1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nuôi con nuôi là vấn đề mang tính nhân đạo sâu sắc, là sự bảo vệ về
mặt pháp lý cần thiết đối với trẻ em, đặc biệt đối với những trẻ em sinh ra
trong hoàn cảnh khó khăn, mất mát, thiệt thòi về tình cảm, không được
hưởng trọn mái ấm gia đình, thiếu bàn tay chăm sóc, nuôi dưỡng của bố mẹ
và người thân. Hướng đến mục tiêu bảo vệ tốt nhất lợi ích cho trẻ em, vấn đề
này luôn nhận được sự quan tâm, chung tay thực hiện của mỗi quốc gia và
cộng đồng quốc tế. Do vậy, nuôi con nuôi đã sớm được ghi nhận và khẳng
định là một trong những quyền dân sự của trẻ em trong các văn kiện pháp lý
về quyền con người.
Đối với Việt Nam, một đất nước có dân số đông, từng phải gánh chịu
hậu quả nặng nề từ các cuộc chiến tranh thì việc bảo vệ quyền lợi cơ bản của
trẻ em luôn được đặt lên hàng đầu. Nhà nước ta chú trọng xây dựng mối quan
hệ gia đình, thiết lập quan hệ cha mẹ và con, giữa người nhận nuôi với đứa trẻ
được nhận nuôi, hướng đến xây dựng cuộc sống tốt hơn cho đứa trẻ, đảm bảo
cho những trẻ em có số phận bất hạnh có quyền được nhận làm con nuôi,
được chăm sóc, nuôi dưỡng của mái ấm gia đình.
Trong tiến trình hội nhập quốc tế, cùng với sự phát triển, giao lưu trên
nhiều phương diện giữa các quốc gia mà theo đó quan hệ nuôi con nuôi nói
chung và nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài nói riêng ngày càng gia tăng,
phát triển với quy mô rộng lớn. Đặc biệt, số lượng người nước ngoài xin nhận
trẻ em Việt Nam làm con nuôi có xu hướng ngày càng tăng và bắt đầu có
những diễn biến đa dạng và phức tạp hơn. Bên cạnh mục đích cao đẹp của
việc nuôi con nuôi hướng đến thì còn xuất hiện những hành vi, việc làm phi
đạo đức, trái lương tâm. Lợi dụng danh nghĩa, mục đích của việc nuôi con
nuôi để thu gom, môi giới, dẫn dắt mua bán trẻ em nhằm mục đích kiếm lời.
Từ thực tế này, đòi hỏi cần có những giải pháp khắc phục, đòi hỏi luật pháp
Việt Nam cần xây dựng chế tài điều chỉnh, giải quyết một cách hiệu quả.
định nuôi con nuôi trong pháp luật Việt Nam và quốc tế” được Viện Khoa học
pháp lý Bộ Tư pháp xuất bản vào năm 1998.
Đặc biệt, trong thời gian Việt Nam đang xem xét để gia nhập Công
ước Lahay 1993 đã có nhiều hội thảo đề cập đến quan hệ nuôi con nuôi có
3
yếu tố nước ngoài. Cụ thể, vào tháng 10/2003 Bộ Tư pháp đã tổ chức Hội
thảo “Hoàn thiện pháp luật Việt Nam hướng tới gia nhập Công ước Lahay về
bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực nuôi con nuôi”. Trong hội thảo, đã có
nhiều báo cáo tham luận chi tiết, cụ thể về vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố
nước ngoài; Đề tài nghiên cứu khoa học vào tháng 10/2005 của Cục con nuôi
quốc tế - Bộ Tư pháp “Hoàn thiện pháp luật về nuôi con nuôi có yếu tố nước
ngoài trước yêu cầu gia nhập Công ước Lahay năm 1993 về bảo vệ trẻ em và
hợp tác trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế”; Hội thảo khoa học:“Nuôi con
nuôi có yếu tố nước ngoài theo Luật nuôi con nuôi năm 2010” của Trường
Đại học Luật Hà Nội.
