Phòng ngừa tình hình các tội xâm phạm tính mạng của con người trên địa bàn tỉnh quảng nam - Pdf 49

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

MAI THÀNH NAM

PHÒNG NGỪA TÌNH HÌNH CÁC TỘI
XÂM PHẠM TÍNH MẠNG CỦA CON NGƯỜI
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, Năm 2018


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

MAI THÀNH NAM

PHÒNG NGỪA TÌNH HÌNH CÁC TỘI
XÂM PHẠM TÍNH MẠNG CỦA CON NGƯỜI
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NAM

Chuyên ngành : Tội phạm học và Phòng ngừa tội phạm
Mã số
:
838.01.05

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

tội xâm phạm tính mạng của con người .......................................................... 26
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG PHÒNG NGỪA TÌNH HÌNH CÁC TỘI
XÂM PHẠM TÍNH MẠNG CỦA CON NGƯỜI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH
QUẢNG NAM ................................................................................................ 31
2.1. Thực trạng nhận thức mục đích, ý nghĩa, các nguyên tắc, nội dung
phòng ngừa tình hình các tội xâm phạm tính mạng của con người trên địa
bàn tỉnh Quảng Nam ....................................................................................... 31
2.2. Thực trạng biện pháp phòng ngừa tình hình các tội xâm phạm tính
mạng của con người ........................................................................................ 34
2.3. Thực trạng tổ chức thực hiện các biện pháp phòng ngừa tình hình các
tội xâm phạm tính mạng của con người .......................................................... 36
2.4. Đánh giá kết quả phòng ngừa tình hình các tội xâm phạm tính mạng
của con người trên địa bàn tỉnh Quảng Nam .................................................. 42


CHƯƠNG 3. TĂNG CƯỜNG PHÒNG NGỪA TÌNH HÌNH CÁC TỘI
XÂM PHẠM TÍNH MẠNG CỦA CON NGƯỜI TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH QUẢNG NAM .................................................................................... 52
3.1. Nâng cao nhận thức mục đích, ý nghĩa, các nguyên tắc và nội dung
phòng ngừa tình hình các tội xâm phạm tính mạng của con người ................ 52
3.2. Tăng cường hoàn thiện các biện pháp phòng ngừa tình hình các tội
xâm phạm tính mạng của con người ............................................................... 55
3.3. Tăng cường hoàn thiện tổ chức thực hiện các biện pháp phòng ngừa
tình hình các tội xâm phạm tính mạng của con người .................................... 69
3.4. Tăng cường các nguồn lực cho phòng ngừa tình hình các tội xâm
phạm tính mạng của con người ....................................................................... 71
KẾT LUẬN .................................................................................................... 74
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC



- UBND

: Ủy ban nhân dân

- VKSND

: Viện kiểm sát nhân dân

- XPTM

: Xâm phạm tính mạng


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Quảng Nam là một tỉnh thuộc vùng duyên hải Nam Trung bộ, cách
thành phố Đà Nẵng 68 km về phía Nam và cách Thành phố Hồ Chí Minh 887
km về phía Bắc theo đường quốc lộ 1A, phía Bắc giáp thành phố Đà Nẵng và
tỉnh Thừa Thiên Huế, phía Nam giáp tỉnh Quảng Ngãi và tỉnh Kon Tum, phía
Tây giáp tỉnh Sekong (Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào), phía Đông giáp Biển
Đông. Quảng Nam có 18 đơn vị hành chính cấp huyện, gồm 2 thành phố, 1 thị
xã và 15 huyện với 247 xã/ phường/ thị trấn. Trung tâm hành chính của tỉnh
Quảng Nam đặt tại Thành phố Tam Kỳ. Quảng Nam có diện tích 10.574,74
km2 và dân số 1.487,721 người (số liệu thống kê năm 2017).
Những năm qua, thực hiện chủ trương, đường lối đổi mới của Đảng,
tỉnh Quảng Nam đã và đang đạt được những thành tựu to lớn trên tất cả các
lĩnh vực của đời sống xã hội. Tình hình kinh tế, chính trị - xã hội đi vào ổn
định phát triển, các ngành công nghiệp, dịch vụ chiếm tỷ trọng và tốc độ phát
triển cao, mức sống của người dân không ngừng được nâng lên. Bên cạnh đó,

nên vô cùng cấp thiết. Chính vì vậy, đề tài “Phòng ngừa tình hình các tội xâm
phạm tính mạng của con người trên địa bàn tỉnh Quảng Nam” đã được lựa
chọn để nghiên cứu dưới góc độ tội phạm học.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
* Các công trình lý luận tội phạm học
Để có cơ sở lý luận cho việc thực hiện đề tài luận văn, các công trình
khoa học sau đây đã được nghiên cứu:
- Học viện Cảnh sát nhân dân (2010), Giáo trình Tội phạm học, Nxb
CAND, Hà Nội;
- Học viện Cảnh sát nhân dân (2013), Một số vấn đề về tội phạm học
2


