LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu Trường Đại học Luật Hà Nội, các
thầy cô Khoa sau đại học, Khoa pháp luật dân sự và cán bộ nhân viên Thư viện
Trường Đại học Luật Hà Nội – những người đã tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá
trình tôi học tập, nghiên cứu và viết luận văn tại Trường.
Đặc biệt, với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi lời cảm ơn chân
thành đến Phó Giáo sư, Tiến sỹ Phan Hữu Thư người đã tận tình hướng dẫn tôi
thực hiện công trình nghiên cứu này.
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn tới lãnh đạo và các đồng nghiệp tại Tòa án
nhân dân thành phố Cao Bằng nơi tôi công tác, gia đình, bạn bè – những người đã luôn
ở bên động viên, chia sẻ và tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt thời gian vừa qua.
Hà Nội, ngày 04 tháng 8 năm 2016
Tác giả
Nguyễn Thị Hanh
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Bộ luật tố tụng dân sự
Bộ Công an
Bộ Tài chính
Bộ Tư pháp
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Hội đồng định giá tài sản
Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự
Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế
Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động
Tố tụng dân sự
Tố tụng hình sự
Tòa án nhân dân tối cao
Ủy ban nhân dân
1
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG VỀ ĐỊNH GIÁ TÀI SẢN VÀ
THẨM ĐỊNH GIÁ TÀI SẢN
6
1.1. Khái niệm định giá tài sản, thẩm định giá tài sản
6
1.1.1. Khái niệm định giá và định giá tài sản
6
1.1.2. Khái niệm thẩm định giá và thẩm định giá tài sản
7
1.2. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của định giá tài sản, thẩm định giá tài sản
trong tố tụng dân sự
9
1.2.1. Khái niệm định giá tài sản, thẩm định giá tài sản trong tố tụng dân sự
9
1.2.2. Đặc điểm của định giá tài sản, thẩm định giá tài sản trong tố tụng dân sự
12
1.2.3. Vai trò của định giá tài sản, thẩm định giá tài sản trong tố tụng dân sự 15
1.3. Cơ sở của quy định pháp luật về định giá tài sản, thẩm định giá tài sản
trong tố tụng dân sự ở Việt Nam
16
1.3.1. Cơ sở về mô hình tố tụng
16
1.3.2. Việc xây dựng quy định về định giá, thẩm định giá tài sản xuất phát từ
việc đảm bảo quyền tiếp cận công lý, quyền tự định đoạt của đương sự
18
1.3.3. Việc xây dựng các quy định điều chỉnh hoạt động định giá, thẩm định giá
tài sản phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội của đất nước và hiệu quả hoạt động
của cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế khác
19
2.2.1. Về điều kiện áp dụng
46
2.2.2. Về nguyên tắc thẩm định giá tài sản
47
2.2.3. Về trình tự thủ tục yêu cầu tổ chức thẩm định giá
48
2.2.4. Về kết quả thẩm định giá tài sản
51
2.2.5. Về giá dịch vụ, chi phí của thẩm định giá
52
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2
55
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ VƯỚNG MẮC TRONG THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÁC
QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VỀ ĐỊNH GIÁ TÀI SẢN,
THẨM ĐỊNH GIÁ TÀI SẢN Ở VIỆT NAM VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN 56
3.1. Một số vướng mắc, bất cập trong việc áp dụng các quy định về định giá
tài sản và thẩm định giá tài sản trong tố tụng dân sự ở Việt Nam hiện nay 56
3.2. Nguyên nhân của những vướng mắc, bất cập trong việc áp dụng quy
định về định giá tài sản và thẩm định giá tài sản trong tố tụng dân sự ở Việt
Nam.
73
3.3. Một số kiến nghị cụ thể hoàn thiện quy định pháp luật về định giá tài sản
và thẩm định giá tài sản trong tố tụng dân sự ở Việt Nam.
76
3.3.1. Hoàn thiện các quy định pháp luật về định giá tài sản, thẩm định giá tài
sản
76
3.3.2. Định hướng lâu dài đối với việc sửa đổi, bổ sung chế định định giá tài sản,
thẩm định giá tài sản
81
đổi, bổ sung theo hướng hoàn thiện và phù hợp với điều kiện thực tế, đáp ứng yêu
cầu của đương sự cũng như Tòa án trong tố tụng dân sự. Trong nhiều trường hợp
cần thiết, việc áp dụng các biện pháp định giá tài sản hay thẩm định giá tài sản đã trở
thành một phần quan trọng trong quá trình giải quyết các vụ việc dân sự và được các
Thẩm phán áp dụng có hiệu quả.
