tải ở Việt Nam và một số kiến nghị.


6

Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG ĐẦU TƯ THEO
HÌNH THỨC ĐỐI TÁC CÔNG TƯ VÀ PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG
ĐẦU TƯ THEO HÌNH THỨC ĐỐI TÁC CÔNG TƯ
1.1.

Tài chính Vĩ mô, số 03 (128) – 2014, tr.7.


7

Mục đích cao nhất của hợp tác công tư là nhắm tới sự sẵn có của nguồn lực,
chất lượng, tính hiệu quả trong cung cấp dịch vụ và việc sử dụng hiệu quả,
hợp lý các nguồn vốn”.3
- Theo Word Bank thì: “PPP việc chuyển giao cho khu vực tư nhân các
dự án đầu tư mà theo truyền thống thì đó là các dự án phải do Nhà nước đầu
tư vận hành”4.
Khác với ADB, ủy ban Châu Âu không đưa ra một định nghĩa cụ thể về
thuật ngữ hợp tác công tư mà sử dụng các đặc trưng tổng quan về định nghĩa
các dự án hợp tác công tư. Theo đó, hợp tác công tư được hiểu là:
- Các mối quan hệ tương đối lâu dài giữa đối tác nhà nước và đối tác tư
nhân trên tất cả các khía cạnh của một dự án đã được lập kế hoạch từ trước.
- Cơ cấu vốn là sự liên kết các nguồn vốn của khu vực nhà nước và
khu vực tư nhân.
- Tổ chức chịu trách nhiệm vận hành tức khu vực tư nhân đóng vai trò
quan trọng trong từng giai đoạn cụ thể của dự án.
- Có sự phân chia rủi ro giữa hai bên đối tác là khu vực nhà nước và khu
vực tư nhân.
Ngoài ra, một số quốc gia, tổ chức cũng đưa ra định nghĩa như sau:
- Hội đồng hợp tác giữa nhà nước - tư nhân Canada, Hội đồng quốc gia
về PPP của Mỹ đưa ra định nghĩa: “PPP là một liên doanh hợp tác giữa khu
vực công và tư, dựa trên lợi thế của mỗi bên nhằm xác định nhu cầu của cộng
đồng thông qua sự phân bố hợp lý các nguồn lực, rủi ro và lợi ích”.5
3

Nguồn ADB (2008) trích dẫn trong tài liệu: “Bùi Viết Sang (2012), Kinh nghiệm hợp tác

hình thức hợp tác này, theo đó có hiểu khái quát: “PPP là một hình thức hợp
tác trên cơ sở hợp đồng giữa hai chủ thể là Nhà nước (các bộ, ngành,
cơ quan địa phương, doanh nghiệp nhà nước và nhà đầu tư tư nhân trong
nước hoặc ngoài nước để chia sẻ lợi ích, rủi ro trong việc thực hiện một dự
án đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội và cung cấp dịch vụ công
trong các lĩnh vực khác như y tế, giáo dục, giao thông, điện….”
Như vậy, hợp đồng đầu tư theo hình thức đối tác công tư là cơ sở
pháp lý của mô hình PPP. Khoản 8 Điều 3 Luật Đầu tư năm 2014 định nghĩa
về hợp đồng này như sau: “Hợp đồng đầu tư theo hình thức đối tác công tư
(sau đây gọi là hợp đồng PPP) là hợp đồng được ký kết giữa cơ quan nhà
nước có thẩm quyền và nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án để thực hiện dự án
đầu tư theo quy định tại Điều 27 của Luật Đầu tư năm 2014”.
Từ khái niệm về mô hình PPP và định nghĩa về hợp đồng PPP quy định
như trên thì có thể hiểu: “Hợp đồng đầu tư theo hình thức đối tác công tư là
6

Bùi Viết Sang, tlđd chú thích 3, tr.6.”

7

Nghị định 15/2015/NĐ-CP ngày 14/2/2015 của Chính phủ về đầu tư theo hình thức đối

tác công tư.