Ngoài ra, vấn đề về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài còn được đề
cập trong một số công trình nghiên cứu khoa học như: đề tài luận án tiến sỹ
“Pháp luật điều chỉnh quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài” của tác giả
Nguyễn Công Khanh; đề tài luận án tiến sỹ “Pháp luật điều chỉnh quan hệ gia
đình có yếu tố nước ngoài” của tác giả Nguyễn Hồng Bắc; đề tài luận văn
thạc sỹ “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về nuôi con nuôi theo quy định của
pháp luật Việt Nam” của tác giả Nguyễn Phương Lan; đề tài luận văn thạc sỹ
“Hoàn thiện pháp luật Việt Nam về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài hướng
tới gia nhập Công ước Lahay 1993” của tác giả Đào Thị Thu Hường.
Cùng một số bài viết chuyên khảo trên các tạp chí “Nhà nước và pháp
luật”, “Dân chủ và pháp luật”, “Nghiên cứu lập pháp”, “Tạp chí luật học”.
Cụ thể, như bài viết “Tìm hiểu về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài tại Thụy
Thứ nhất, phân tích một số khái niệm cơ bản về chế định NCN có yếu
tố nước ngoài.
Thứ hai, phân tích nội dung các quy định về NCN được ghi nhận trong
các điều ước quốc tế song phương và đa phương mà Việt Nam là thành viên.
Thứ ba, đánh giá thực trạng pháp luật, việc triển khai và thực hiện
pháp luật về NCN có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam, từ đó đưa ra các bài
học kinh nghiệm cho Việt Nam.
5. Các câu hỏi nghiên cứu của luận văn
Luận văn được xây dựng để trả lời cho hai câu hỏi chính:
Thứ nhất, mức độ tương thích, phù hợp giữa Pháp luật Việt Nam
với các điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết trong lĩnh vực nuôi con nuôi.
5
Thứ hai, thực trạng pháp luật về NCN có yếu tố nước ngoài ở Việt
Nam, giải pháp nào cho thực trạng đó.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn được xây dựng dựa trên cơ sở lí luận và phương pháp luận
của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật,
đề cao việc chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng và bảo vệ trẻ em; từ quan điểm
của Đảng và các nguyên tắc lý luận chung của khoa học pháp lý về vấn đề
này. Trong đó, tác giả đặc biệt sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể
như phân tích, tổng hợp, so sánh để nhấn mạnh được trọng tâm vấn đề cần
nghiên cứu.
7. Những đóng góp mới của luận văn
Luận văn là công trình nghiên cứu một cách hệ thống lý luận và thực
tiễn về các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành điều chỉnh quan hệ
nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài trong mối tương quan với sự điều chỉnh
của các điều ước quốc tế song phương và đa phương, luận văn đã r t ra bài
- Chương 3: Thực trạng và một số bài học kinh nghiệm để hoàn thiện
pháp luật Việt Nam về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.
7
CHƢƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
CƠ BẢN VỀ NUÔI CON NUÔI CÓ YẾU TỐ NƢỚC NGOÀI
1.1.
hái quát về nu i on nu i ó ếu tố nƣớ ngo i
Để có thể hiểu rõ về chế định nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài, thì
cần phải làm rõ, xác định dưới góc độ của pháp luật Việt Nam thì những
trường hợp nào là nuôi con nuôi, trường hợp nào là nuôi con nuôi có yếu tố
nước ngoài?
1.1.1. Khái niệm nuôi con nuôi
Quan hệ nuôi con nuôi là quan hệ đặc biệt. Ban đầu, nuôi con nuôi là
hiện tượng xã hội xuất hiện từ lâu trong lịch sử nhằm đáp ứng các nhu cầu
thiết yếu của con người, thể hiện mối quan hệ gắn bó của con người với nhau
trên cơ sở những lợi ích chung, dần dần nó được thể chế hóa thành chế định
pháp lý.
