BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
HOÀNG TIẾN MINH
CÁC TỘI CỐ Ý XÂM PHẠM TÍNH MẠNG CON
NGƯỜI TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - NĂM 2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
HOÀNG TIẾN MINH
CÁC TỘI CỐ Ý XÂM PHẠM TÍNH MẠNG CON
NGƯỜI TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số
Ban giám hiệu cùng quý thầy cô Trường Đại học Luật Hà Nội, các Giáo
sư, Phó Giáo sư, Tiến sỹ đã tận tình giảng dạy, truyền đạt nhiều kiến thức, kinh
nghiệm quý báu trong suốt thời gian học tập tại trường.
Cám ơn Khoa Sau đại học, Trường Đại học Luật Hà Nội thực hiện quản
lý đào tạo, cung cấp thông tin cần thiết về quy chế đào tạo cũng như chương
trình đào tạo một cách kịp thời, tạo điều kiện giúp tôi hoàn thành luận văn này
đúng tiến độ.
Cám ơn Toà án nhân dân tối cao và các Toà án nhân dân địa phương đã
giúp đỡ rất nhiều để tôi hoàn thành luận văn này.
Đặc biệt, tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến cô giáo PGS. TS Dương Tuyết
Miên đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện
luận văn.
Cám ơn bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã động viên giúp đỡ tôi trong
suốt thời gian học tập.
Tác giả luận văn
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLHS
Bộ luật hình sự
CTTP
Cấu thành tội phạm
HĐTP
Hội đồng thẩm phán
Chương 1. Qui định của luật hình sự Việt Nam về các tội cố ý xâm phạm tính mạng
7
con người có dấu hiệu hậu quả chết người là dấu hiệu bắt buộc của CTTP cơ bản
1.1.
Qui định của BLHS năm 1999 về các tội cố ý xâm phạm tính mạng
8
con người có dấu hiệu hậu quả chết người là dấu hiệu bắt buộc của CTTP cơ bản
1.1.1. Tội giết người
8
1.1.2. Tội giết con mới đẻ
23
1.1.3. Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh
29
1.1.4. Tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng
33
1.1.5. Tội làm chết người trong khi thi hành công vụ
con người không có dấu hiệu hậu quả chết người là dấu hiệu bắt buộc của CTTPcơ bản
2.1.1. Tội bức tử
49
2.1.2. Tội xúi giục hoặc giúp người khác tự sát
55
2.1.3. Tội đe doạ giết người
60
2.1.4. Tội lây truyền HIV cho người khác
64
2.1.5. Tội cố ý truyền HIV cho người khác
69
2.1.6. Phương hướng hoàn thiện qui định của BLHS năm 1999 về các tội cố ý xâm phạm 71
tính mạng con người không có dấu hiệu hậu quả chết người là dấu hiệu bắt buộc của
CTTP cơ bản
2.2. Đánh giá qui định của BLHS năm 2015 về các tội cố ý xâm phạm tính mạng con
người không có dấu hiệu hậu quả chết người là dấu hiệu bắt buộc của CTTP cơ bản và
72
doạ cuộc sống bình yên của nhân dân. Theo thống kê của Toà án nhân dân tối cao, trên
phạm vi toàn quốc: năm 2011, đã xét xử 1.510 vụ phạm các tội cố ý xâm phạm tính
mạng con người với 2.886 bị cáo chiếm 84,3 % tổng số vụ xâm phạm tính mạng con
người; năm 2012 đã xét xử 1.709 vụ phạm các tội cố ý xâm phạm tính mạng con người
với 3.272 bị cáo chiếm 92,9 % tổng số vụ xâm phạm tính mạng con người; năm 2013
đã xét xử 1.565 vụ với 2.872 bị cáo phạm các tội cố ý xâm phạm tính mạng con người
chiếm 93,9 % tổng số vụ các tội xâm phạm tính mạng con người; năm 2014 đã xét xử
1.547 vụ với 3.097 bị cáo phạm các tội cố ý xâm phạm tính mạng con người chiếm
92,0 % tổng số vụ xâm phạm tính mạng con người; năm 2015 đã xét xử 1.237 vụ với
2.374 bị cáo chiếm 91,0 % tổng số vụ xâm phạm tính mạng con người1. Số liệu này
cho ta thấy số vụ cố ý xâm phạm tính mạng con người chiếm tỉ lệ rất cao trong nhóm
các tội xâm phạm tính mạng con người. Để ngăn chặn có hiệu quả các tội cố ý xâm
phạm tính mạng con người, Nhà nước cần thực hiện tổng thể các biện pháp khác nhau
1 Số liệu từ phòng tổng hợp, Tòa án nhân dân tối cao
trong đó, biện pháp hoàn thiện BLHS đóng vai trò cực kì quan trọng. Vì vậy, vấn đề
đặt ra là cần nghiên cứu các quy định của BLHS hiện hành, đặc biệt là quy định về các
tội cố ý xâm phạm tính mạng con người để đánh giá, tìm ra những điểm hạn chế, bất
cập trên cơ sở đó, đề xuất những biện pháp cụ thể nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu
quả công tác phòng và đấu tranh chống loại tội phạm này.