Tuy nhiên, qua thực tiễn 10 năm thi hành và áp dụng các quy định pháp luật về
các biện pháp định giá và thẩm định giá tài sản tại các Tòa án địa phương vẫn gặp
những vướng mắc, bất cập nhất định. Nguyên nhân là do những quy định pháp luật
về các biện pháp này chưa cụ thể, chưa phù hợp với thực tế, dẫn đến nhiều Tòa án
có cách áp dụng không thống nhất và có nhiều quan điểm khác nhau. Mặt khác trong
quá trình định giá tài sản còn gặp những trở ngại khách quan như: việc đương sự
không hợp tác, gây cản trở hoạt động định giá hoặc kết quả định giá không chính
xác, không phù hợp với thực tế dẫn đến đương sự khiếu nại và thời gian giải quyết
vụ án bị kéo dài, nhiều vụ án bị tồn đọng gây tốn kém thời gian, tiền của của Nhà
nước, nhân dân… Ngày 25/11/2015 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 10 đã thông qua Bộ luật tố tụng dân sự 2015, có hiệu lực
từ ngày 1/7/2016. Việc ra đời của Bộ luật mới này đã bổ sung thêm một số nội dung
6
mới trong quy định về định giá tài sản và thẩm định giá tài sản trên cơ sở tháo gỡ
được một số bất cập trong thực tiễn áp dụng Bộ luật tố tụng dân sự trước đây. Bên
cạnh đó một số quy định pháp luật về hoạt động định giá, thẩm định giá tài sản trong
tố tụng dân sự vẫn còn chưa thực sự hợp lý, thiếu tính rõ ràng và chưa cụ thể dẫn tới
những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng. Điều này đòi hỏi trong việc
hoàn thiện pháp luật về biện pháp định giá tài sản và thẩm định giá tài sản là cần
thiết. Xuất phát từ những lí do trên, tôi đã lựa chọn đề tài: “Định giá tài sản và
thẩm định giá tài sản trong pháp luật tố tụng dân sự ở Việt Nam” làm luận văn
thạc sĩ của mình với mong muốn làm rõ những hạn chế, khó khăn vướng mắc trong
01/01/2012 Luật sửa đổi bổ sung một số điều Bộ luật của tố tụng dân sự 2004. Đồng
thời chưa có tài liệu nào đi sâu vào phân tích những vấn đề lí luận chung cũng như
phân tích có hệ thống các quy định về định giá, thẩm định giá tài sản trong tố tụng dân
sự. Cho đến nay chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn
diện và chuyên sâu về định giá tài sản và thẩm định giá tài sản trong tố tụng dân sự ở
Việt Nam trên cơ sở nghiên cứu các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
3. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu của luận văn
* Đối tượng nghiên cứu
Luận văn chủ yếu đi sâu vào nghiên cứu một số vấn đề về phần lí luận và nội
dung cơ bản của các quy định pháp luật tố tụng dân sự hiện hành điều chỉnh về định
giá tài sản và thẩm định giá tài sản ở Việt Nam.
* Phạm vi nghiên cứu
Với đối tượng nghiên cứu như trên, Luận văn không nghiên cứu các quy định
pháp luật tố tụng dân sự về định giá và thẩm định giá tài sản ở các nước trên thế giới
mà chỉ nghiên cứu khái quát một số quy định cơ bản trong pháp luật tố tụng dân sự
của một số nước về việc thu thập chứng cứ để tham khảo. Mặt khác, để luận văn
mang tính chuyên sâu tác giả không phân tích chi tiết các quy định tại toàn bộ các
văn bản pháp luật chuyên ngành điều chỉnh về hoạt động định giá và thẩm định giá
tài sản mà chỉ nghiên cứu những sửa đổi bổ sung trong quy định của Bộ luật tố tụng
dân sự 2015 về định giá và thẩm định giá tài sản trên cơ sở so sánh với quy định của
Bộ luật tố tụng dân sự 2004, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng
dân sự 2004 và một số văn bản pháp luật có liên quan còn hiệu lực điều chỉnh về vấn
đề này. Tuy nhiên một số vấn đề lí luận cơ bản về định giá tài sản và thẩm định giá
tài sản trong tố tụng dân sự cũng được nghiên cứu nhằm tạo cơ sở cho việc đánh giá
luật thực định và đề xuất kiến nghị. Do vậy việc nghiên cứu đề tài được giới hạn
trong phạm vi sau đây:
- Nghiên cứu khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của định giá tài sản và thẩm định
giá tài sản trong tố tụng dân sự;
- Nghiên cứu lược sử pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về định giá tài sản và
thẩm định giá tài sản trong tố tụng dân sự.
Lê Nin, quan điểm duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, chính sách của Đảng, Nhà
nước và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật. Ngoài ra Luận văn sử
dụng một số phương pháp nghiên cứu khoa học chuyên ngành khác như phương
pháp lịch sử, phân tích, so sánh, chứng minh, tổng hợp và phương pháp xã hội học
như khảo sát, lấy số liệu, sử dụng kết quả tài liệu chuyên ngành,…
7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của Luận văn
Luận văn là công trình đầu tiên nghiên cứu riêng biệt và chuyên sâu về định
giá tài sản và thẩm định giá tài sản trong tố tụng dân sự Việt Nam theo quy định của
Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Do vậy Luận văn có ý nghĩa khoa học và thực tiễn nhất
định và được thể hiện ở những phương diện sau đây:
- Làm sáng tỏ và phân định được rõ ràng đặc điểm của hoạt động định giá tài
sản và thẩm định giá tài sản trong tố tụng dân sự ở Việt Nam.