Việt Nam, (tài liệu tham khảo dùng cho hệ đào tạo sau đại học);
- ĐH Luật Hà Nội, (2012), Giáo trình Tội phạm học, Nxb Công an
nhân dân, Hà Nội;
- Trần Đại Quang, Nguyễn Xuân Yêm (2013), Tội phạm học Việt Nam,
Nxb CAND, Hà Nội;
- Đại học Quốc gia Hà Nội, Khoa Luật (2007), Giáo trình Luật hình sự
Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội;
- PGS. TS. Hồ Sỹ Sơn (2011), Tập bài giảng về tình hình tội phạm,
nguyên nhân và phòng ngừa tội phạm ở nước ta hiện nay;
- PGS. TS. Phạm Văn Tỉnh (2007), Một số vấn đề lý luận về tình hình
tội phạm ở Việt Nam, Nxb Tư pháp, Hà Nội;
- Viện nghiên cứu Nhà nước và pháp luật (2000), Tội phạm học Việt
Nam, một số vần đề lý luận và thực tiễn, Nxb CAND, Hà Nội;
- GS. TS. Võ Khánh Vinh (2013), Giáo trình Tội phạm học, Nxb
CAND, Hà Nội;
- GS. TS. Võ Khánh Vinh (2012), Xã hội học pháp luật, những vấn đề
cơ bản, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.

phòng ngừa, Luận văn thạc sỹ Luật học, Học viện khoa học xã hội;
Các công trình khoa học nói trên đều liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp
đến công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm xâm phạm tính mạng của con
người trên phạm vi cả nước hoặc một địa bàn cụ thể và đều có giá trị kế thừa
đối với việc triển khai nghiên cứu đề tài: “Phòng ngừa tình hình các tội xâm
phạm tính mạng của con người trên địa bàn tỉnh Quảng Nam”.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận phòng ngừa tình hình các
tội xâm phạm tính mạng của con người, thực tiễn PNTH các tội này trên địa
4


bàn tỉnh Quảng Nam, luận văn đề xuất các giải pháp tăng cường PNTH các
tội nói trên trong thời gian tới.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn thực hiện các nhiệm vụ sau:
Thứ nhất, phân tích những vấn đề lý luận về phòng ngừa tình hình các
tội xâm phạm tính mạng của con người;
Thứ hai, phân tích, đánh giá thực trạng phòng ngừa tình hình các tội
xâm phạm tính mạng của con người trên địa bàn tỉnh Quảng Nam trong thời
gian từ 2013 – 2017;
Thứ ba, lập luận, đề xuất các giải pháp tăng cường phòng ngừa tình
hình các tội xâm phạm tính mạng của con người trên địa bàn tỉnh Quảng Nam
trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn lấy các quan điểm khoa học, quy định của pháp luật hình sự
và thực trạng PNTH các tội XPTM của con người trên địa bàn tỉnh Quảng
Nam để nghiên cứu các vấn đề thuộc nội dung nghiên cứu của đề tài.

trong các trường Luật, các trường Công an.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần nâng cao hiệu quả phòng ngừa
THTP nói chung và PNTH các tội XPTM của con người trên địa bàn tỉnh
Quảng Nam nói riêng.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
luận văn được cấu trúc thành 3 chương như sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về phòng ngừa tình hình các tội xâm
phạm tính mạng của con người.
6


Chương 2: Thực trạng phòng ngừa tình hình các tội xâm phạm tính
mạng của con người trên địa bàn tỉnh Quảng Nam.
Chương 3: Tăng cường phòng ngừa tình hình các tội xâm phạm tính
mạng của con người trên địa bàn tỉnh Quảng Nam.