9

sự thỏa thuận bằng văn bản giữa cơ quan nhà nước và nhà đầu tư tư nhân để
cùng thực hiện một dự án xây dựng cơ sở hạ tầng đồng thời xác định cụ thể
quyền, nghĩa vụ cũng như sự phân chia rủi ro của các bên khi tham gia thực


kết theo hợp đồng dự án.
- Nhà đầu tư là chủ thể của hợp đồng PPP bao gồm các tổ chức, cá nhân
thực hiện hoạt động đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư và pháp luật
có liên quan (Khoản 8 Điều 3 Nghị định 15/2015/NĐ-CP của Chính phủ ngày
14 tháng 02 năm 2015 về đầu tư theo hình thức đối tác công tư). Như vậy,
theo quy định của pháp luật luật hiện hành, mọi nhà đầu tư, không phân biệt
là nhà đầu tư trong nước hay nhà đầu tư nước ngoài đều có thể tham gia đấu
thầu dự án và nếu trúng thầu, sẽ được tham gia đàm phán, ký kết hợp đồng dự
án với cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
* Về đối tượng của hợp đồng PPP:
Không giống như hợp đồng hợp tác kinh doanh, các hợp đồng PPP nói
chung đều có đối tượng là các công trình kết cấu hạ tầng hoặc cung cấp dịch
vụ công. Theo quy định tại Điều 27 Luật Đầu tư năm 2014, Nhà đầu tư,
doanh nghiệp dự án ký kết hợp đồng PPP với cơ quan nhà nước có thẩm
quyền để thực hiện dự án đầu tư xây dựng mới hoặc cải tạo, nâng cấp,
mở rộng, quản lý và vận hành công trình kết cấu hạ tầng hoặc cung cấp
dịch vụ công.
Điều 4 Nghị định 15/2015/NĐ-CP đã quy định cụ thể đối tượng của hợp
đồng PPP bao gồm:
- Công trình kết cấu hạ tầng giao thông vận tải và các dịch vụ có
liên quan;
- Hệ thống chiếu sáng; hệ thống cung cấp nước sạch; hệ thống thoát
nước; hệ thống thu gom, xử lý nước thải, chất thải; nhà ở xã hội; nhà ở tái
định cư; nghĩa trang;
- Nhà máy điện, đường dây tải điện;
- Công trình kết cấu hạ tầng y tế, giáo dục, đào tạo, dạy nghề, văn hóa,
thể thao và các dịch vụ liên quan; trụ sở làm việc của cơ quan nhà nước;



quan nhà nước có thẩm quyền và được quyền cung cấp dịch vụ trên cơ sở vận


12

hành, khai thác công trình đó trong một thời hạn nhất định; cơ quan nhà nước
có thẩm quyền thuê dịch vụ và thanh toán cho nhà đầu tư theo các điều kiện
nhất định.
* Mục đích của các bên khi ký kết hợp đồng PPP:
Như trên đã phân tích, đối tượng của Hợp đồng PPP là các công trình
kết cấu hạ tầng hoặc cung cấp dịch vụ công vốn dĩ do nhà nước phải đảm
nhận trực tiếp đầu tư và nhà nước tham gia hợp đồng dự án nhằm đưa ra
những bảo đảm cho nhà đầu tư, đồng thời theo dõi, quản lý các hoạt động
đầu tư và các cam kết của nhà đầu tư đối với việc phát triển cơ sở hạ tầng.
Mục đích của nhà nước khi tham gia Hợp đồng PPP là nhằm đạt được
những mục tiêu kinh tế - xã hội, một chức năng quản lý của nhà nước.
Trong khi đó Nhà đầu tư tham gia Hợp đồng PPP không nhằm mục
đích nào khác ngoài kinh doanh kiếm lời. Họ không quan tâm đến các yếu tố
công của Hợp đồng PPP, mà chỉ đơn thuần tiến hành hoạt động kinh doanh
như tất cả các công việc kinh doanh khác. Theo đó, giống như các hợp đồng
thông thường khác, Hợp đồng PPP là sự thể hiện ý chí, tự do, tự nguyện của
nhà đầu tư. Chính hạt nhân kinh doanh này đã quyết định và chi phối yếu tố
tư của Hợp đồng PPP, xác định tính chất bình đẳng về địa vị pháp lý của các
chủ thể Hợp đồng PPP.
Đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng trong Hợp đồng PPP
được thực hiện trực tiếp bởi khu vực tư nhân, nên khi nói về hợp đồng này
người ta thường nghĩ về yếu tố “tư” nhiều hơn là yếu tố “công”. Tuy nhiên
thực tế cho thấy, vai trò điều tiết, chỉ đạo và hỗ trợ của nhà nước là không thể
thiếu, đôi khi quyết định sự thành công hay thất bại của việc thực hiện
Hợp đồng PPP.