9
- Là công trình nghiên cứu chuyên sâu về hoạt động định giá tài sản và thẩm
định giá tài sản trong tố tụng dân sự, luận văn đã chỉ ra đươc những hạn chế của
pháp luật và một số bất cập trong thực tiễn thực hiện các quy định về định giá và
thẩm định giá tài sản trong tố tụng dân sự.
- Trên cơ sở tổng hợp kết quả nghiên cứu, Luận văn đề xuất những giải pháp
cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật về định giá tài sản và thẩm định giá tài sản, nâng
cao hiệu quả của việc áp dụng các biện pháp này trong tố tụng dân sự.
- Luận văn được bảo vệ thành công sẽ là tài liệu tham khảo cho sinh viên
chuyên ngành luật, cho các cán bộ làm công tác thực tiễn liên quan đến hoạt động
định giá tài sản và thẩm định giá tài sản trong tố tụng dân sự.
8. Bố cục của Luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn được
kết cấu bởi 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lí luận chung về định giá tài sản và thẩm định giá tài sản
vụ các mục đích nhất định trong đời sống kinh tế xã hội.
Về khái niệm “Tài sản”, dưới góc độ ngôn ngữ, theo Từ điển tiếng Việt có
định nghĩa “Tài sản là của cải vật chất dùng vào mục đích sản xuất hoặc tiêu
dùng”3. Theo nội dung này thì tài sản được chỉ xem xét dưới dạng vật chất tồn tại
khách quan, gắn với hoạt động sản xuất hoặc tiêu dùng của con người. Về khoa học
pháp lí khái niệm “Tài sản” được nêu trong nhiều văn bản pháp lí, cụ thể nhất là tại
Điều 105 Bộ luật dân sự 2015 có quy định thành một điều luật riêng về “tài sản” bao
gồm: “Vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản”. Do vậy, tài sản được nêu trong
khái niệm rất đa dạng, bao gồm những tài sản hữu hình như: đồ vật, tiền, trái phiếu,
cổ phiếu,… hoặc những tài sản vô hình như: quyền tác giả, quyền sở hữu công
nghiệp, quyền đối với giống cây trồng, quyền đòi nợ,…
Hiện nay cũng có nhiều khái niệm khác nhau về định giá tài sản. Từ điển luật
học đưa ra khái niệm về định giá tài sản là: “Việc ấn định, quyết định cuối cùng về
1 Viện ngôn ngữ học, Trung tâm từ điển học (1994), Từ điển tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội, tr 314.
2 truy cập ngày 19/7/2016.
3 Viện ngôn ngữ học, Trung tâm từ điển học, tlđd chú thích 1, tr 853.
11
giá cả của một sản phẩm, một tài sản”4. Theo khái niệm này thì chúng ta có thể thấy
được một số nội dung cơ bản về mục đích, bản chất của việc định giá tài sản là ấn
định, quyết định về giá cả của tài sản và đây là quyết định cuối cùng có giá trị lâu
dài đối với tài sản đó. Tuy nhiên, khái niệm này chỉ nêu ra bản chất cụ thể của định
giá tài sản, khá cứng nhắc khi cho rằng định giá tài sản đó là quyết định cuối cùng,
trong khi tại thời điểm khác nhau giá trị của tài sản luôn biến đổi theo thời gian. Hay
trong một bài viết khác có đưa ra khái niệm về Định giá tài sản là “Việc tư vấn, định
các mức giá cụ thể cho từng loại tài sản làm căn cứ cho các hoạt động giao dịch
mua, bán tài sản, hàng hóa, dịch vụ đó trên thị trường5. Theo khái niệm này thì mục
đích của định giá tài sản được nêu linh hoạt hơn, tùy theo nội dung của định giá là tư
“giá” thì Từ điển tiếng Việt định nghĩa là “Biểu hiện giá trị bằng tiền”. Do vậy, khi
ghép các cụm từ “thẩm định” và “giá” có thể hiểu, thẩm định giá là việc xem xét,
đánh giá và quyết định mang tính pháp lí bằng văn bản về một đối tượng nào đó
được biểu hiện giá trị bằng tiền. Khi nghiên cứu về thẩm định giá, giới nghiên cứu
học thuật trên thế giới cũng đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về thẩm định giá.
Theo từ điển Oxford: “Thẩm định giá là sự ước tính giá trị bằng tiền của
một vật, của một tài sản”; “là sự ước tính giá trị hiện hành của tài sản trong
kinh doanh”. Theo giáo sư W.Seabrooke - Viện đại học Portsmouth, Vương
quốc Anh: “Thẩm định giá là sự ước tính giá trị của các quyền sở hữu tài sản
cụ thể bằng hình thái tiền tệ cho một mục đích đã được xác định”. Theo Gs.