7


CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÒNG NGỪA TÌNH HÌNH
CÁC TỘI XÂM PHẠM TÍNH MẠNG CỦA CON NGƯỜI
1.1. Khái niệm, mục đích và ý nghĩa của phòng ngừa tình hình các
tội xâm phạm tính mạng của con người
1.1.1. Khái niệm phòng ngừa tình hình các tội xâm phạm tính mạng
của con người
Phòng ngừa tội phạm là một khái niệm được sử dụng rộng rãi trong quá
trình đấu tranh phòng, chống tội phạm. Tuy nhiên, khái niệm thế nào là phòng

hậu quả cho xã hội, không để cho thành viên nào của xã hội phải chịu hình
phạt của pháp luật, tiết kiệm được những chi phí cần thiết cho Nhà nước trong
công tác điều tra, truy tố, xét xử và cải tạo giáo dục người phạm tội” [12, tr.
116-123].
Phòng ngừa tình hình tội phạm là đối tượng nghiên cứu của tội phạm
học và cũng là mục đích cuối cùng của tội phạm học. Tội phạm học nghiên
cứu tình hình tội phạm, nguyên nhân, điều kiện của tình hình tội phạm, nhân
thân người phạm tội,... phát hiện quy luật phát sinh, tồn tại và vận động của
tình hình tội phạm để tìm ra các biện pháp tác động vào các quy luật đó nhằm
mục đích cuối cùng là không để tội phạm xảy ra.
Theo GS.TS Võ Khánh Vinh: “Phòng ngừa tình hình tội phạm là hệ
thống nhiều mức độ và biện pháp mang tính chất Nhà nước, xã hội và Nhà
nước - xã hội nhằm khắc phục các nguyên nhân và điều kiện của tội phạm
hoặc làm vô hiệu hóa (làm yếu; hạn chế) chúng và bằng cách đó làm giảm và
dần dần loại bỏ tình hình tội phạm”. [38, tr.154].
Theo quan điểm của đa số các nhà nghiên cứu lý luận về tội phạm học
ở Việt Nam hiện nay thì: “Phòng ngừa THTP được hiểu là việc áp dụng các
9


biện pháp kinh tế, chính trị, tư tưởng, pháp luật… do các cơ quan, các tổ chức
và công dân tiến hành dưới sự lãnh đạo của Đảng nhằm xóa bỏ hoặc vô hiệu
hóa các nguyên nhân, điều kiện phạm tội; không để cho tội phạm xảy ra; làm
giảm tội phạm và tiến tới loại trừ hoàn toàn tình hình tội phạm ra khỏi đời
sống xã hội” [11, tr.210].
Như vậy, phòng ngừa THTP sẽ bao gồm cả hoạt động phòng và chống
tội phạm. Tuy nhiên, cũng có quan điểm cho rằng, phòng ngừa THTP nên
hiểu theo nghĩa hẹp. Theo quan điểm này, “phòng ngừa THTP chỉ bao gồm
hoạt động tác động vào nguyên nhân, điều kiện của tội phạm nhằm ngăn ngừa
trước không để tội phạm xảy ra và loại trừ nguyên nhân phát sinh tội phạm”

và điều kiện của các tội XPTM của con người ra khỏi đời sống xã hội.
- Ý nghĩa: Từ thực tiễn cho thấy PNTH các tội XPTM của con người sẽ
mang lại nhiều ý nghĩa to lớn, đó là:
+ Trên cơ sở nghiên cứu về tình hình các tội XPTM của con người giúp
cho việc hoạch định và ban hành những chủ trương, đường lối, chính sách,
biện pháp nhằm hạn chế, loại trừ các nguyên nhân và điều kiện làm nảy sinh
tình hình các tội XPTM của con người, từ đó tiến tới loại bỏ tình hình các tội
phạm này ra khỏi đời sống xã hội, tạo môi trường thuận lợi cho việc phát triển
kinh tế - xã hội của đất nước.
+ Phòng ngừa tình hình các tội XPTM của con người có ý nghĩa quan
trọng trong việc bảo vệ con người và mang tính nhân đạo cao cả. Con người
được bảo vệ ở đây bao gồm người có nguy cơ phạm tội, người là nạn nhân
của tội phạm và cả cộng đồng xã hội. PNTH tội phạm tốt, có hiệu quả tức là
ngăn ngừa trước không cho một người thực hiện hành vi phạm tội, không để
họ phải bị những hạn chế về quyền con người khi chấp hành hình phạt. Hay
nói cách khác là khi PNTH các tội XPTM của con người đạt hiệu quả thì mọi
người trong xã hội sẽ có điều kiện được hưởng các quyền tự do, hưởng thụ
11


