BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
LƯU VIỆT THẮNG
CHIA TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG TRONG
THỜI KỲ HÔN NHÂN VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội - 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
LƯU VIỆT THẮNG
CHIA TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG TRONG
THỜI KỲ HÔN NHÂN VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
BLDS
Bộ luật dân sự
BLTTDS
Bộ luật tố tụng dân sự
NLHVDS
Năng lực hành vi dân sự
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của đề tài ................................................................................ 1
2. Tình hình nghiên cứu đề tài .......................................................................... 2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu................................................................. 2
4. Mục đích nghiên cứu ..................................................................................... 3
5. Câu hỏi nghiên cứu ....................................................................................... 4
6. Phương pháp nghiên cứu............................................................................... 4
7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn....................................................................... 5
8. Bố cục luận văn ............................................................................................. 6
CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT VỀ CHIA TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ
CHỒNG TRONG THỜI KỲ HÔN NHÂN .................................................. 7
1.1. Khái niệm cơ bản về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ
hôn nhân ........................................................................................................... 7
1.1.1. Khái niệm tài sản chung của vợ chồng ................................................ 7
1.1.2. Khái niệm thời kỳ hôn nhân................................................................. 8
2.5.1. Chia một phần tài sản chung .............................................................. 34
2.5.2. Chia toàn bộ tài sản chung ................................................................. 35
2.6. Hậu quả pháp lý của việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời
kỳ hôn nhân ................................................................................................... 36
2.6.1. Về quan hệ nhân thân ......................................................................... 36
2.6.2. Về quan hệ tài sản .............................................................................. 39
2.7. Chấm dứt hiệu lực của việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời
kỳ hôn nhân ................................................................................................... 43
CHƯƠNG 3. THỰC TIỄN ÁP DỤNG VIỆC CHIA TÀI SẢN CHUNG
CỦA VỢ CHỒNG TRONG THỜI KỲ HÔN NHÂN TẠI TÒA ÁN NHÂN
DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA VÀ PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN .......... 47
3.1. Thực tiễn việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
tại Tòa án nhân dân quận Đống Đa ............................................................ 47
3.1.1. Công tác xét xử vụ việc hôn nhân và gia đình tại Tòa án nhân dân quận
Đống Đa, Hà Nội ......................................................................................... 47
3.1.2. Thực tiễn áp dụng pháp luật qua một số vụ án cụ thể ....................... 48
3.1.2.1. Vụ việc thứ nhất ........................................................................... 48
3.1.2.2. Vụ việc thứ hai ............................................................................. 55
3.2. Những vấn đề khác trong thực tiễn chia tài sản chung của vợ chồng
trong thời kỳ hôn nhân ................................................................................. 58
3.2.1. Về chủ thể có quyền yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng trong
thời kỳ hôn nhân........................................................................................... 58
3.2.2. Về vấn đề công chứng thỏa thuận chia tài sản chung của vợ chồng trong
thời kỳ hôn nhân........................................................................................... 59
3.2.3. Về trách nhiệm của vợ chồng sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ
hôn nhân ....................................................................................................... 61
3.2.4. Về nghĩa vụ thông báo của vợ chồng khi chia tài sản chung trong thời
kỳ hôn nhân .................................................................................................. 63
Mặc dù hôn nhân vẫn dựa trên cơ sở tình cảm là trên hết, nhưng khi xã hội vận
động và phát triển, bất cứ ai cũng có những nhu cầu riêng về việc sử dụng tài
sản. Bởi vậy, khi không có sự phân biệt rạch ròi về nguồn gốc tài sản hay tài
sản của ai, tranh chấp tất yếu sẽ xảy ra. Vì lý do chủ quan hay khách quan nào
đó mà vợ chồng có nhu cầu chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, nên việc
pháp luật có quy định và Tòa án có cơ chế giải quyết chia tài sản chung của vợ
chồng trong thời kỳ hôn nhân đã và đang giúp giải quyết nhanh chóng những
xung đột trong gia đình.
Theo thời gian, các quy định của pháp luật dân sự điều chỉnh về việc
chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân đã có bước phát triển
phù hợp với sự vận động liên tục của xã hội, góp phần quan trọng vào hiệu quả
giải quyết vụ việc trên thực tế. Việc nghiên cứu về chế định chia tài sản chung
của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân là rất cần thiết, vì vậy tôi xin lựa chọn đề
tài: “Thực tiễn áp dụng pháp luật chia tài sản chung của vợ chồng trong thời
kỳ hôn nhân tại Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội”.