Dưới góc độ xã hội: E.A.Weinstein đã đưa ra định nghĩa về nuôi con
nuôi trong từ điển bách khoa toàn thư về các môn khoa học xã hội như sau:
“Theo nghĩa rộng và không mang tính pháp lý thì nuôi con nuôi được định
nghĩa như một thực tiễn xã hội được thể chế hóa, theo đó một cá nhân thuộc
về một gia đình hoặc một nhóm mang tính chất gia đình do sinh ra tiếp nhận
những liên hệ mới mang tính chất gia đình và những liên hệ mới này được xã
hội coi như ngang bằng với những mối liên hệ ruột thịt và thay thế một phần
hoặc toàn bộ những mối liên hệ đó”.1
Như vậy, có thể hiểu nuôi con nuôi là một quan hệ xã hội đặc biệt,
được pháp luật quy định nhằm xác lập mối quan hệ giữa cha mẹ nhận nuôi và
con được nhận nuôi với nhau thông qua việc đăng ký tại cơ quan nhà nước có
thẩm quyền khi các bên đã đạt đủ những điều kiện cần thiết, vì lợi ích tốt nhất
cho người được nhận làm con nuôi. Quan hệ nuôi con nuôi giữa đứa trẻ được
nhận nuôi và cha mẹ nuôi được nhà nước công nhận và bảo vệ. Cha mẹ nuôi
và con nuôi sẽ có những nghĩa vụ và quyền lợi tương tự như giữa cha mẹ đẻ
và con ruột theo quy định của pháp luật.
Phạm Thùy Dương (2006), Pháp luật Việt Nam về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài - Thực trạng
và phương hướng hoàn thiện, Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr. 43.
3
Nguyễn Hà Liên (2011), Việt Nam với Công ước Lahay 1993 về bảo vệ quyền trẻ em và hợp tác
trong lĩnh vực nuôi con nuôi giữa các nước, Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr. 4.
2
9
1.1.2. Khái niệm nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài
Quan hệ NCN có yếu tố nước ngoài là quan hệ trong phạm vi quan hệ
hôn nhân và gia đình thuộc phạm trù quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu
tố nước ngoài.
Luật NCN năm 2010 vẫn giữ nguyên phạm trù về nuôi con nuôi có yếu
tố nước ngoài. Về cơ bản, nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài đều giống nuôi
con nuôi trong nước ở chỗ xác lập quan hệ cha mẹ và con dựa trên sự công
nhận của pháp luật mà không phải cùng huyết thống hay do sinh ra. Dưới góc
độ tư pháp quốc tế, quan hệ được coi là có yếu tố nước ngoài khi quan hệ đó có
một trong các yếu tố cấu thành mang tính nước ngoài. Tức là chủ thể của quan
hệ có yếu tố nước ngoài, hoặc sự kiện pháp lý có yếu tố nước ngoài, hoặc tài
+ Thứ nhất, chủ thể là công dân Việt Nam khi tham gia vào quan hệ
NCN có yếu tố nước ngoài phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi
theo quy định của pháp luật Việt Nam. Năng lực pháp luật và năng lực hành
vi ở đây được xác định trên cơ sở các quy định của pháp luật dân sự. Đây là
những thuộc tính không thể thiếu đối với chủ thể pháp luật.
+ Thứ hai, chủ thể là người nước ngoài.
Để hiểu và nhận biết như thế nào là người nước ngoài thì pháp luật
Việt Nam và pháp luật nhiều nước trên thế giới đều lấy dấu hiệu “quốc tịch”
để định nghĩa về người nước ngoài. Theo quy định của pháp luật Việt Nam thì
người nước ngoài là người không có quốc tịch Việt Nam, bao gồm người có
quốc tịch nước ngoài và người không quốc tịch. Cụ thể:
Theo khoản 1 Điều 3 Luật nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư tr của
người nước ngoài tại Việt Nam năm 2014: “người nước ngoài là người mang
giấy tờ xác định quốc tịch nước ngoài và người không quốc tịch nhập cảnh,
xuất cảnh, quá cảnh, cư trú tại Việt Nam”.