nước có thẩm quyền là người cung cấp chính các dịch vụ cơ sở hạ tầng và chỉ
thuê các đối tác tư nhân điều hành một phần hoạt động. Đối tác tư nhân phải
thực hiện dịch vụ với một mức chi phí được thỏa thuận và thường được đáp
ứng các tiêu chuẩn hoạt động do cơ quan nhà nước đặt ra. Trong các hợp
đồng dịch vụ, Chính phủ phải trả đối tác tư nhân một khoản phí định trước
cho dịch vụ, có thể dựa trên cơ sở chi phí một lần, trên cơ sở chi phí đơn vị
dịch vụ hoặc dựa trên các cơ sở khác. Vì thế, lợi nhuận của nhà thầu sẽ tăng
lên nếu nhà thầu có thể giảm được chi phí điều hành mà vẫn đáp ứng được
các yêu cầu tiêu chuẩn dịch vụ. Hợp đồng dịch vụ thông thường thích hợp


14

nhất khi dịch vụ có thể xác định rõ ràng trong hợp đồng, mức độ nhu cầu
tương đối chắc chắn và việc thực hiện có thể theo dõi một cách dễ dàng.
Các hợp đồng dịch vụ là một lựa chọn có độ rủi ro tương đối thấp trong
việc mở rộng vai trò của khu vực tư nhân và có tác động nhanh đối với hoạt
động và tính hiệu quả của hệ thống, đây là một phương thức để chuyển giao
công nghệ và phát triển năng lực quản lý. Các hợp đồng dịch vụ thường có
thời gian ngắn, tạo điều kiện cho cạnh tranh liên tục trong nhiều lĩnh vực. Các
rào cản đối với việc tham gia cũng ở mức thấp căn cứ trên việc chỉ có một
hoạt động dịch vụ riêng biệt được đưa ra đấu thầu. Bên cạnh đó, việc đấu thầu
lặp đi lặp lại duy trì áp lực đối với các nhà đấu thầu phải duy trì chi phí thấp,
trong khi các rào cản ở mức thấp khuyến khích nhiều công ty tham gia cạnh
tranh với nhau. Tuy nhiên, loại hợp đồng nay thường ít rủi ro và thường được
áp dụng để đáp ứng nhu cầu hàng hóa nhà nước.
1.1.2.2. Hợp đồng quản lý
Đây là hình thức hợp đồng giữa cơ quan nhà nước (khu vực công) với
đối tác tư nhân, trong đó thỏa thuận cho khu vực tư nhân được quản lý một
tiện ích hay dịch vụ công. Đặc điểm của hình thức này:

thống và chịu trách nhiệm thu xếp vốn cho các khoản đầu tư đó từ nguồn lực
tài chính của mình và từ các khoản phí do người sử dụng hệ thống chi trả.
- Nhượng quyền khai thác: Là hình thức PPP trong đó cơ quan nhà
nước nhượng lại quyền vận hành khai thác và cung cấp dịch vụ công cho đối
tác tư nhân dựa trên các tài sản/tiện ích/cơ sở hạ tầng sẵn có, thuộc quyền sở
hữu của khu vực nhà nước. Đối với hình thức này thì đối tác tư nhân được
phép thu phí từ người sử dụng dịch vụ và trả một khoản phí cho cơ quan nhà
nước theo tỷ lệ trên một đơn vị dịch vụ bán ra, đồng thời được phép giữ lại
một phần doanh thu từ việc cung cấp dịch vụ công.
- Nhượng quyền cho thuê: Với hình thức này, cơ quan nhà nước cho đối
tác tư nhân thuê tài sản/tiện ích/cơ sở hạ tầng sẵn có thuộc sở hữu của cơ quan
nhà nước để thực hiện khai thác, vận hành và cung cấp các dịch vụ công.
Theo đó, đối tác tư nhân phải thanh toán tiền thuê cho cơ quan nhà nước một
khoản cố định, không phụ thuộc vào khả năng thu phí từ người sử dụng và đối
tác tư nhân chịu hoàn toàn rủi ro kinh doanh.