Lim Lan Yuan – Trường Xây dựng và bất động sản, Đại học quốc gia
Singapore thì: Thẩm định giá là một nghệ thuật hay khoa học về ước tính giá
trị cho một mục đích cụ thể của một tài sản cụ thể tại một thời điểm, có cân
nhắc đến tất cả những đặc điểm của tài sản cũng như xem xét tất cả các yếu tố
kinh tế căn bản của thị trường bao gồm các loại đầu tư lựa chọn9.
Ở Việt Nam cũng có một số bài viết mà tác giả có đưa ra khái niệm về thẩm định
giá, cụ thể như PGS.TS Vũ Trí Dũng, Trưởng Bộ môn Thẩm định giá, Khoa Marketing,
trường Đại học Kinh tế quốc dân có đưa ra định nghĩa thẩm định giá như sau:
Có thể định nghĩa thẩm định giá (Valuation hay Appraisal) là việc ước
tính hay xác định giá trị của một tài sản. Hoặc đó là cách thức mà giá trị một
tài sản được ước tính tại một thời điểm và một địa điểm nhất định. Hay thẩm
định giá là một nghệ thuật hay khoa học về ước tính giá trị cho một mục đích
cụ thể của một tài sản cụ thể tại một thời điểm, có cân nhắc đến tất cả những
đặc điểm của tài sản, cũng như xem xét tất cả các yếu tố kinh tế căn bản của
thị trường bao gồm các loại đầu tư lựa chọn10.
Thông qua một số định nghĩa trên giúp người đọc hiểu được bản chất của thẩm
định giá nhưng cách sử dụng thuật ngữ còn khá trừu tượng, chưa cụ thể và bao quát
được hết nội dung của thẩm định giá tài sản. Vấn đề này tại Pháp lệnh giá số
40/2002/PL-UBTVQH10 ngày 26/4/2002 trong phần giải thích từ ngữ đã khái niệm
điểm, thời gian cụ thể; thẩm định dựa trên cơ sở sử dụng các dữ liệu, các yếu tố của
thị trường,…để đưa ra kết luận về giá.
Do vậy chúng ta có thể hiểu Thẩm định giá tài sản là hoạt động do các cơ
quan, tổ chức có chức năng thẩm định giá tiến hành xác định giá trị bằng tiền của
các loại tài sản được quy định trong Bộ luật dân sự, đảm bảo phù hợp với giá trị thị
trường tại một địa điểm, thời điểm nhất định dựa theo tiêu chuẩn thẩm định giá,
nhằm để phục vụ cho những mục đích khác nhau trong đời sống kinh tế xã hội.
1.2. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của định giá tài sản, thẩm định giá tài
sản trong tố tụng dân sự
1.2.1. Khái niệm định giá tài sản, thẩm định giá tài sản trong tố tụng dân sự
1.2.1.1. Khái niệm định giá tài sản trong tố tụng dân sự
Có thể thấy biện pháp định giá tài sản là một trong những biện pháp thu thập
chứng cứ đã được quy định trong hệ thống văn bản pháp luật tố tụng dân sự (TTDS)
từ lâu và sớm hơn so với quy định về thẩm định giá tài sản. Trên thực tế việc áp
dụng các biện pháp này đã mang lại hiệu quả nhất định trong quá trình giải quyết các
14
vụ việc dân sự (VVDS) thời gian qua và đã có những bài viết, bài nghiên cứu về các
biện pháp này. Nhưng cũng có rất ít tài liệu đưa ra khái niệm đầy đủ về định giá tài
sản và thẩm định giá tài sản trong TTDS.
Theo Giáo trình Luật Tố tụng dân sự Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà
Nội do tác giả Nguyễn Công Bình (chủ biên) có nêu khái niệm về “Định giá tài sản
là việc Tòa án yêu cầu các cơ quan chuyên môn hoặc tổ chức thẩm định giá xác
định giá trị tài sản của vụ việc dân sự”11. Khái niệm này đã bao quát chung về định
giá tài sản, bao gồm việc Tòa án yêu cầu cơ quan chuyên môn, cụ thể là thông qua
việc thành lập Hội đồng định giá tài sản (HĐĐGTS) hoặc yêu cầu tổ chức thẩm định
giá xác định giá trị tài sản, đồng thời nêu rõ chủ thể có quyền yêu cầu thực hiện việc
này là do Tòa án yêu cầu. Tuy nhiên, theo khái niệm này chưa thể hiện rõ quyền tự
định giá tài sản “được tiến hành nhằm xác định giá trị tài sản để giải quyết vụ kiện
dân sự, trong trường hợp đương sự không thỏa thuận được giá trị tài sản tranh chấp
hoặc do tính năng kỹ thuật phức tạp của tài sản phải định giá tài sản mới giải quyết
đúng vụ kiện dân sự”14. Nội dung này giúp người đọc hiểu rõ về mục đích và các
trường hợp tiến hành định giá tài sản trong quá trình giải quyết các VVDS.