Mặt khác, tại khoản 1 Điều 3 Luật quốc tịch năm 2008: “quốc tịch
nước ngoài là quốc tịch của một nước khác không phải là quốc tịch Việt Nam”.
Khoản 2 Điều 3 Luật quốc tịch năm 2008: “người không quốc tịch là
người không có quốc tịch Việt Nam và cũng không có quốc tịch nước ngoài”.
Như vậy, có thể hiểu người nước ngoài là người không mang quốc
tịch của nước sở tại. Để tham gia vào quan hệ NCN có yếu tố nước ngoài thì
người nước ngoài phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi theo pháp
luật của nước mà người đó là công dân hoặc pháp luật của nước mà người đó
thường trú nếu người đó là người không quốc tịch.
11
- Sự kiện pháp lí làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ
NCN xảy ra ở nước ngoài.
NCN có yếu tố nước ngoài giữa công dân Việt Nam với nhau mà một bên
hoặc cả hai bên định cư ở nước ngoài.
+ Thứ hai, người nước ngoài cư tr tại Việt Nam.
Theo khoản 5 Điều 3 Luật quốc tịch Việt Nam 2008 thì “người nước
ngoài cư trú tại Việt Nam là công dân nước ngoài hoặc người không quốc
tịch thường trú hoặc tạm trú ở Việt Nam”.
Hiện nay, quan hệ NCN giữa người nước ngoài thường trú tại Việt
Nam phát sinh ngày càng nhiều, và pháp luật để điều chỉnh quan hệ NCN khi
họ tham gia tại Việt Nam là pháp luật Việt Nam (tức là áp dụng luật nơi cư tr
của đương sự). Việc áp dụng pháp luật nơi cư tr để điều chỉnh quan hệ NCN
khi người nước ngoài tham gia tại Việt Nam là hoàn toàn phù hợp với thực tế.
Như vậy, quan hệ NCN có yếu tố nước ngoài thuộc quan hệ dân sự có
phạm vi khá rộng, được quy định cụ thể tại Điều 28 Luật NCN năm 2010. Để
xác định về một quan hệ NCN có yếu tố nước ngoài thì căn cứ vào một trong
3 yếu tố được đề cập ở trên. Việc mở rộng yếu tố nước ngoài là hết sức cần
thiết, phù hợp với tình hình thực tế hiện nay của nước ta trong tiến trình hội
nhập quốc tế. Và pháp luật áp dụng để giải quyết quan hệ NCN có yếu tố
nước ngoài không chỉ là pháp luật của Việt Nam mà còn có thể là pháp luật
của một nước khác. Do đó, để quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài có
giá trị pháp lý thì nó cần sự công nhận, xác thực của cơ quan nhà nước có
thẩm quyền của cả hai bên.
1.2. Pháp luật Việt Nam về quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nƣớc ngoài
Trải qua quá trình hình thành và phát triển, lĩnh vực nuôi con nuôi có
yếu tố nước ngoài tại Việt Nam đã có những sự thay đổi, chuyển biến tích cực
cùng với sự ra đời của Luật NCN năm 2010. Bao gồm các nội dung cụ thể:
1.2.1. Nguyên tắc giải quyết trong quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố
nước ngoài
Nguyên tắc giải quyết nuôi con nuôi theo pháp luật Việt Nam được
ghi nhận tại Điều 4 Luật NCN 2010. Bao gồm 3 nguyên tắc cơ bản sau:
đối với một trong các bên trong quan hệ NCN thì quan hệ giữa cha mẹ nuôi
Nguyễn Văn Bình (2011), “Luật nuôi con nuôi sự quan tâm lớn của nhà nước và xã hội đối với trẻ
em có hoàn cảnh đặc biệt”, Tạp chí dân chủ và pháp luật (số chuyên đề), tr. 5.