16

Nhượng quyền là một hình thức hiệu quả để thu hút nguồn tài chính
cần thiết của khu vực tư nhân để tài trợ cho việc xây dựng mới hoặc tu bổ các
cơ sở dịch vụ hiện tại. Hợp đồng về nhượng quyền (khai thác, cho thuê) có
đặc điểm:
- Đối tác tư nhân được nhượng quyền chịu trách nhiệm cung cấp toàn bộ
dịch vụ trong một khu vực cụ thể, bao gồm việc điều hành, bảo dưỡng, thu
phí và quản lý hệ thống, đồng thời đảm bảo thực hiện các nghĩa vụ liên quan
đến chất lượng và tiêu chuẩn của dịch vụ. Bên cạnh đó, khu vực nhà nước
chịu trách nhiệm thiết lập các tiêu chuẩn chất lượng dịch vụ và tiêu chuẩn
hoạt động, đồng thời đảm bảo lựa chọn đối tác tư nhân được nhượng quyền
đáp ứng được các tiêu chuẩn hoạt động đó.

phí đầu tư thông qua việc thu phí của người sử dụng. Bên cạnh đó, khu vực
nhà nước đồng ý mua một tỷ lệ tối thiểu sản lượng mà cơ sở dịch vụ tạo ra, đủ
để nhà điều hành tư nhân thu hồi được chi phí trong quá trình hoạt động.
1.1.3. Vai trò của đầu tư theo hợp đồng PPP
Với việc tận dụng được những lợi thế của hai đối tác Nhà nước và tư
nhân, đầu tư theo hợp đồng PPP thể hiện vai trò rất to lớn trong việc mang lại lợi
ích cho cả Nhà nước, khu vực tư nhân và người dân sử dụng dịch vụ - sản phẩm.
* Vai trò của đầu tư theo hợp đồng PPP đối với Nhà nước
- Tạo điều kiện tốt để Nhà nước xây dựng cơ sở hạ tầng
Đi cùng với xây dựng kiến trúc thượng tầng là xây dựng cơ sở hạ tầng
phù hợp, đảm bảo cung ứng công cộng đầy đủ, cải thiện chất lượng cuộc sống
của người dân, đây là cam kết và là nhiệm vụ của bất kỳ nhà nước nào. Tuy
nhiên, việc duy trì phương thức đầu tư truyền thống là Nhà nước sử dụng
ngân sách, tự thiết kế, xây dựng và quản lý các công trình công cộng sẽ gây ra
sự lãng phí lớn và chắc chắn không hiệu quả, do những lối mòn trong tư duy
xây dựng và quản lý, chưa kể những hậu quả nghiêm trọng khác như tham
nhũng, nợ công tăng cao… Nếu áp dụng các hình thức đối tác công tư mà phổ
biến nhất là đầu tư theo hợp đồng BOT, BTO, BT, BOO, BLT, BTL… trong
xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng công cộng, Nhà nước sẽ không chỉ
giảm áp lực về Ngân sách đầu tư ban đầu, mà còn tận dụng được những lợi
thế từ khu vực tư nhân, từ quá trình nghiên cứu thiết kế cho đến quá trình khai
thác quản lý công trình. Hơn nữa, Nhà nước không trực tiếp tham gia xây dựng


18

mà chỉ tham gia giám sát và quản lý sẽ giúp Nhà nước tiết kiệm thời gian, do
đó cùng lúc có thể xây dựng nhiều công trình công cộng khác nhau, đồng thời
đảm bảo tính đồng bộ trong quy hoạch, kiến trúc.
- Phân bổ và quản lý rủi ro tốt hơn cho các bên tham gia ký kết