Căn cứ vào quy định pháp luật hiện hành về định giá tài sản trong Bộ luật tố
tụng dân sự năm 2015 (sau đây viết tắt là BLTTDS 2015) và qua việc tìm hiểu, phân
tích một số khái niệm nêu trên có thể hiểu Định giá tài sản là biện pháp thu thập
chứng cứ do một hoặc các bên đương sự yêu cầu Tòa án áp dụng hoặc Tòa án áp
dụng trong trường hợp pháp luật TTDS quy định nhằm xác định giá trị tài sản trong
vụ việc dân sự, để làm căn cứ cho việc giải quyết quan hệ nội dung có tranh chấp
trong vụ việc dân sự đang giải quyết tại Tòa án.
1.2.1.2. Khái niệm thẩm định giá tài sản trong tố tụng dân sự
Thẩm định giá tài sản xuất hiện trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam từ
năm 1998, tuy nhiên, sự tiếp cận vấn đề này ở nước ta còn khá ít cả về lý thuyết và
kinh nghiệm thực tế. Theo Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam của tác giả Bùi
Thị Thanh Hằng thì khái niệm về thẩm định giá tài sản được nêu khá chung chung
và được gộp vào khái niệm với định giá tài sản, đều là việc xác định giá trị tài sản
tranh chấp dẫn đến khó phân biệt với định giá tài sản15. Trong một bài viết, tác giả
Tưởng Duy Lượng có nêu khái niệm về thẩm định giá tài sản “chính là hoạt động
xem xét, đánh giá và đưa ra kết luận mang tính pháp lí bằng văn bản về giá của đối
tượng cần xác định”16. Trong Luận văn thạc sĩ luật học tác giả Nguyễn Văn Thành
cũng có đưa ra khái niệm về thẩm định giá tài sản có thể được hiểu là: “hoạt động
xem xét, đánh giá và đưa ra kết luận mang tính pháp lí bằng văn bản của tổ chức
thẩm định về giá của đối tượng cần xác định”17. Có thể thấy hai khái niệm này đã
chỉ rõ nội dung của hoạt động thẩm định giá là xem xét, đánh giá và đưa ra kết luận
về giá của đối tượng cần xác định nhưng vẫn còn khá chung.
Theo quy định tại Điều 104 BLTTDS 2015 có thể thấy, biện pháp thẩm định
giá tài sản được áp dụng do các đương sự tự thỏa thuận lựa chọn tổ chức thẩm định
định giá tài sản hay yêu cầu tổ chức thẩm định giá định giá tài sản. Mặt khác, trong
những điều kiện nhất định thỏa mãn quy định trong pháp luật TTDS Tòa án cũng có
quyền áp dụng biện pháp định giá tài sản. Điều này khác với điều kiện áp dụng biện
pháp định giá tài sản trong pháp luật Tố tụng hình sự (TTHS), theo đó để thực hiện
nhiệm vụ của mình trong việc điều tra, truy tố,… cơ quan tiến hành tố tụng hình sự như
Công an, Viện kiểm sát có quyền yêu cầu tiến hành định giá tài sản khi cần thiết.
Thứ hai, Về trình tự, thủ tục áp dụng định giá và thẩm định giá tài sản phải tuân
theo quy định của pháp luật TTDS. Việc quy định chặt chẽ thủ tục áp dụng các biện
pháp này sẽ tạo căn cứ pháp lí để hoạt động này có hiệu quả và chứng cứ thu thập được
khi áp dụng biện pháp định giá, thẩm định giá tài sản có giá trị. So với một số biện pháp
thu thập chứng cứ khác như: đối chất, lấy lời khai, xác minh,… pháp luật không quy
định rõ về trình tự thủ tục thực hiện các biện pháp này mà chủ yếu do các Thẩm phán tự
chủ động lấy lời khai những nội dung cần thiết để làm sáng tỏ nội dung VVDS.
Thứ ba, Về chủ thể tiến hành việc định giá và thẩm định giá tài sản trong
TTDS. Đối với việc định giá tài sản thì Tòa án ra quyết định thành lập Hội đồng
định giá tài sản (HĐĐGTS), thành phần là đại diện các cơ quan chuyên môn theo
luật định, hội đồng này tự giải thể sau khi hoàn thành xong công việc. Điều này khác
17
với HĐĐGTS trong pháp luật TTHS, theo đó HĐĐGTS do chủ tịch Ủy ban nhân
dân (UBND) cùng cấp có thẩm quyền ra quyết định thành lập và đây là là một tổ
chức tồn tại thường xuyên, không tự giải thể sau khi hoàn thành xong công việc.
Đối với biện pháp thẩm định giá tài sản thì chủ thể tiến hành định giá là do tổ
chức thẩm định giá được thành lập hợp pháp có thẩm quyền tiến hành định giá tài
sản theo yêu cầu của đương sự hoặc của Tòa án yêu cầu tiến hành. Trong khi đó chủ
thể của một số biện pháp thu thập chứng cứ khác như biện pháp lấy lời khai, đối
chất, ủy thác thu thập chứng cứ,… do các thẩm phán thực hiện; biện pháp trưng cầu
giám định thì do các giám định viên ở các trung tâm giám định được thành lập hợp
ở mỗi tỉnh trên địa bàn đó tại mỗi thời điểm nhất định. Thẩm định giá chỉ xác định
duy nhất một mức giá tài sản tại một địa điểm, thời điểm nhất định dựa theo tiêu
chuẩn thẩm định giá (được quy định thành các tiêu chuẩn cụ thể và phù hợp với điều
kiện kinh tế, xã hội mỗi nước đồng thời phù hợp với thông lệ quốc tế).