5
14
và con nuôi không được thừa nhận trước pháp luật, thậm chí nếu sai phạm, vi
phạm pháp luật quá lớn thì sẽ phải chịu sự trừng phạt nghiêm khắc của pháp luật.
Ngoài ra, NCN có yếu tố nước ngoài phải đảm bảo đ ng với chuẩn
mực xã hội, thuần phong mỹ tục của Việt Nam đảm bảo cho đứa trẻ được lớn
lên trong một môi trường tốt nhất, bảo vệ quyền và lợi ích cho trẻ em.
- Thứ ba, chỉ cho trẻ em làm con nuôi nước ngoài khi không thể tìm
được gia đình thay thế ở trong nước.
Như đã đề cập tại nguyên tắc thứ nhất, ưu tiên hàng đầu trong việc tìm
gia đình thay thế cho trẻ em là tìm một gia đình trong nước nhận nuôi các
em. Một mặt, tạo điều kiện cho trẻ em được nuôi dưỡng tại quê hương mình,
giúp trẻ em đỡ bỡ ngỡ, thích ứng nhanh chóng hơn với môi trường mới. Mặt
khác, gi p Nhà nước có thể dễ dàng trong hoạt động quản lý, thực hiện hành
động bảo vệ trẻ em sau khi được nhận con nuôi hơn so việc trẻ em trở thành
con nuôi nước ngoài không thường trú tại Việt Nam. Do đó, chỉ sau khi đã
xem xét thỏa đáng các giải pháp trong nước mà không tìm được mái ấm cho
trẻ thì mới tính đến việc cho trẻ em làm con nuôi nước ngoài.
1.2.2. Điều kiện nuôi con nuôi
1.2.2.1. Điều kiện đối với người được nhận nuôi
Nhằm bảo vệ quyền lợi của người được nhận làm con nuôi, hạn chế
những trường hợp lừa đảo, mua bán trẻ em ra nước ngoài… Luật NCN năm
2010 đã xác định trẻ em được cho làm con nuôi nước ngoài phải là những trẻ
Đây là quy định mới của Luật NCN năm 2010. Theo đó, Luật chỉ cho
phép một cá nhân hoặc cả hai vợ chồng nhận nuôi con nuôi mà không cho
phép người đã có vợ hoặc chồng nhận con nuôi riêng, việc nuôi con nuôi đòi
hỏi sự đồng thuận, thống nhất của hai vợ chồng. Đây cũng là điều luật nhằm
đảm bảo cho trẻ được nhận làm con nuôi có một môi trường gia đình trọn
vẹn, có được sự yêu thương của tất cả các thành viên trong gia đình. Thực tế
cho thấy đây là vấn đề cần được cần được cân nhắc kỹ khi giải quyết việc cho
nhận con nuôi có yếu tố nước ngoài ở nước ta. Khi mà hầu hết luật pháp các
nước khi quy định đối với người nhận nuôi là cá nhân đều xây dựng các điều
kiện nhằm bảo vệ, phòng tránh trường hợp trẻ em bị lạm dụng tình dục.
Chẳng hạn, pháp luật một số nước (như Malaysia, Singapore) quy định không
16
cho phép người độc thân là nam giới nhận trẻ em là nữ, trừ trường hợp đặc
biệt do Tòa án quyết định.6
1.2.2.2. Điều kiện đối với người nhận nuôi con nuôi
- Điều kiện chung:
Người nước ngoài để có thể nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi thì
bất kì cá nhân, cặp vợ chồng đều phải đáp ứng được đầy đủ các điều kiện do
pháp luật Việt Nam, pháp luật của nước người đó mang quốc tịch, pháp luật
của nước người đó sinh sống quy định (theo Điều 29, Điều 14 Luật NCN
2010). Như vậy, pháp luật Việt Nam đã kết hợp giữa nguyên tắc luật nơi
thường trú và luật Việt Nam để điều chỉnh điều kiện của người nhận nuôi.
Cụ thể:
+ Đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài
thường trú ở nước ngoài nhận người Việt Nam làm con nuôi phải có đủ các
điều kiện theo quy định của pháp luật nước nơi người đó thường trú và quy
định tại Điều 14 Luật NCN.