2
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Chia tài sản là nội dung luôn được đề cập khi xét đến việc giải quyết
những vấn đề của quan hệ hôn nhân, tuy nhiên sự quan tâm dành cho mảng nội
dung nhỏ hơn là chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn còn chưa
nhiều. Hiện chỉ có một số ít công trình nghiên cứu đáng chú ý như: bài viết
“Hậu quả pháp lí của việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn
nhân” của tác giả Nguyễn Phương Lan trên Tạp chí Luật học, Đại học Luật Hà
Nội năm 2002; bài viết “Một số vấn đề về chia tài sản chung của vợ chồng
trong thời kì hôn nhân” của tác giả Phan Tấn Pháp, Nguyễn Nho Hoàng trên
tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Bộ Tư pháp, số 1/2012; bài viết “Việc chia tài
sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân” của tác giả Phùng Trung Tập
pháp luật, chỉ ra những ưu điểm và tồn tại của quy định hiện hành còn gây
vướng mắc, khó khăn cho công tác xét xử, từ đó đóng góp ý kiến hoàn thiện
pháp luật về giải quyết chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.
4. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là làm sáng tỏ những vấn đề về chia
tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, căn cứ chia tài sản chung
của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, phương thức chia tài sản chung của vợ
chồng trong thời kỳ hôn nhân, hệ quả pháp lý của chia tài sản chung trong thời
kỳ hôn nhân, chỉ ra những vướng mắc bất cập và đưa ra những kiến nghị về
việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về chia tài sản chung của vợ chồng trong
thời kỳ hôn nhân. Luận văn nghiên cứu về nội dung chủ yếu sau:
- Khái quát chung về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn
nhân theo pháp luật hiện hành, làm rõ khái niệm chia tài sản chung trong thời
kỳ hôn nhân; sơ lược pháp luật Việt Nam về căn cứ, phương thức chia tài sản
và hậu quả pháp lý khi chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.
- Xác định hiệu lực pháp lý của việc chia tài sản chung của vợ chồng
trong thời kỳ hôn nhân; phương thức chia tài sản chung của vợ chồng trong
thời kỳ hôn nhân và hệ quả pháp lý của chia tài sản chung của vợ chồng trong
thời kỳ hôn nhân.
4
- Tìm hiểu về thực trạng chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ
hôn nhân tại Tòa án nhân dân quận Đống Đa; những vướng mắc phát sinh từ
thực tiễn áp dụng pháp luật và tìm ra phương hướng giải quyết, góp phần hoàn
thiện trong thời gian tới.
5. Câu hỏi nghiên cứu
Với các mục tiêu hướng tới như đã nêu ở trên, luận văn đi vào giải quyết
các câu hỏi sau:
Về ý nghĩa thực tiễn, trước hết, có thể thấy khi xã hội ngày càng phát
triển, quan hệ hôn nhân cũng vận động, phát triển và chịu sự tác động của rất
nhiều yếu tố kinh tế, xã hội. Người vợ và người chồng xác lập những quan hệ
về tài sản và nhân thân khác nhau nhằm đáp ứng những nhu cầu tồn tại và phát
triển của gia đình. Từ đó, nhu cầu chia tài sản chung của vợ chồng để tách
thành tài sản riêng của mỗi người, nhằm xác lập những giao dịch riêng biệt đã
phát sinh và có xu hướng ngày càng tăng lên. Tuy nhiên, đây không phải là
một việc đơn giản, bởi quan hệ hôn nhân vốn có rất nhiều điều ràng buộc và
không hoàn toàn rõ ràng về vấn đề tài sản. Giải quyết hậu quả pháp lý sau khi
chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, quyền và nghĩa vụ của
vợ chồng sau khi chia tài sản chung vì vậy là điều cần thiết. Không chỉ có giá
trị phục vụ nghiên cứu khoa học, luận văn có thể được sử dụng làm tư liệu cho
những người tham gia vào quan hệ pháp luật chia tài sản chung của vợ chồng
trong thời kỳ hôn nhân, những người tham gia giải quyết, xét xử, áp dụng pháp
luật có thêm nguồn tham khảo, góp phần hoàn thiện việc giải quyết yêu cầu
chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân một cách chính xác, thấu tình đạt lý,
tạo điều kiện thuận lợi và nâng cao ý thức trách nhiệm cho các cặp vợ chồng
trong việc đưa ra các thỏa thuận chia tài sản chung, giúp giảm các vướng mắc
phát sinh sau đó.