Chính vì những lý do trên, tác giả đã lựa chọn đề tài “Các tội cố ý xâm phạm
tính mạng của con người trong pháp luật Hình sự Việt Nam” là luận văn thạc sỹ
của mình.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Các tội cố ý xâm phạm tính mạng con người là một vấn đề dành được nhiều sự
quan tâm nghiên cứu của các nhà nghiên cứu, nhà làm thực tiễn trong lĩnh vực hình sự.
Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu tiêu biểu có liên quan đến đề tài như:
* Luận án Tiến sĩ luật học gồm có:
sự năm 1999”, tác giả Đặng Thu Hiền, tạp chí dân chủ và pháp luật, số chuyên đề 7,
năm 2010;
+ “Những điểm mới cơ bản về các tội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân
phẩm, danh dự của con người trong Bộ luật Hình sự năm 1999”, tác giả Trần Văn
Luyện, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 3, năm 2001;
+ “Cần có hướng dẫn cụ thể về trường hợp không cứu giúp người đang ở trong
tình trạng nguy hiểm đến tính mạng được coi là tội phạm” Nguyễn Văn Bốn, Tạp chí
Kiểm sát nhân dân, Số 11, năm 2002;
+“Phân biệt tội giết người với một số tội phạm khác xâm phạm tính mạng con
người”, tác giả Đỗ Đức Hồng Hà, Tạp chí Toà án nhân dân tối cao, Số 2 và 4, năm
2003;
+ “Dấu hiệu thấy người khác đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng
quy định tại điều 102 Bộ luật Hình sự”, tác giả Nguyễn Văn Hương, Tạp chí Toà án
nhân dân tối cao, số 5, năm 2004;
+ “Bàn về trách nhiệm hình sự đối với hành vi chống người thi hành công vụ và
xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm người thi hành công vụ hoặc vì lý
do công vụ của nạn nhân”, tác giả Mai Bộ, Tạp chí Kiểm sát nhân dân, số 17, năm
2014…
Ngoài ra, các giáo trình của các cơ sở đào tạo luật trên cả nước đều đề cập đến
nhóm các tội cố ý xâm phạm tính mạng con người như: Giáo trình Luật Hình sự Việt
Nam, tập 1 của Trường ĐH Luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2006; Giáo
trình Luật Hình sự Việt Nam của Khoa Luật, Đại học quốc gia Hà Nội, Nxb Đại học
quốc gia Hà Nội, 2002; Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam, phần các tội phạm của Học
viện Cảnh sát nhân dân, Nxb Công an Nhân dân, Hà Nội, năm 2012… Bên cạnh đó,
một số sách bình luận khoa học về BLHS cũng đề cập đến nhóm tội này.
Nhìn chung, các đề tài, công trình nghiên cứu trên đã đề cập ở các mức độ khác
nhau đến nhóm tội cố ý xâm phạm tính mạng con người dưới góc độ pháp lý hình sự.
Tuy nhiên, chưa có công trình nào ở cấp độ luận văn thạc sĩ nghiên cứu toàn diện về
1999 mà BLHS năm 2015 vẫn chưa giải quyết được hoặc giải quyết chưa triệt để, từ
đó đề xuất kiến nghị hoàn thiện BLHS năm 2015.
4. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các qui định của BLHS năm 1999 về các
tội cố ý xâm phạm tính mạng con người; bên cạnh đó, luận văn cũng nghiên cứu qui
định của BLHS năm 2015 đối với các tội cố ý xâm phạm tính mạng con người.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu dưới góc độ Luật hình sự. Tác giả tập trung nghiên
cứu qui định chương XII của BLHS năm 1999 về các tội cố ý xâm phạm tính mạng
con người2, bên cạnh đó, tác giả cũng nghiên cứu, đánh giá qui định tương ứng của
BLHS năm 2015 về nhóm tội này.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận tác giả sử dụng nghiên cứu luận văn là phương pháp luận của
chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh, các
quan điểm của Đảng, chính sách của Nhà nước về hình sự và cải cách tư pháp.
Phương pháp nghiên cứu được tác giả sử dụng là phương pháp phân tích, so
sánh, tổng hợp, lịch sử,…
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Về mặt lý luận, luận văn đã nghiên cứu qui định của các tội cố ý xâm phạm tính
mạng con người trong BLHS năm 1999 một cách có hệ thống và tương đối toàn diện,
từ đó, tìm ra những bất cập của BLHS năm 1999, đề xuất kiến nghị hoàn thiện. Trên
cơ sở đánh giá qui định của BLHS năm 2015, tác giả đã tìm ra những điểm mới và
những điểm hạn chế còn tồn tại của BLHS năm 2015, từ đó đưa ra những phương
hướng, kiến nghị nhằm hoàn thiện qui định của BLHS năm 2015 và nâng cao hiệu quả
thi hành trong thời gian tới.
2 Phạm vi nghiên cứu của luận văn chỉ tập trung vào chương XII – Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh
dự, nhân phẩm của con người. Do khuôn khổ luận văn thạc sĩ giới hạn về số trang, do vậy, trong BLHS năm
1999 cũng có một số tội phạm, người phạm tội có hành vi xâm phạm tính mạng con người với lỗi cố ý, ví dụ tội
khủng bố (Đ230a), nhưng tác giả không tiến hành nghiên cứu.
Nhóm thứ nhất - Các tội cố ý xâm phạm tính mạng con người có dấu hiệu hậu
quả chết người là dấu hiệu bắt buộc của CTTP cơ bản. Nhóm này gồm các tội sau: a)
Tội giết người (Điều 93); b) Tội giết con mới đẻ (Điều 94); c)Tội giết người trong
trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (Điều 95); d) Tội giết người do vượt quá phòng
vệ chính đáng (Điều 96); đ) Tội làm chết người trong khi thi hành công vụ (Điều 97);
e) Tội không cứu giúp người đang ở tình trạng nguy hiểm đến tính mạng (Điều 102).
Nhóm thứ hai - Các tội cố ý xâm phạm tính mạng con người không có dấu hiệu
hậu quả chết người là dấu hiệu bắt buộc của CTTP cơ bản. Nhóm này bao gồm các tội:
a) Tội bức tử (Điều 100); b) Tội xúi giục hoặc giúp người khác tự sát (Điều 101); c)
Tội đe doạ giết người (Điều 103); d) Tội lây truyền HIV cho người khác (Điều 117);
đ) Tội cố ý truyền HIV cho người khác (Điều 118).
Qui định về các tội cố ý xâm phạm tính mạng con người gồm có dấu hiệu pháp
lí và đường lối xử lý. Do vậy, tại chương 1, tác giả sẽ làm rõ các dấu hiệu pháp lí,
3 Các tội cố ý xâm phạm tính mạng của con người tại chương XII bao gồm các tội danh sau:
1. Tội giết người (Điều 93);
2. Tội giết con mới đẻ (Điều 94);
3. Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (Điều 95);
4. Tội giết người do vượt quá phòng vệ chính đáng (Điều 96);
5. Tội làm chết người trong khi thi hành công vụ (Điều 97);
6. Tội bức tử (Điều 100);
7. Tội xúi giục hoặc giúp người khác tự sát (Điều 101);
8. Tội không cứu giúp người đang ở tình trạng nguy hiểm đến tính mạng (Điều 102);
9. Tội đe doạ giết người (Điều 103);
10. Tội lây truyền HIV cho người khác (Điều 117);
11. Tội cố ý truyền HIV cho người khác (Điều 118).
đường lối xử lý của nhóm thứ nhất; tại chương 2, tác giả sẽ làm rõ dấu hiệu pháp lí,
đường lối xử lý đối với nhóm tội thứ hai nói trên.