các giá trị vật chất và tinh thần vì những thiệt hại do các tội phạm gây ra cho
xã hội đã bị hạn chế tối đa.
+ Về mặt kinh tế, PNTH các tội XPTM của con người, không để cho
tội phạm xảy ra sẽ hạn chế thấp nhất những thiệt hại do tội phạm gây ra cho
nạn nhân và những thiệt hại khác về ngân sách nhà nước, đó là những chi phí
mà nhà nước phải bỏ ra cho hoạt động phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm,
khắc phục hậu quả,…số tiền dùng cho công tác tố tụng sẽ có ý nghĩa tích cực
hơn nếu được đầu tư vào các hoạt động an sinh xã hội, giải quyết các vấn đề
về cơ sở hạ tầng, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân.
+ Ngoài ra PNTH các tội XPTM của con người còn mang ý nghĩa

các lĩnh vực quản lý, xóa bỏ sự nghèo khổ, bất bình đẳng, những mâu thuẫn
nảy sinh trong đời sống xã hội, cuối cùng làm giảm tội phạm và đi đến xóa bỏ
hiện tượng tội phạm trong xã hội” [32, tr.427-428].
- Phòng ngừa riêng: Khác với các biện pháp phòng ngừa chung, đây là
nhóm biện pháp được áp dụng tác động trực tiếp đến những người cụ thể có
khả năng, điều kiện thực hiện hành vi phạm tội XPTM của con người nhằm
ngăn chặn, không để hành vi phạm tội này xảy ra. Đối tượng áp dụng biện
pháp này là những con người cụ thể đang sinh sống trong xã hội. Đó có thể là
những người có tiền án, tiền sự; những người không có việc làm; những
người thường xuyên tham gia vào các tệ nạn xã hội như cờ bạc, ma túy,... Nếu
như tiêu chuẩn hiệu quả của các biện pháp phòng ngừa chung được xét trên
hiệu quả thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội, chính trị - tư tưởng, văn hóa
– giáo dục,... thì hiệu quả của phòng ngừa riêng được đánh giá trực tiếp dựa
vào mức độ khắc phục, hạn chế và thủ tiêu nguyên nhân, điều kiện của tình
hình các tội XPTM của con người.
Phòng ngừa riêng trong mối quan hệ với phòng ngừa chung, một mặt
dựa trên phòng ngừa chung, bổ sung cho phòng ngừa chung, mặt khác có tính
13


độc lập tương đối và có vai trò quan trọng không những đối với PNTH các tội
XPTM của con người mà còn đối với việc thực hiện các biện pháp phòng
ngừa THTP nói chung. Phòng ngừa riêng có khả năng linh hoạt trong việc
giải quyết những nguyên nhân và điều kiện của các tội XPTM của con người
trong phạm vi nhất định với hiệu quả cao và trong thời gian ngắn. “Trong khi
đó, quá trình thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa – giáo
dục,... là một quá trình lâu dài, và quá trình này thường xuyên gặp trở ngại,
mà tội phạm là một trở ngại lớn. Để thực hiện nhiệm vụ đề ra đòi hỏi phải
khắc phục mọi trở ngại, kể cả tội phạm. Yêu cầu này chỉ được thực hiện thông
qua việc sử dụng các biện pháp phòng ngừa riêng. Như vậy, phòng ngừa riêng

thể là các quy định của Hiến pháp, BLHS, BL TTHS, các văn bản luật và các
quy phạm pháp luật khác có liên quan đến hoạt động PNTH các tội XPTM
của con người. Để nguyên tắc pháp chế phát huy tối đa hiệu quả đòi hỏi hệ
thống pháp luật, các quy định của pháp luật về phòng ngừa THTP nói chung
và tình hình các tội xâm phạm tính mạng của con người phải không ngừng
được hoàn thiện. Đồng thời chủ thể tiến hành hoạt động phòng ngừa cũng
phải tuân thủ nghiêm chỉnh, nhất quán các quy định của pháp luật trong quá
trình tiến hành các hoạt động phòng ngừa đó.
- Nguyên tắc dân chủ: Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin thì
quần chúng là sức mạnh vĩ đại, là người làm chủ của xã hội. Chỉ khi quần
chúng được lôi cuốn tham gia vào hoạt động PNTH các tội XPTM của con
người thì mới hoàn thành nhiệm vụ vẻ vang đó. Nguyên tắc dân chủ đòi hỏi
phải lôi cuốn được sự tham gia đông đảo của các tầng lớp, lực lượng trong xã
hội, đặc biệt là quần chúng nhân dân tham gia tích cực vào hoạt động phòng
ngừa THTP các tội XPTM của con người. Do đó, để nguyên tắc này được áp
dụng trong thực tế thì cần thiết phải được ghi nhận trong các quy định của
15