Luật NCN thì cha mẹ nuôi là người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người
nước ngoài thường trú ở nước cùng là thành viên của điều ước quốc tế về nuôi
con nuôi với Việt Nam thì mới có thể nhận con nuôi là người Việt Nam (tức
là trong trường hợp cha mẹ nuôi là người nước ngoài thì yêu cầu phải định cư
tại quốc gia cùng tham gia một hoặc nhiều điều ước đa phương với Việt Nam
có nội dung liên quan đến việc nhận nuôi con nuôi giữa công dân hai nước).
Đây là điều kiện đảm bảo các quốc gia tiến hành việc quản lý và giải
quyết việc cho nhận con nuôi diễn ra nhanh chóng, thuận lợi trên cơ sở nội
dung các điều ước quốc tế mà hai bên đã ký kết. Đảm bảo cho trẻ em sau khi
được nhận nuôi sẽ được cha mẹ yêu thương, hưởng đầy đủ quyền của mình
khi có sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà nước và pháp luật các bên.
Đồng thời, khoản 2 Điều 14 Luật NCN có quy định về những trường
hợp không được nhận con nuôi tại Việt Nam. Đây là những người có thể gây
ảnh hưởng bất lợi cho trẻ em về mặt giáo dục, nhận thức, tính cách và không
đảm bảo được sự nuôi dưỡng tốt nhất đối với trẻ em được nhận nuôi. Cụ thể
như người đang bị hạn chế một số quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành
niên; người chấp hành quyết định xử lý hành chính tại cơ sở giáo dục, cơ sở
chữa bệnh; người đang chấp hành hình phạt tù; chưa được xóa án tích về một
trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của
người khác; ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu,
18
người có công nuôi dưỡng mình, dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người chưa
thành niên vi phạm pháp luật; mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em.
+ Trường hợp nhận con nuôi đích danh: Là trường hợp người nhận
nuôi không thông qua sự giới thiệu của các cơ quan, tổ chức mà sẽ chỉ đích
danh người mình muốn nhận nuôi thì người đó phải đáp ứng các điều kiện
sau: “Là cha dượng, mẹ kế của người được nhận nuôi; là cô, cậu, dì, chú, bác
- Bộ Tư pháp là cơ quan có thẩm quyền kiểm tra, giám sát việc đăng
ký NCN nước ngoài, đầu mối trong việc đảm bảo thực thi, tạo điều kiện trao
đổi thông tin với các nước.
1.2.3.2. Trình tự, thủ tục giải quyết nuôi con nuôi
Trình tự, thủ tục đăng ký nhận nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài trải
qua các bước sau:
Bước 1: Nộp hồ sơ xin nhận con nuôi (khoản 3 Điều 31 Luật NCN).
Hồ sơ của người xin nhận con nuôi sẽ lập thành hai bộ với các loại
giấy tờ được quy định tại khoản 1 Điều 31 Luật NCN cho Bộ Tư Pháp thông
qua cơ quan Trung ương về NCN của nước nơi người đó thường trú. Trong
trường hợp là nhận con nuôi đích danh thì có thể nộp trực tiếp cho Bộ Tư
pháp của Việt Nam (kèm theo một số giấy tờ được quy định tại Điều 13 Nghị
định 19/2011/NĐ-CP).
Bước 2: Bộ Tư pháp kiểm tra, chuyển hồ sơ cho Sở Tư pháp (khoản 3
Điều 34 Luật NCN).
Bộ Tư pháp có trách nhiệm kiểm tra và xử lý hồ sơ của người nhận nuôi.
Sau khi hết thời hạn thông báo tìm gia đình thay thế theo quy định tại khoản 2
Điều 15 mà trẻ em không được người trong nước nhận nuôi thì BTP chuyển hồ
sơ của người nhận nuôi cho Sở Tư Pháp (STP) nơi có người được giới thiệu làm
con nuôi thường tr để xem xét, giới thiệu người đó làm con nuôi.