1.1. Qui định của BLHS năm 1999 về các tội cố ý xâm phạm tính mạng con
6 Đỗ Đức Hồng Hà (2008), “Tội giết người và đấu tranh phòng chống tội phạm giết người ở Việt Nam trong giai
đoạn hiện nay”, Nxb Tư Pháp, Hà Nội, tr. 24
thừa nhận tư cách làm con người của công dân nước mình bắt đầu từ khi đứa bé được
sinh ra, rời khỏi cơ thể người mẹ và kết thúc bằng cái chết của con người đó.”7
Bên cạnh đó, chúng ta cũng cần hiểu thế nào về thời điểm kết thúc sự sống hay
còn gọi là thời điểm một người bị coi là đã chết? Thời điểm kết thúc sự sống chính là ở
“thời điểm ngừng vĩnh viễn các tín hiệu của sự sống của một con người, cụ thể là tim
ngừng đập, phổi ngừng thở, không còn hoạt động điện não.”8 Đây chính là thời điểm
con người đã chết sinh vật và sự sống lúc này đã ở giai đoạn cuối cùng, hoàn toàn
không còn khả năng để phục hồi.
Hiện nay, trong cấu thành tội phạm (CTTP) cơ bản của tội giết người được qui
định tại Điều 93, Khoản 2 BLHS chưa mô tả cụ thể dấu hiệu định tội của tội này. “Qua
thực tiễn xét xử, có thể hiểu tội giết người là hành vi cố ý tước đoạt trái pháp luật tính
mạng người khác”9. Qua định nghĩa này, chúng ta có thể xác định tội giết người có
những dấu hiệu pháp lí đặc trưng sau:
Về mặt khách quan của tội giết người:“Mặt khách quan của tội phạm là mặt
bên ngoài của tội phạm, bao gồm những biểu hiện của tội phạm diễn ra hoặc tồn tại
bên ngoài thế giới khách quan”10. Từ nhận thức chung về mặt khách quan của tội
phạm, có thể hiểu, mặt khách quan của tội giết người bao gồm: Hành vi khách quan
của tội giết người; hậu quả nguy hiểm cho xã hội của tội giết người và quan hệ nhân
quả giữa hành vi và hậu quả đó.
Thứ nhất, hành vi khách quan của tội giết người là hành vi tước đoạt trái pháp
luật tính mạng của người khác. Như vậy, hành vi khách quan của tội giết người phải
thoả mãn hai điều điều kiện: Một là, hành vi khách quan của tội giết người phải là
những biểu hiện của con người ra bên ngoài thế giới khách quan được ý thức kiểm
soát và ý chí điều khiển; Hai là, hành vi đó phải là hành vi tước đoạt tính mạng của
người khác một cách trái pháp luật. Nếu hành vi tước đoạt tính mạng con người
không trái pháp luật (như trường hợp thi hành án tử hình, phòng vệ chính đáng, tình
con dao xuống cổ chị Dụ cắt sang trái và sang phải 2 – 3 lần rồi vứt dao xuống nền
nhà, hậu quả là chị Dụ chết ngay tại chỗ...”12
Nếu hậu quả chết người không xảy ra vì nguyên nhân khách quan ngoài ý muốn
thì chia làm các trường hợp sau:
- Đối với lỗi cố ý trực tiếp, nếu hậu quả chết người không xảy ra vì lý do khách
quan thì người thực hiện hành vi phải chịu trách nhiệm như sau:
+ Trường hợp người phạm tội đã thực hiện đã chuẩn bị công cụ, phương tiện
hoặc tạo ra những điều kiện cần thiết khác để thực hiện tội giết người hoặc là thành
lập, tham gia nhóm tội phạm giết người để giết người nhưng không thực hiện được
hành vi khách quan của tội giết người do nguyên nhân khách quan, ngoài ý muốn chủ
quan của người phạm tội. Trường hợp này, người phạm tội đã phạm tội giết người
thuộc trường hợp chuẩn bị phạm tội.
11 Trường Đại học luật Hà Nội (2014), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, Tập 1, Nxb Công an nhân dân, Hà
Nội, tr.377.