6
8. Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
luận văn gồm 03 chương:
Chương 1. Khái quát chung về chia tài sản chung của vợ chồng trong
thời kỳ hôn nhân
Chương 2. Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân theo
quy định của pháp luật hiện hành
tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường
hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được
thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa
thuận là tài sản chung.
8
Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung
của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng
cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.
2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng
để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.
3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ,
chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi
là tài sản chung.”
1.1.2. Khái niệm thời kỳ hôn nhân
Theo quy định tại khoản 13 Điều 3 Luật HN&GĐ năm 2014, thời kỳ hôn
nhân là “khoảng thời gian tồn tại quan hệ vợ chồng, được tính từ ngày đăng ký
kết hôn đến ngày chấm dứt hôn nhân”, có nghĩa là khoảng thời gian quan hệ
hôn nhân còn tồn tại và được pháp luật thừa nhận. Đối với một quan hệ hôn
nhân thông thường được pháp luật thừa nhận, thời kỳ hôn nhân sẽ bắt đầu từ
ngày hai bên nam nữ ký vào giấy chứng nhận kết hôn, cán bộ Tư pháp hộ tịch
ghi vào sổ đăng ký kết hôn và cấp giấy chứng nhận kết hôn cho hai bên, công
nhận họ là vợ chồng hợp pháp. Ngoài ra, ở một số trường hợp nam nữ có quan
hệ chung sống vợ chồng khác thì pháp luật cũng có những cách xác định thời
điểm bắt đầu khác nhau: Trong trường hợp nam nữ sống chung như vợ chồng,
theo quy định tại khoản 2 Điều 14 Luật HN&GĐ năm 2014 thì nếu họ thực
hiện đăng ký kết hôn đúng theo quy định của pháp luật thì từ lúc đăng ký kết
hôn mới bắt đầu được tính là thời điểm kết hôn. Đối với trường hợp tại thời
Có quyết định của Tòa án tuyên bố vợ, chồng chết: Việc xác định ngày
chấm dứt hôn nhân trong trường hợp này dựa trên căn cứ tại Điều 71 BLDS
năm 2015. Tòa án sẽ căn cứ dựa trên loại sự kiện, các mốc thời gian và thời
hạn cụ thể để ra quyết định tuyên bố chết. Ngày quyết định tuyên bố chết của
Tòa án có hiệu lực pháp luật được xác định là ngày chấm dứt hôn nhân.
1.1.3. Khái niệm chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
Quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật về hôn nhân và gia đình Việt
Nam chịu ảnh hưởng sâu sắc của phong tục, tập quán và thực tế đời sống hôn
nhân. Trước đây, Luật HN&GĐ năm 1959 xác định sở hữu chung vợ chồng là
chế độ cộng đồng toàn sản, toàn bộ tài sản vợ chồng có trước khi kết hôn hoặc
10
tạo ra, có được trong thời kỳ hôn nhân, không phân biệt nguồn gốc tài sản, công
sức đóng góp thì đều là tài sản chung của vợ chồng. Lý do là bởi điều kiện kinh
tế, xã hội lúc bấy giờ, tư tưởng phong kiến vẫn còn tồn tại trong nếp sống của
các gia đình Việt Nam, nhu cầu tách biệt khối tài sản do vợ chồng cùng gây
dựng ngay trong thời kỳ hôn nhân cũng chưa phải là một vấn đề nổi cộm, bức
thiết. Luật HN&GĐ năm 1959 chỉ dự liệu hai trường hợp chia tài sản chung
của vợ chồng là khi vợ, chồng chết trước hoặc khi vợ chồng ly hôn.
Kể từ Luật HN&GĐ năm 1986, cùng với những đổi thay của quá trình
xây dựng và phát triển đất nước, quan hệ hôn nhân cũng phát sinh nhiều vấn đề
phức tạp hơn, khối tài sản chung của vợ chồng ngày một tăng lên, nhu cầu sở
hữu riêng một cách chủ động đối với tài sản nhằm phục vụ cho nhu cầu của cuộc
sống, công việc, sinh hoạt cá nhân dần hình thành. Ngoài ra, vợ chồng khi tham
gia các giao dịch dân sự bên ngoài cũng rơi vào trường hợp phải thực hiện các
nghĩa vụ dân sự riêng (trả món nợ vay trước hôn nhân, cấp dưỡng, bồi thường
thiệt hại,...) mà tài sản riêng của họ không đủ để trả. Bởi vậy, pháp luật cũng đã
có những bước chuyển mình quan trọng trong tư duy và cách tiếp cận về chế độ
toán khi bị Tòa án tuyên bố phá sản; nghĩa vụ trả nợ cho cá nhân, tổ chức; nghĩa
vụ nộp thuế hoặc nghĩa vụ tài chính khác đối với Nhà nước…
Mặc dù khái niệm chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn
nhân chưa được ghi nhận trong bất kỳ văn bản pháp lý nào, nhưng từ sự phát
triển và hoàn thiện các quy định của pháp luật theo thời gian, có thể rút ra một
khái niệm tổng quát như sau: “Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ
hôn nhân là việc vợ chồng thỏa thuận hoặc yêu cầu Tòa án chuyển một phần
hoặc toàn bộ tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng cho mỗi bên vợ, chồng
theo quy định của pháp luật, nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của mỗi
bên vợ, chồng và người thứ ba có liên quan. Việc chia tài sản chung này không
làm chấm dứt quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng trước pháp luật”.