pháp luật về phòng ngừa THTP. Bên cạnh đó cần phải nhận thức rằng các chủ
thể PNTH các tội XPTM của con người phạm là quần chúng nhân dân là lực
lượng đông đảo nhất nhưng lại không có các công cụ, phương tiện nhằm đấu
tranh trực tiếp với tội phạm vì vậy cần có sự hướng dẫn từ các chủ thể là cơ
quan nhà nước trực tiếp áp dụng các biện pháp phòng ngừa, phát hiện, điều
tra, xử lý tội phạm. Việc tuân thủ nguyên tắc dân chủ trong hoạt động phòng
ngừa THTP các tội XPTM của con người nhằm phát huy được sức mạnh tối
đa của các tầng lớp nhân dân trong xã hội. Phòng ngừa trước, không để cho
tội phạm xảy ra và kịp thời phát hiện, điều tra, xử lý, góp phần nâng cao hiệu
quả hoạt động phòng ngừa THTP.
- Nguyên tắc nhân đạo: Vì mục đích của phòng ngừa tội phạm là không

dục người khác ý thức tôn trọng pháp luật và không vi phạm pháp luật.
- Nguyên tắc phối hợp giữa các chủ thể: Nội dung của nguyên tắc này
thể hiện ở chỗ các biện pháp phòng ngừa, tổ chức hệ thống phòng ngừa, các
chủ thể phòng ngừa phải được xây dựng có khoa học, có sự phân công, phối
hợp chặt chẽ giữa các chủ thể của hoạt động phòng ngừa. Hoạt động PNTH
các tội XPTM của con người phải mang tính hệ thống, có sự điều hành thống
nhất và hợp tác chặt chẽ giữa Nhà nước, xã hội và các cá nhân. Hình thức, nội
dung và phạm vi hoạt động phòng ngừa cần phải được xác định thống nhất
giữa các chủ thể của hoạt động phòng ngừa. Ví dụ, trong quan hệ phối hợp
giữa cơ quan nhà nước về phòng ngừa tội phạm với gia đình, nhà trường, xã
hội cần xác định rõ nhiệm vụ chính của từng chủ thể, nhà trường có trách
nhiệm giáo dục học sinh theo đúng đường lối chủ trương của Đảng, Nhà nước
về giáo dục; gia đình có nhiệm vụ giáo dục con cái tuân theo các quy tắc đạo
đức xã hội; các cơ quan nhà nước thực hiện các biện pháp phòng ngừa nghiệp
vụ đối với các đối tượng cá biệt, xử lý nghiêm các đối tượng vi phạm pháp
luật,… có như vậy thì hoạt động phòng ngừa tội phạm nói chung và PNTH
17


các tội XPTM của con người mới có thể đạt hiệu quả cao nhất.
1.2.3. Các chủ thể phòng ngừa tình hình các tội xâm phạm tính
mạng của con người
Phòng ngừa tình hình các tội XPTM của con người là hoạt động xã hội
phức tạp đòi hỏi phải có sự tham gia phối hợp chặt chẽ của nhiều chủ thể khác
nhau. Do đó, chủ thể PNTH các tội XPTM của con người có thể hiểu là
những người và tổ chức tham gia hoạt động này một cách thường xuyên và có
hệ thống. Với cách hiểu này, các chủ thể PNTH các tội XPTM của con người
bao gồm:
- Các tổ chức của Đảng Cộng sản Việt Nam
Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo xã hội nói chung và

thông qua việc quyết định những đường lối, chủ trương, biện pháp kinh tế, xã
hội quan trọng để cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của người dân nhằm
làm giảm, hạn chế các nguyên nhân, điều kiện làm phát sinh tội phạm. Bên
cạnh đó, thông qua các Nghị quyết của mình, Hội đồng nhân dân các cấp
quyết định các biện pháp PNTH các tội XPTM của con người ở địa phương
đồng thời tích cực kiểm tra, giám sát các cơ quan, tổ chức, cá nhân để phòng
ngừa các hành vi phạm tội cụ thể.
- Các cơ quan quản lý hành chính, kinh tế nhà nước
+ Chính phủ có vai trò to lớn trong hoạt động phòng ngừa THTP nói
chung và PNTH các tội XPTM của con người nói riêng. Điều đó được thể
hiện qua việc triển khai thi hành các quy định của pháp luật cũng như ban
hành các văn bản hướng dẫn thực hiện. Chính phủ xây dựng và thực hiện các
kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục,… trong phạm vi toàn
quốc nhằm nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân, từ đó có tác
dụng PNTH các tội XPTM của con người. Trong lĩnh vực quốc phòng, an
ninh và trật tự xã hội, Chính phủ tổ chức thực hiện các chính sách, biện pháp
19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status