12 Bản án HSST số 33/2016/HSST ngày 6 tháng 4 năm 2016 của Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An
+ Trường hợp người phạm tội đã thực hiện đầy đủ hành vi cho là cần thiết nhằm
mục đích tước đoạt tính mạng của người khác nhưng nạn nhân không chết do nguyên
nhân ngoài ý muốn của người phạm tội. Ví dụ như sau khi đâm nạn nhân nhiều nhát,
nghĩ là nạn nhân đã chết, đối tượng bỏ đi nhưng sau đó, nạn nhân được người khác
phát hiện đưa đi cấp cứu nên còn sống. Trường hợp này, người phạm tội đã phạm tội
giết người thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt đã hoàn thành.
+ Trường hợp người phạm tội đang thực hiện hành vi khách quan của tội giết
người (đã thực hiện hành vi khách quan, nhưng chưa thực hiện hết) thì bị dừng lại do
nguyên nhân khách quan ngoài ý muốn của người phạm tội và hậu quả chết người
chưa xảy ra. Trường hợp này, người phạm tội đã phạm tội giết người thuộc trường hợp
phạm tội chưa đạt chưa hoàn thành.
+ Trường hợp sai lầm về đối tượng tác động. Ví dụ người phạm tội buổi đêm
lén lút vào phòng của chủ tài sản và lao tới bóp cổ nạn nhân, tin rằng nạn nhân đã chết,
người với lỗi cố ý trực tiếp, người phạm tội thấy trước hậu quả chết người tất yếu xảy
ra hoặc có thể xảy ra; còn ở trường hợp giết người với lỗi cố ý gián tiếp, người phạm
tội có thái độ chỉ là thấy trước hậu quả chết người có thể xảy ra.
Ví dụ: Ông Nguyễn Văn Định dùng dây điện rào quanh vườn và nối với nguồn
điện để đề phòng kẻ trộm. Anh Võ Văn Lộc và vợ là chị Nguyễn Thị Hoa đi qua vô
tình chạm vào đã chết vì điện giật. Trong vụ án này, ông Định đã phạm tội giết người
với lỗi cố ý gián tiếp vì ông nhận thức rõ hành vi giăng dây điện trần quanh vườn có
thể làm chết người nhưng vì muốn bảo vệ tài sản của mình, ông vẫn thực hiện hành vi
nguy hiểm và không quan tâm đến hậu quả (hay nói cách khác, ông đã bỏ mặc cho hậu
quả chết người xảy ra). Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Long, căn cứ vào điểm a và điểm 1,
khoản 1 Điều 93 Bộ Luật Hình sự Việt Nam năm 1999, đã xử phạt Nguyễn Văn Định
12 năm tù về tội giết người.13
Việc nghiên cứu và xác định đúng dấu hiệu lỗi trong cấu thành tội phạm giết
người sẽ có ý nghĩa quan trọng trong việc phân biệt tội giết người với các tội phạm
khác cũng có hậu quả chết người. Ví dụ: tội cướp tài sản (làm nạn nhân chết), tội hiếp
dâm (làm nạn nhân chết)... “Xác định đúng dấu hiệu lỗi trong cấu thành tội giết người
còn là cơ sở để đánh giá đúng mức độ lỗi trong trường hợp phạm tội cụ thể. Đánh giá
đúng mức độ lỗi của người phạm tội ở mỗi trường hợp phạm tội cụ thể là một trong
những điều kiện để có thể quyết định đúng về loại và mức hình phạt được áp dụng cho
người phạm tội đó.”14 Cụ thể, trường hợp phạm tội giết người với lỗi cố ý trực tiếp,
hình phạt phải nghiêm khắc hơn giết người với lỗi cố ý gián tiếp (trong điều kiện các
13 Bản án HSST số 30/2001 ngày 27 tháng 03 năm 2001 của Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Long
14 Nguyễn Ngọc Hoà (1996), “Đánh giá mức độ lỗi ở các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ con người”,
Tạp chí luật học, (1). Tr.18