* Vai trò của đầu tư theo hợp đồng PPP đối với đối tác tư nhân
- Tạo cơ hội phát triển dài hạn cho khu vực tư nhân
Do bản chất các hợp đồng PPP là hợp đồng dài hạn nên khi tham gia ký
kết, các nhà đầu tư tư nhân bị ràng buộc thực hiện các cam kết trong một thời
gian tương đối dài, đổi lại sẽ được thanh toán dựa trên hiệu suất thi công. Vì
vậy, hình thức đầu tư theo hợp đồng PPP sẽ tạo cơ hội đầu tư dài hạn và
an toàn cho nhà đầu tư tư nhân. Tính an toàn được thể hiện trong các cam kết
của Nhà nước khi giao kết hợp đồng PPP: cam kết về thanh toán, bồi thường,
ưu đãi đầu tư, cung cấp đầy đủ các dịch vụ công cộng có liên quan như điện,
nước…Việc ký kết các hợp đồng đầu tư theo hợp đồng PPP sẽ góp phần tạo
sự tăng trưởng ổn định cho khu vực tư nhân, góp phần phát triển địa phương
thông qua cơ hội việc làm cho lao động, tận dụng các lợi thế tài nguyên
sẵn có.
- Tăng tính cạnh tranh và năng động cho khu vực tư nhân
Vì thời gian kéo dài và tiềm ẩn nhiều rủi ro, nên Nhà nước thường lựa
chọn ký kết hợp đồng với các nhà đầu tư tư nhân có kinh nghiệm và đặc biệt
khi họ chứng minh được năng lực tài chính, chuyên môn vững mạnh. Các nhà
đầu tư sẽ phải cạnh tranh thông qua đấu thầu trước khi giao kết hợp đồng
PPP. Đây sẽ là động lực để các nhà đầu tư trau dồi thêm kinh nghiệm, tăng
cường năng lượng cạnh tranh.
Hơn nữa, sau khi đã ký kết hợp đồng PPP, nhà đầu tư tư nhân còn liên
kết với nhiều chủ thể khác như các tổ chức tài chính, các nhà thầu phụ, công
ty bảo hiểm…để thực hiện hợp đồng. Quá trình này sẽ giúp họ không chỉ mở
rộng các quan hệ hợp tác trong dài hạn, mà còn giúp họ tạo tự tạo các kênh
phân bổ rủi ro cho chính mình.


20

1.2.

dự án đầu tư, vốn thực hiện dự án, ưu đãi đầu tư sẽ có sự khác nhau. Từ đó,
khi một dự án được hình thành thì lựa chọn hình thức đầu tư theo mô hình nào


21

sẽ được Nhà nước quyết định để từ đó tạo cơ hội cho các nhà đầu tư tư nhân
có tiềm năng sẽ tham gia phát triển dự án đó.
- Đối với các quy định về chủ thể của hợp đồng PPP thì hai chủ thể đặc
trưng và phổ biến là đối tác công và đối tác tư nhân. Các quy định của
pháp luật về hợp đồng PPP đều ghi nhận rõ ràng về chủ thể của từng hình
thức hợp đồng trong đó, đối tác tư nhân có thể là cá nhân, tổ chức trong nước
hoặc nước ngoài đáp ứng được các điều kiện quy định phù hợp đối với từng
dự án; còn chủ thể là đối tác công bao gồm các Bộ, ngành, cơ quan địa
phương có thẩm quyền tham gia vào quá trình phát triển cơ sở hạ tầng và
tham gia vào các dự án theo quy định.
- Các quy định về lĩnh vực đầu tư, phân loại dự án và nguồn vốn thực
hiện dự án: đối với hợp đồng PPP thì lĩnh vực đầu tư chủ yếu là xây dựng và
phát triển cơ sở hạ tầng, dịch vụ công như cầu, đường, sân bay, cảng biển, hệ
thống cung cấp nước sạch, nhà máy điện; bệnh viện, hệ thống xử lý chất thải.
Bên cạnh đó, trên cơ sở lĩnh vực đầu tư, pháp luật về hợp đồng PPP thường
phân loại dự án theo các nhóm tương ứng với quy định tổng mức vốn đầu tư
để từ đó có những quy định cụ thể về nguồn vốn thực hiện dự án và cơ chế
góp vốn, quản lý khi thực hiện dự án.
- Các quy định về ưu đãi và bảo đảm đầu tư: Mục đích của hợp đồng
PPP là thu hút nguồn vốn từ phía tư nhân vào phát triển cơ sở hạ tầng do đó
các dự án đầu tư theo hình thức PPP thì các nhà đầu tư tư nhân sẽ được ưu đãi
về thuế, miễn tiền thuê đất, tiền sử dụng đất; các quy định bảo đảm về vốn và
tài sản, bảo lãnh nghĩa vụ cho nhà đầu tư…Đây là những chính sách nhằm
khuyến khích và tạo động lực cho các nhà đầu tư khi tham gia thực hiện các