1.1.4. Khái niệm áp dụng pháp luật về chia tài sản chung của vợ chồng
trong thời kỳ hôn nhân
Mặc dù có nhiều cách diễn giải khác nhau, nhưng các quan điểm về
nghiên cứu pháp luật đều có chung nhận định: Áp dụng pháp luật là một trong
số những hoạt động thực hiện pháp luật, nhưng đặc trưng bởi có tính tổ chức,
12
quyền lực nhà nước, do các cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có thẩm quyền tiến
hành theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định nhằm cá biệt hóa các quy phạm
pháp luật hiện hành vào những trường hợp cụ thể, đối với các cá nhân, tổ chức
cụ thể1. Trong các hình thức thực hiện pháp luật thì áp dụng pháp luật được
xem là hình thức cơ bản, chủ yếu và quan trọng nhất. Rất nhiều quy định của
pháp luật chỉ có thể được thực hiện trong thực tế thông qua hoạt động của các
chủ thể có thẩm quyền. Đối với việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời
kỳ hôn nhân, pháp luật hiện hành công nhận hai hình thức xác lập chia tài sản
là dựa trên thỏa thuận của vợ chồng hoặc tại Tòa án. Việc giải quyết tại Tòa án
chính là một hoạt động áp dụng pháp luật. Lúc này, Tòa án sẽ căn cứ trên các
Theo khoản 1 Điều 40 Luật HN&GĐ năm 2014, sau khi chia tài sản
chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, phần tài sản được chia, hoa lợi, lợi
tức phát sinh từ tài sản riêng của mỗi bên sau khi chia tài sản chung là tài sản
riêng của vợ, chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác, phần tài sản
còn lại không chia vẫn là tài sản chung của vợ chồng. Điều này không làm
chấm dứt chế độ sở hữu chung. Ngay cả khi toàn bộ tài sản chung được chia
thì chế độ sở hữu chung giữa hai vợ chồng cũng không chấm dứt vì sau khi
chia, vợ chồng vẫn có thể tiếp tục xây dựng, vun đắp để tạo lập nên phần tài
sản chung mới hoặc được tặng cho chung, thừa kế chung trong thời kỳ hôn
nhân hoặc chấm dứt hiệu lực của việc chia tài sản chung. Việc chia tài sản
chung lúc này chỉ làm thay đổi khối lượng tài sản chung, tài sản riêng của vợ
chồng. Ví dụ, vợ chồng ông A có tài sản chung là một sổ tiết kiệm 500 triệu
đồng, một ngôi nhà vợ chồng ông đang ở và tiền lương hàng tháng của hai vợ
chồng. Vợ chồng ông thỏa thuận chia cho ông A sổ tiết kiệm 500 triệu đồng
làm tài sản riêng để ông A phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh. Như vậy,
việc chia tài sản chung đã làm thay đổi căn cứ xác định tài sản chung, tài sản
riêng của vợ chồng mà không làm chấm dứt chế độ sở hữu chung hợp nhất của
vợ chồng. Khối tài sản chung vẫn còn tồn tại bởi không chia hết tài sản.
1.3. Các nguyên tắc cơ bản của việc chia tài sản chung của vợ chồng trong
thời kỳ hôn nhân
Nguyên tắc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân là
những tư tưởng chỉ đạo mang tính chi phối, định hướng cho mọi hoạt động của
các của chủ tham gia vào việc giải quyết chia tài sản chung của vợ chồng trong
14
thời kỳ hôn nhân. Hiện nay pháp luật chưa có quy định cụ thể về các nguyên
tắc cơ bản khi chia tài sản chung trong trường hợp này, do đó dựa trên các căn
cứ lý luận và thực tiễn, việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn
thức đầy đủ và rõ ràng về những hậu quả pháp lý phát sinh sau khi chia tài sản
chung. Đồng thời, thỏa thuận phân chia tài sản cũng cần đáp ứng các yêu cầu
cụ thể của Luật HN&GĐ năm 2014 về hình thức: phải lập thành văn bản, văn
bản này được công chứng theo yêu cầu của vợ chồng hoặc theo quy định của
pháp luật.