tình tiết khác tương đương). “Muốn xác định đúng lỗi của người phạm tội đối với cái
chết của nạn nhân là cố ý hay vô ý cần phải làm sáng tỏ hai vấn đề: Một là, người
phạm tội có thấy trước hậu quả chết người không? Hai là, nếu thấy trước thì họ mong
muốn, chấp nhận hay loại trừ khả năng hậu quả này xảy ra? Nếu vấn đề thứ nhất đã
có tốc độ phát triển kinh tế và xã hội tăng vượt bậc, do đó, năng lực nhận thức xã hội
và năng lực điều khiển hành vi phù hợp với sự nhận thức của con người được hình
thành sớm hơn so với trước. Do vậy, ở tuổi 12 hoặc 13 con người có thể nhận thức
được tính nguy hiểm cho xã hội của hành của mình và có đủ khả năng tự chịu trách
nhiệm độc lập đối với hành vi đó”.17 Hoặc “Cần quy định tuổi chịu trách nhiệm hình
sự sớm hơn, cụ thể là người từ đủ 13 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về
hành vi do mình thực hiện. Những năm gần đây, số tuổi trẻ em dưới 14 tuổi thực hiện
các hành vi được quy định trong Bộ luật hình sự ngày càng nhiều, không ít vụ việc hết
sức nghiêm trọng và đang có chiều hướng gia tăng. Do pháp luật không buộc người
dưới 14 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự nên không ít người lợi dụng trẻ em dưới 14
tuổi vào việc thực hiện các hành vi trái pháp luật như buôn lậu, buôn bán ma túy…
Trong khi đó, pháp luật nhiều nước trên thế giới đều quy định độ tuổi phải chịu trách
nhiệm hình sự rất sớm, trong đó nhóm nước quy định độ tuổi bắt đầu phải chịu trách
nhiệm hình sự là 12 tuổi chiếm khá đông..”18.
Quan điểm thứ hai cho rằng: “nên tăng độ tuổi chịu TNHS của người phạm tội
nói chung và người phạm tội giết người lên 15 hoặc 16 tuổi; bởi vì, xã hội càng phát
triển thì độ tuổi chịu TNHS càng cao, điều này thể hiện truyền thống lập pháp và chính
sách hình sự của một quốc gia trong việc xử lý người chưa thành niên phạm tội.”19
Quan điểm này cho rằng, xã hội càng văn minh thì độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự
càng cao.
Có thể thấy, tình hình tội phạm ở nước ta hiện nay, số lượng người chưa thành
niên phạm tội ngày càng gia tăng về cả số lượng lẫn tính chất nguy hiểm của hành vi
phạm tội. Tuy nhiên, người chưa thành niên là người chưa phát triển đầy đủ về mặt thể
chất và tâm - sinh lý, sự nhận thức và kinh nghiệm sống còn hạn chế, khả năng tự kiềm
chế thấp dẫn đến dễ bị kích động, dụ dỗ và lôi kéo thực hiện những hành vi phạm tội.
Đảng và Nhà nước ta luôn có những chủ trương chính sách riêng đối với người chưa
thành niên phạm tội, chủ yếu nhằm mục đích giáo dục bởi ở lứa tuổi này, ý thức phạm
17 Xem Vũ Việt Hà, Hà Minh Thảo (2015), “Nên quy định tuổi chịu trách nhiệm hình sự sớm hơn”, Luật sư Việt
lên, có thể cùng một lần hoặc nhiều lần khác nhau. Điều luật không đòi hỏi các nạn
nhân phải chết. “Tình tiết định khung tăng nặng giết nhiều người không những nói lên
mức độ tàn ác rất cao của can phạm mà tác hại gây ra cũng lớn hơn nhiều so với
trường hợp giết một người. Cho nên, thực tiễn xét xử cũng coi đây là một tình tiết
nghiêm trọng vào bậc nhất”.21
Ví dụ: Trần Văn Giang đã có hành vi giết người rất dã man bằng cách tưới xăng
vào người vợ là chị Đàm khi chị đang bế con 6 tháng tuổi trên tay rồi bật lửa đốt làm