Ngoài ra, để quản lý sự phát triển của PPP, Chính phủ Anh xây dựng các đơn
vị đảm nhận chức năng rõ ràng, thực hiện các chức năng, nhiệm vụ khác nhau
bao gồm các cơ quan: Bộ Tài chính, Văn phòng Thương mại Chính phủ, Bộ
Giao thông, Cơ quan quản lý quốc lộ, Tổ chức đối tác Anh, Nhóm đặc nhiệm
nghiệp vụ, Nhóm rà soát những dự án lớn, Đơn vị chương trình đối tác
công tư.
1.2.2.2. Pháp luật về hợp đồng PPP của Mỹ
Mỹ là quốc gia triển khai mô hình hợp tác công tư PPP từ những năm
1980; đến nay Mỹ đã có trên 450 dự án đầu tư theo mô hình PPP với kinh phí


23

triển khai lên tới hàng trăm tỉ USD. Để triển khai hiệu quả mô hình PPP, Mỹ
đã thực hiện một số giải pháp:
- Xây dựng cơ chế chính sách pháp luật, chính quyền liên bang một mặt
chủ động xây dựng, hoàn thiện các cơ chế chính sách và các công cụ điều
hành hướng dẫn triển khai mô hình này trên phạm vi toàn nước Mỹ, mặt khác
phân quyền cho các bang tự quyết định việc tổ chức và triển khai mô hình
PPP.
- Xác định cụ thể các lĩnh vực và hình thức đầu tư. Về lĩnh vực đầu tư,
tại Mỹ, PPP được áp dụng chủ yếu trong các lĩnh vực phát triển hạ tầng, nhà
ở, trường học và bệnh viện. Về các hình thức đầu tư, Mỹ cho phép triển khai
đa dạng mô hình như: thiết kế xây dựng; thiết kế, xây dựng, tài trợ, vận hành;
thiết kế, xây dựng, tài trợ…
1.2.2.3. Pháp luật về hợp đồng PPP của Hà Lan
Hà Lan bắt đầu chương trình PPP từ năm 1999 bằng việc thành lập
Trung tâm kiến thức PPP với vai trò hướng dẫn cho khu vực Nhà nước và tư
nhân thực hiện các nhiệm vụ trong dự án PPP, xây dựng những tài liệu và
công cụ tiêu chuẩn để đo lường giá trị vượt trội của dự án theo mô hình PPP

đường bộ bằng việc nhà đầu tư được giảm nhiều loại thuế trong đó có miễn
thuế giá trị gia tăng; Chính phủ bảo lãnh đối với doanh thu của khu vực tư
nhân (có thể lên đến 90%) khiến cho rủi ro doanh thu hầu như được chuyển
sang phía Chính phủ. Ngoài ra, Hàn Quốc còn có các quy định hướng dẫn chi
tiết việc thực hiện đầu tư theo hình thức PPP như: hướng dẫn chi tiết đánh giá
giá trị đồng tiền cho các dự án PPP theo hình thức hợp đồng; Yêu cầu đề xuất
chuẩn cho các dự án PPP trong lĩnh vực đường bộ; Điều khoản và điều kiện
đề xuất và thực hiện dự án; Hướng dẫn chuẩn bị lập đề xuất dự án; Mẫu hợp
đồng nhượng quyền chuẩn cho các dự án ngành đường bộ. Có thể nói pháp
luật về PPP trong lĩnh vực kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ của Hàn Quốc
khá nhất quán và tương thích với các văn bản pháp luật liên quan như: Luật
thu phí đường bộ, Luật tài sản nhà nước, Luật tài chính địa phương, Luật sử
dụng và quy hoạch đất quốc gia, Luật phát triển đô thị…
1.2.2.5. Pháp luật về hợp đồng PPP của Ấn Độ
Nhận thức được các lợi ích của mô hình PPP, Ấn Độ đã áp dụng PPP từ
những năm 1990. Ấn Độ đã đánh giá sự tham gia của nguồn vốn tư nhân và



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status