Thứ ba, nguyên tắc thỏa thuận chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân
không được trái pháp luật và đạo đức xã hội.
Vợ chồng được tự do thể hiện ý chí trong việc thỏa thuận các nội dung
liên quan đến việc chia tài sản chung. Tuy nhiên, đồng thời pháp luật cũng điều
chỉnh quyền tự do thỏa thuận này của vợ chồng trên cơ sở hài hòa và đảm bảo
tôn trọng lợi ích chính đáng của các chủ thể khác trong xã hội. Nếu sự thỏa
thuậngây ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước, vi phạm đến quyền, lợi ích của
các chủ thể là tổ chức, cá nhân khác, pháp luật sẽ không thừa nhận và thỏa
thuận sẽ vô hiệu. Điều 42 Luật HN&GĐ năm 2014 là sự thể hiện cho tinh thần
của nguyên tắc này, khi việc chia tài sản sẽ bị coi là vô hiệu nếu rơi vào các
trường hợp: nhằm trốn tránh thực hiện các nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng,
bồi thường thiệt hại, thanh toán khi bị Tòa án tuyên bố phá sản, trả nợ cho cá
nhân, tổ chức, nộp thuế hoặc nghĩa vụ tài chính khác đối với Nhà nước, nghĩa
vụ khác về tài sản…
Thứ tư, việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân phải
đảm bảo quyền lợi của con.
Luật HN&GĐ năm 2014 đã có những quy định cụ thể về quyền và nghĩa
vụ giữa cha mẹ với con cái. Khoản 4 Điều 68 nhấn mạnh: “Mọi thỏa thuận của
cha mẹ, con liên quan đến quan hệ nhân thân, tài sản không được làm ảnh
hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên, con đã thành niên
mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài
sản để tự nuôi mình, cha mẹ mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả
năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình”. Trong trường hợp vợ
chồng phân chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng phải có thỏa
đóng góp và nâng cao đời sống gia đình.
17
Thứ hai, chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân giúp
giải quyết mâu thuẫn vợ chồng. Đời sống vợ chồng vốn chứa đựng nhiều mâu
thuẫn và có thể dẫn đến xung đột, nhưng vì những lý do nào đó như sợ ảnh
hưởng tới con cái, hàng xóm chê cười, ảnh hưởng đến danh dự, uy tín của nhau
mà vợ chồng không muốn ly hôn. Ở một số gia đình, vợ chồng có thể ly thân
một khoảng thời gian. Trước những tình huống này, vợ chồng không yêu cầu
ly hôn mà chỉ yêu cầu chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân. Việc chia tài
sản chung lúc này vừa thể hiện việc tôn trọng quyền tự định đoạt tài sản của
mỗi bên vợ, chồng, lại đồng thời đóng vai trò bảo vệ quyền và lợi ích chung
của gia đình.
Thứ ba, chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân có ý
nghĩa trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bên thứ ba có liên quan
đến tài sản của vợ chồng. Trong quá trình tham gia các quan hệ xã hội bên
ngoài, rất nhiều trường hợp vợ, chồng phải thực hiện các nghĩa vụ dân sự riêng
đối với người thứ ba (như nợ vay từ trước khi kết hôn hoặc trong thời kỳ hôn
nhân mà sử dụng vào mục đích riêng). Trong trường hợp này, nếu tài sản riêng
không có hoặc không đủ mà vợ chồng không thỏa thuận được về việc lấy tài
sản chung để trả nợ riêng cho một bên thì vợ, chồng có quyền yêu cầu chia tài
sản chung trong thời kỳ hôn nhân để lấy phần tài sản riêng trong khối tài sản
chung của vợ chồng để thanh toán nghĩa vụ riêng với người thứ ba có liên quan.
Thứ tư, quy định về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn
nhân đánh dấu bước chuyển biến quan trọng của các quy định pháp luật về sở
hữu tài sản của vợ chồng nói chung. Trước đây, trong các quan hệ hôn nhân
thời phong kiến, người dân thường lạ lẫm với việc phân định rạch ròi về tài sản
vợ chồng. Giữa người chồng và người vợ thường không có sự độc lập về tài