nạn nhân Nguyễn Thị Oanh Đàm và cháu Trần Văn Đoàn đều tử vong. Trường hợp
20 Xem Dương Tuyết Miên (2015), “Một số ý kiến về tuổi chịu TNHS và biện pháp thay thế hình sự trong Dự
thảo BLHS sửa đổi ”, Tạp chí tòa án nhân dân, (18), Tr.1
21 Toà án nhân dân tối cao (1979), Hệ thống hoá luật lệ về hình sự, tập 2 (1975 – 1978), Hà Nội, tr. 345.
này, tên Giang đã giết 2 người là vợ và con thỏa mãn tình tiết “giết nhiều người”. Bên
cạnh đó, tên Giang còn thỏa mãn tình tiết định khung tăng nặng khác là giết trẻ em.22
b. Giết phụ nữ mà biết là có thai: “Giết phụ nữ biết là có thai” là trường hợp
người phạm tội biết rõ người mình giết là phụ nữ đang có thai (không kể tháng thứ
mấy). Trường hợp giết người này bị coi là trường hợp tăng nặng vì hành vi phạm tội
xâm phạm đối tượng cần được xã hội quan tâm và bảo vệ đặc biệt, thể hiện rõ người
phạm tội thực hiện hành vi rất vô nhân tính. “Hành vi giết phụ nữ mà biết là có thai
thể hiện tính vô nhân đạo cao độ, rất khác so với trường hợp phạm tội giết người
thông thường. Hành vi phạm tội không chỉ xâm phạm đến tính mạng của người mẹ mà
con xâm phạm đến sự sống trong tương lai của đứa con.”23 Trường hợp người phạm
tội có hành vi giết người, nhưng thực sự không biết nạn nhân đang mang thai (như
không quen biết nạn nhân, nạn nhân mới có thai 6 tuần tuổi, ngoại hình bên ngoài của
người phụ nữ không thể hiện là có thai) thì không thỏa mãn tình tiết tăng nặng này mà
xác định là phạm tội thuộc trường hợp thông thường (K2 Điều 93)
c. Giết trẻ em: Theo điều 1, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em thì “trẻ
em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi”. Do vậy, có thể hiểu giết trẻ em là trường hợp
người phạm tội đã cố ý tước đoạt tính mạng cho người dưới 16 tuổi.
+ Giết người đang thi hành công vụ
Đây là trường hợp giết người mà tại thời điểm xảy ra hành vi giết người, nạn
nhân đang thực hiện một nhiệm vụ được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao phó và
động cơ giết người không liên quan đến công vụ của nạn nhân. “Nhiệm vụ được giao
có thể là đương nhiên do nghề nghiệp quy định: cán bộ chiến sĩ công an nhân dân đang
làm nhiệm vụ bảo vệ, thầy thuốc đang điều trị tại bệnh viện; thầy giáo đang giảng bài
hoặc hướng dẫn học sinh tham quan, nghỉ mát; thẩm phán đang xét xử tại phiên toà;
cán bộ thuế đang thu thuế; thanh niên cờ đỏ, dân quân tự vệ đang làm nhiệm vụ bảo vệ
trật tự ở nơi công cộng,… Hoặc nạn nhân là những người tuy không được giao nhiệm
vụ nhưng họ tự nguyện tham gia vào việc giữ gìn an ninh chính trị và trật tự an toàn xã
hội trong một số trường hợp nhất định như: đuổi bắt người phạm tội bỏ trốn; can ngăn,
hoà giải những vụ đánh nhau ở nơi công cộng,…”27
+ Giết người vì lý do công vụ của nạn nhân
Giết người vì lý do công vụ của nạn nhân là trường hợp giết người mà động cơ
của hành vi giết người gắn liền với việc thi hành công vụ của nạn nhân. Như giết
người để không cho nạn nhân thi hành công vụ hoặc giết người vì nạn nhân đã thi
hành công vụ.
Việc BLHS năm 1999 qui định tình tiết định khung tăng nặng “giết người đang
thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân xuất phát từ cơ sở tính nguy hiểm
của những trường hợp này là ở chỗ: “…nó không chỉ xâm phạm đến tính mạng con
26 Bản án hình sự sơ thẩm số 01/2015/HSST ngày 13 tháng 01 năm 2015 của Toà án Nhân dân Tỉnh Nghệ An.
27 Đinh Văn Quế (1994), Trách nhiệm hình sự đối với hành vi xâm phạm tính mạng, sức khoẻ của con người,
Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, Tr. 25 - 26
người mà đồng thời còn xâm phạm nghiêm trọng đến trật tự công cộng, cản trở hoạt
động chung xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an.”28
đ. Giết ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình: Đây
là hành vi giết người mà nạn nhân là người có quan hệ đặc biệt với người phạm tội.
Trong mối quan hệ này, người phạm tội hơn ai hết phải là người biết ơn nạn nhân,