Thứ hai, về nguyên tắc tiến hành để xác định giá
Để đảm bảo việc định giá được chính xác, khách quan và thống nhất, pháp luật
hiện hành đã có những quy định cụ thể về nguyên tắc tiến hành định giá, thẩm định
giá tài sản18. Thông thường định giá tài sản phải đảm bảo nguyên tắc cơ bản sau đây:
Định giá tài sản phải dựa trên các tiêu chuẩn kỹ thuật, thực trạng của tài sản; phù
hợp với giá thị trường nơi có tài sản tại thời điểm định giá ; Định giá tài sản bảo đảm
khách quan, trung thực và đúng quy định pháp luật…
Trong khi đó thẩm định giá tài sản phải dựa theo nguyên tắc nhất định như:
Tuân thủ pháp luật, tiêu chuẩn thẩm định giá Việt Nam; bảo đảm tính độc lập về
chuyên môn nghiệp vụ và tính trung thực, khách quan của hoạt động thẩm định giá;
Bảo mật các thông tin của đơn vị được thẩm định giá, trừ trường hợp đơn vị được
thẩm định giá đồng ý hoặc pháp luật có quy định khác…
Thứ ba, Về các phương pháp cụ thể khi tiến hành định giá, thẩm định giá tài sản.
Thông thường HĐĐGTS chủ yếu thực hiện theo các phương pháp cơ bản như:
phương pháp so sánh trực tiếp; phương pháp thu nhập;... Do hiện nay HĐĐGTS
được thành lập đối với từng VVDS và giải thể khi hoàn thành nhiệm vụ, đồng thời
các thành viên HĐĐGTS chủ yếu là cá nhân làm việc tại các cơ quan chuyên môn,
không có kiến thức chuyên sâu về định giá, do vậy quá trình định giá một số trường
hợp HĐĐGTS thường xem xét giá trị tài sản trên cơ sở tham khảo giá tài sản được
quy định theo bảng giá, khung giá Nhà nước quy định tương ứng với tài sản đó tại
thời điểm định giá.
Thẩm định giá tài sản được thực hiện dựa theo nhiều phương pháp khác nhau
như: phương pháp so sánh; phương pháp chi phí; phương pháp thu nhập; phương
pháp lợi nhuận; phương pháp thặng dư. Quá trình xác định giá tài sản các thẩm định
viên thường sử dụng nhiều phương pháp kết hợp và nhiều quá trình khác nhau để
tổng hợp để đưa ra kết luận về giá tài sản sát phù hợp với thị trường và có giá trị
đương sự không thống nhất về giá trị tài sản,… Do đó, việc Tòa án áp dụng biện pháp
định giá, thẩm định giá tài sản trong trường hợp luật định sẽ góp phần thu thập, bổ
sung đầy đủ chứng cứ trong hồ sơ VVDS, đảm bảo phù hợp với thực tế.
Đảm bảo việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự: Trong quá trình
yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết VVDS, không phải trường hợp nào đương sự
cũng có thể cung cấp đầy đủ tài liệu chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình,
pháp luật TTDS đã quy định cho đương sự có quyền yêu cầu Tòa án hỗ trợ đương sự
trong hoạt động thu thập chứng cứ khi đương sự “tự mình không thể thực hiện
được”. Đây được coi là một nội dung quan trọng trong việc bảo đảm bảo vệ kịp thời
quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự. Do đó, trong trường hợp nhất định việc bổ
sung thêm quy định của Tòa án trong việc hỗ trợ đương sự để áp dụng biện pháp
định giá, thẩm định giá tài sản nói riêng có tác dụng rất lớn trong hỗ trợ các đương
sự thu thập chứng cứ và bảo vệ quyền lợi ích của mình.
Đối với xã hội: Tòa án là một cơ quan trung tâm trong hệ thống các cơ quan tư
pháp có chức năng, vai trò bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo đảm công lý
được thực thi, góp phần giữ vững ổn định trật tự, an toàn xã hội, tạo môi trường
pháp lí trong xã hội. Việc Tòa án hỗ trợ đương sự trong việc thu thập chứng cứ thể
20
hiện chức năng của xã hội của nhà nước nhằm duy trì ổn định xã hội. Đồng thời,
việc ghi nhận kết quả của trung tâm thẩm định giá góp phần thúc đẩy vai trò và sự
phát triển của các trung tâm thẩm định giá hiện nay ở nước ta. Việc xác định đúng
giá trị tài sản góp phần cho Thẩm phán xem xét và ra quyết định, bản án được chính
xác, khách quan và đúng quy định pháp luật, tránh gây bức xúc cho đương sự, không
ảnh hưởng đến dư luận xã hội, đồng thời góp phần tăng cường vai trò quản lí của
Nhà nước về giá trong sự phát triển của nền kinh tế nước ta.