Trong trường hợp xin con nuôi đích danh thì BTP Việt Nam chuyển
hồ sơ cho Sở Tư pháp nơi trẻ em Việt Nam được nhận nuôi trường tr để
trình UBND cấp tỉnh xem xét và quyết định.
Bước 3: STP xử lý hồ sơ, báo cáo UBND cấp tỉnh quyết định (khoản 1
Điều 36 Luật NCN).
Trong thời gian 30 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ của người nhận
con nuôi, STP xem xét, giới thiệu người làm con nuôi và báo cáo UBND cấp
tỉnh. Trong thời gian này, STP phải tiến hành cả việc lấy ý kiến của những
định cho trẻ em làm con nuôi nước ngoài.
21
Việc tổ chức giao nhận: STP đăng ký việc nuôi con nuôi theo quy
định của pháp luật về đăng ký hộ tịch và tổ chức lễ giao nhận con nuôi tại trụ
sở STP, với sự có mặt của đại diện cơ sở nuôi dưỡng (đối với trẻ em được xin
nhận từ cơ sở nuôi dưỡng) hoặc cha mẹ đẻ, người giám hộ (đối với trẻ em
được xin nhận làm con nuôi từ gia đình). Việc giao nhận con nuôi phải được
lập thành biên bản, có chữ ký hoặc điểm chỉ của các bên và đại diện STP.
Sau khi giao nhận con nuôi, STP có trách nhiệm gửi BTP quyết định
cho trẻ em làm con nuôi nước ngoài của UBND cấp tỉnh, biên bản giao nhận
con nuôi, đồng thời gửi UBND cấp xã nơi thường trú của trẻ em được cho
làm con nuôi nước ngoài.
BTP gửi quyết định cho trẻ em làm con nuôi nước ngoài cho Bộ
Ngoại giao để thông báo cho Cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước ngoài về
việc trẻ em được nhận làm con nuôi để thực hiện biện biện pháp bảo hộ trẻ
em trong trường hợp cần thiết.
Như vậy, so với quy định của pháp luật Việt Nam trong các giai đoạn
trước thì thủ tục cho người thường trú tại nước ngoài nhận nuôi trẻ em Việt
Nam trong Luật NCN đã có sự thay đổi lớn, đảm bảo tính minh bạch trong
thủ tục giải quyết việc nuôi con nuôi. Bên cạnh trường hợp người thường trú
tại nước ngoài nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi còn những trường hợp
khác thuộc nhóm quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài. Tuy nhiên,
thực tế số lượng các trường hợp này chiếm tỷ lệ không lớn trong nhóm quan
hệ NCN có yếu tố nước ngoài. Mặc dù vậy, pháp luật Việt Nam vẫn đưa ra
quy định để điều chỉnh quan hệ NCN có yếu tố nước ngoài trong trường hợp
này để xây dựng hành lang pháp lý đầy đủ cho việc xác lập quan hệ NCN. Đối
với các trường hợp này, pháp luật luôn tạo điều kiện thuận lợi và đơn giản hơn
sau khi được nhận nuôi. Cụ thể trong thời hạn 3 năm, kể từ ngày giao nhận
con nuôi, cha mẹ nuôi có trách nhiệm định kỳ 6 tháng gửi báo cáo cho Cơ
quan đại diện nơi họ cư tr tình trạng sức khỏe, thể chất, sự hòa nhập của con
nuôi với cha mẹ nuôi, gia đình, cộng đồng.
Quy định này tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan có thẩm quyền
của nước ta theo dõi tình hình phát triển của trẻ được nhận làm con nuôi nước
ngoài, kiểm tra liệu cha mẹ nuôi có đủ khả năng nuôi con nuôi hay có có bất
kỳ hành vi xâm phạm quyền và lợi ích của con nuôi, để từ đó can thiệp trong
trường hợp cần thiết.