1.3. Cơ sở của quy định pháp luật về định giá tài sản, thẩm định giá tài
sản trong tố tụng dân sự ở Việt Nam
Đức,…Trong đó pháp luật TTDS luôn đề cao vai trò chủ động của thẩm phán trong
việc chứng minh sự việc. Trước khi mở phiên tòa, hầu hết tất cả các tài liệu, chứng
cứ, các tình tiết đều được điều tra, thu thập đầy đủ và phản ánh trong hồ sơ vụ án.
Thẩm phán trong tố tụng xét hỏi là người điều khiển, chủ tọa phiên tòa. Tại phiên
tòa thẩm phán thẩm tra lại tính hợp pháp và tính có căn cứ của các chứng cứ, tài liệu
có trước khi mở phiên tòa và làm rõ thêm các tình tiết vụ án thông qua việc xét hỏi,
hướng dẫn cho các bên đương sự tranh luận với nhau về đánh giá chứng cứ, căn cứ
pháp lí và đề xuất hướng giải quyết vụ án21. Trường hợp mà trước khi mở phiên tòa
nếu các đương sự gặp khó khăn trong việc cung cấp chứng cứ thì Tòa án sẽ hỗ trợ
thu thập chứng cứ nếu các đương sự có yêu cầu; hoặc trong những trường hợp cần
thiết Tòa án tự mình áp dụng biện pháp cần thiết như trưng cầu giám định, yêu cầu
cơ quan chuyên môn tiến hành định giá, thẩm định giá tài sản.
Cụ thể trong BLTTDS Pháp năm 1806, sau nhiều lần sửa đổi pháp luật vẫn ghi
nhận và ngày càng hoàn thiện hơn các quy định về các biện pháp thẩm cứu. Điều
144 của Bộ luật này có nêu: “Thẩm phán có thể quyết định thực hiện các biện pháp
thẩm cứu ở giai đoạn sơ thẩm cũng như phúc thẩm, khi thẩm phán không có đủ các
yếu tố cần thiết để xét xử”22. Đồng thời tại các Điều 146, 148 cũng ghi nhận việc
thẩm phán có thể phối hợp nhiều biện pháp thẩm cứu và việc áp dụng các biện pháp
thẩm cứu dược thực hiện đối với một sự việc mà các bên đương sự nêu ra nhưng
không có đầy đủ các yếu tố cần thiết để chứng minh… Do vậy việc áp dụng các biện
pháp thẩm cứu do thẩm phán tự thực hiện khi thấy cần thiết để làm rõ các yếu tố cần
thiết để xét xử.
Vấn đề này cũng được quy định tại khoản 1 Điều 57 BLTTDS Liên bang Nga
ban hành ngày 11/6/1964, qua nhiều lần sửa đổi Bộ luật đã hoàn thiện hơn, theo đó
về việc thu thập chứng cứ Bộ luật có quy định: “Trong trường hợp những người
tham gia tố tụng gặp khó khăn trong việc xuất trình chứng cứ, theo yêu cầu của họ,
Tòa án có thể giúp đỡ trong việc thu thập và yêu cầu cung cấp chứng cứ”23. Ngoài
ra, trong các Điều 79, 150 của Bộ luật này có nêu trong một số trường hợp nhất định
Tòa án có thể tự mình tiến thu hành thu thập chứng cứ như tiến hành trưng cầu giám
cứ trong BLTTDS 2015.
1.3.2. Việc xây dựng quy định về định giá, thẩm định giá tài sản xuất phát từ
việc đảm bảo quyền tiếp cận công lý, quyền tự định đoạt của đương sự
Pháp luật TTDS vừa là công cụ hữu hiệu để điều chỉnh các quan hệ xã hội đã,
đang và sẽ xảy ra trong cuộc sống thông qua hoạt động tố tụng của các chủ thể tham
gia, đồng thời nó là phương tiện hữu hiệu để người dân có thể sử dụng hiệu quả để
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Theo đó, mỗi công dân đều có quyền yêu
cầu cơ quan Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để sử dụng pháp luật nhằm mục đích
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình tại các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
Quá trình đương sự nộp đơn khởi kiện cho đến khi có kết quả phán quyết và
thi hành phán quyết của Tòa án đã phát sinh quá trình yêu cầu Tòa án thực thi công
lý của công dân, do đó, pháp luật cần quy định rõ trường hợp đương sự có quyền tự
định đoạt, tiếp cận các quy định pháp luật để bảo vệ quyền lợi của mình. Trong việc
xác định giá trị tài sản cần tôn trọng sự thỏa thuận của đương sự khi cung cấp thông
24 Nguyễn Văn Cường, Nguyễn Thị Mai (2011), Một số vấn đề về thẩm quyền xét xử và thu thập chứng cứ
của Cộng hòa liên bang Đức”, Tòa án nhân dân kỳ I, (1), tr 43-44.
25 Nguyễn Minh Hằng, tlđd chú thích số 20, tr 186.
23
tin về giá tài sản. Tuy nhiên, không phải trong mọi trường hợp đương sự đều có thể
cung cấp đầy đủ chứng cứ hoặc thu thập không chính xác như: việc xác định giá trị
tài sản quá thấp hoặc quá cao… Điều này dẫn đến hệ quả đương sự không thể bảo vệ
được yêu cầu khởi kiện của mình, quyền tiếp cận công lý cũng bị ảnh hưởng. Do
vậy, khi cần thiết phải có những chủ thể khác hỗ trợ việc xác định giá trị tài sản như
HĐĐGTS hoặc các tổ chức thẩm định giá tài sản tiến hành định giá tài sản để xác
định giá trị tài sản đang tranh chấp. Đây là cơ sở để pháp luật ghi nhận cho đương sự
có quyền yêu cầu Tòa án tiến hành ra quyết định định giá hoặc yêu cầu tổ chức thẩm
định giá tài sản để xác định giá trị tài sản.
1.3.4. Xây dựng quy định về định giá, thẩm định giá tài sản xuất phát từ
nhiệm vụ quyền hạn của Tòa án trong TTDS
Theo Điều 102 Hiến pháp năm 2013 có nêu rõ Tòa án là cơ quan xét xử của
nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp, nhằm bảo vệ
công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa,
bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Khi
giải quyết Tòa án dựa trên các chứng cứ, tình tiết liên quan đến sự việc có tranh chấp
để xem xét giải quyết. Do đó, trong quá trình giải quyết các VVDS bên cạnh việc
các bên đương sự cung cấp chứng cứ chứng minh cho yêu cầu và bảo vệ quyền lợi
của mình thì trong trường hợp cần thiết khi họ không thể tự mình thu thập được có
thể yêu cầu Tòa án hỗ trợ. Trường hợp đương sự không tự xác định được giá trị tài
sản tranh chấp để có căn cứ xem xét giải quyết vụ việc dân sự thì đương sự có quyền
yêu cầu Tòa án ra quyết định định giá tài sản hoặc yêu cầu tổ chức thẩm định giá
tiến hành định giá tài sản. Ngoài ra để đảm bảo cho việc giải quyết VVDS được
khách quan, công bằng, thuyết phục, bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của công dân
pháp luật còn ghi nhận cho Tòa án áp dụng biện pháp này khi cần thiết. Như vậy,
việc hỗ trợ đương sự trong việc xác định giá trị tài sản vừa phù hợp với chức năng
của Tòa án vừa đảm bảo Tòa án có căn cứ xem xét tính khách quan kết quả định giá
đảm bảo việc giải quyết VVDS đúng quy định pháp luật và có sức thuyết phục.
1.4. Sơ lược về sự hình thành quy định về định giá tài sản và thẩm định
giá tài sản trong tố tụng dân sự
1.4.1.1. Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1989
Tại thời điểm này trong lĩnh vực TTDS cũng có những quy định về vai trò
chứng minh trong các VVDS, tuy nhiên chỉ quy định trách nhiệm chung trong việc
chứng minh của đương sự và Tòa án, chưa nêu rõ các trình tự thủ tục, các phương
pháp thu thập chứng cứ... Trong đó, pháp luật quy định khá rõ về trách nhiệm thu
thập chứng cứ của Tòa án một cách chủ động và tích cực, thẩm phán được áp dụng
“mọi biện pháp” để làm sáng tỏ sự thật khi giải quyết. Theo văn bản hướng dẫn về
trình tự xét xử sơ thẩm về dân sự kèm theo Thông tư số 96/NC/PL ngày 08/02/1977
của TANDTC hướng dẫn “khi đương sự khởi tố, Tòa án nhân dân phải tích cực, chủ
định này phần nào đã hạn chế quyền của các đương sự trong việc thực hiện quyền tự
định đoạt của mình.
Tuy nhiên, trong PLTTGQCVADS có bổ sung thêm trường hợp là ngoài việc
Tòa án tự mình tiến hành khi thấy cần thiết thì đương sự trong vụ án dân sự cũng có
quyền yêu cầu Tòa án tiến hành biện pháp điều tra cần thiết. Theo Điều 20 và Điều
38 của Pháp lệnh có quy định về biện pháp điều tra trước khi hòa giải, xét xử bằng
việc “Yêu cầu cơ quan chuyên môn định giá hoặc lập hội đồng định giá tài sản có
tranh chấp”. Quy định này đã bổ sung thêm cho đương sự quyền tự định đoạt của
mình trong việc yêu cầu Tòa án hỗ trợ thu thập chứng cứ.
Mặc dù các pháp lệnh lần đầu đã có những quy định cụ thể về định giá tài sản
nhưng các quy định này chỉ dừng ở quyền yêu cầu của đương sự và sự chủ động tiến
hành định giá của Tòa án nhưng lại không có những quy định cụ thể về trình tự, thủ
tục, thẩm quyền cũng như quyền, nghĩa vụ của các chủ thể có liên quan trong việc
thực hiện định giá tài sản… Do vậy, thực tiễn việc áp dụng các quy định này trong