23
- Quyền được biết về nguồn gốc: Con nuôi có quyền được biết về
nguồn gốc của mình, không ai được phép cản trở con nuôi được biết về nguồn
gốc của mình, đồng thời cha mẹ nuôi tạo điều kiện cho trở về thăm quê hương
đất nước và tìm về cội nguồn nơi đã sinh ra (căn cứ Điều 10 Luật NCN).
- Quan hệ giữa cha mẹ đẻ - trẻ em sau khi trẻ được nhận làm con nuôi:
Theo tinh thần Điều 24 Luật NCN thì sau khi trẻ em được nhận làm
con nuôi thì cha mẹ đẻ không còn quyền, nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng, cấp
dưỡng, đại diện theo pháp luật, bồi thường thiệt hại, quản lí, định đoạt tài sản
riêng đối với con đã cho làm con nuôi (trừ trường hợp giữa cha mẹ đẻ và cha
mẹ nuôi có thỏa thuận khác). Tức là, trẻ em Việt Nam sau khi được nhận nuôi
không có quan hệ pháp lí với cha mẹ đẻ mà chỉ có mối quan hệ giữa đứa trẻ
với cha mẹ nuôi cũng như các thành viên khác của cha mẹ nuôi. Tuy nhiên,
quy định của pháp luật Việt Nam về vấn đề này tương đối “mở” khi đặt ra
trường hợp có sự thỏa thuận giữa cha mẹ đẻ và cha mẹ nuôi về quyền và
nghĩa vụ của hai bên.
1.3.
đưa ra điều kiện nhận nuôi con nuôi.9
Ngoài ra, Bộ luật Napoleon năm 1804 đã ghi nhận về vấn đề nuôi con
nuôi. Theo tinh thần của Bộ luật thì việc nuôi con nuôi bị hạn chế. Chỉ cho
phép con nuôi là người trưởng thành và đã được chăm sóc trong gia đình cha
mẹ nuôi 6 năm.
Như vậy, có thể thấy pháp luật trong thời gian này không quy định cụ
thể, trực tiếp về vấn đề nuôi con nuôi mà chủ yếu thừa nhận quy định nuôi
con nuôi trong các vấn đề liên quan đến việc duy trì dòng họ, thờ cúng tổ tiên
và thừa kế tài sản.
Năm 1996, Công ước quốc tế về các quyền dân sự - chính trị và Công
ước quốc tế về các quyền kinh tế - văn hóa ra đời đã đánh dấu một bước tiến
lớn. Mặc dù, Công ước chưa đưa ra quy định cụ thể về vấn đề nuôi con nuôi,
tuy nhiên đã khẳng định trách nhiệm pháp lý của các quốc gia thành viên
trong việc bảo hộ các quan hệ hôn nhân và gia đình tại Điều 10, Điều 11. Đây
được xem như căn cứ pháp lý quan trọng để xây dựng các công ước chuyên
biệt về quyền trẻ em, trong đó có vấn đề nuôi con nuôi.
Vào ngày 03/12/1986, Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua Tuyên
ngôn của Liên hiệp quốc về các nguyên tắc xã hội và pháp lý liên quan đến
vấn đề nuôi con nuôi. Đây là văn kiện toàn diện và tương đối đầy đủ về vấn
đề nuôi con nuôi. Tuyên ngôn khẳng định mục đích hàng đầu của việc nuôi
con nuôi là “đem lại cho những trẻ em không thể được cha mẹ đẻ chăm sóc,
có được một gia đình bền lâu và việc làm con nuôi nước ngoài cần được xem
9
“- Người nhận con nuôi phải là đàn ông và đàn bà có con nhưng đã mất.
- Người nhận con nuôi không được phép là con dưới quyền mà phải là persona sui
iuris (chủ thể độc lập).
- Người nhận con nuôi phải lớn hơn con nuôi không dưới 18 năm”.
luật không có điều luật nào quy định trực tiếp về vấn đề nuôi con nuôi, về
10
Nguyễn Hồng Nhung, tldd chú thích 7, tr. 14.