Thực trạng pháp luật về quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp và các giải pháp nhằm thực hiện có hiệu quả pháp luật về quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp ở tỉnh lạng sơn - Pdf 51

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

LƯƠNG THỊ HÀ PHƯƠNG

THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VÀ CÁC GIẢI PHÁP NHẰM
THỰC HIỆN CÓ HIỆU QUẢ PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ
NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP Ở TỈNH LẠNG SƠN

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2017


BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

LƯƠNG THỊ HÀ PHƯƠNG

THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VÀ CÁC GIẢI PHÁP NHẰM
THỰC HIỆN CÓ HIỆU QUẢ PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ
NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP Ở TỈNH LẠNG SƠN



Doanh nghiệp

DNNVV

Doanh nghiệp nhỏ và vừa

NXB

Nhà xuất bản

GTGT

Giá trị gia tăng

QLNN

Quản lý nhà nước

SXKD

Sản xuất kinh doanh

UBND

Ủy ban nhân dân


DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
Bảng 2.1: Doanh nghiệp tỉnh Lạng Sơn theo loại hình ................................ 30



2.2.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước đối với hoạt động của
doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn............................................... 28
2.2.2. Thực trạng thi hành các quy định pháp luật về quản lý nhà nước
của UBND tỉnh Lạng Sơn đối với các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh.. 31
Chương 3 CÁC GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ
THỰC THI CÓ HIỆU QUẢ PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP Ở TỈNH LẠNG SƠN......................... 51
3.1. Các phương hướng nhằm hoàn thiện pháp luật về quản lý nhà nước đối với
các doanh nghiệp....................................................................................................51
3.1.1. Quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp phải luôn gắn với việc hỗ
trợ và tạo mọi thuận lợi cho doanh nghiệp............................................. 51
3.1.2. Quản lý nhà nước đối với hoạt động của doanh nghiệp phải đảm
bảo đúng quy định của pháp luật; mọi hoạt động quản lý nhà nước đều
phải được thực hiện trên cơ sở pháp luật. .............................................. 52
3.1.3. Quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp phải đảm bảo cho các
doanh nghiệp phát triển một cách hài hòa về quy mô, phân bố hợp lý các
đơn vị kinh tế ........................................................................................... 53
3.1.4. Phát triển doanh nghiệp phải gắn với việc xây dựng hệ thống
chính trị - xã hội, các tổ chức đại diện cho người lao động................... 55
3.1.5. Quản lý nhà nước đối với hoạt động của doanh nghiệp phải tập
trung vào công tác “hậu kiểm” đối với doanh nghiệp. .......................... 56
3.2. Các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về quản lý nhà nước đối với các
doanh nghiệp. .........................................................................................................57
3.2.1. Hoàn thiện hệ thống pháp luật nhằm tạo lập môi trường kinh
doanh thuận lợi, bình đẳng cho sự phát triển của doanh nghiệp ........... 57
3.2.2. Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính đối với hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp. ........................................................................ 59


phải đảm bảo việc thực hiện pháp luật của tất cả các doanh nghiệp trong xã
hội. Đó chính là hoạt động quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp.
Đối với doanh nghiệp, mục tiêu lợi nhuận là mục tiêu hàng đầu trong
kinh doanh. Nhà nước ta, bên cạnh việc ban hành pháp luật, còn phải thường
xuyên tuyên truyền, vận động doanh nghiệp tuân thủ pháp luật, kinh doanh
trong “hành lang” của pháp luật.
Để đảm bảo cho doanh nghiệp thực thi pháp luật một cách đầy đủ,
nghiêm túc, Nhà nước giao cho các cơ quan chức năng, cơ quan chuyên
ngành thẩm quyền quản lý nhà nước theo từng lĩnh vực cụ thể, trong đó bao
gồm cả quản lý doanh nghiệp theo lĩnh vực phụ trách. Sau khi thành lập, các
doanh nghiệp sẽ thực hiện các hoạt động kinh doanh theo ngành, nghề mà


2

doanh nghiệp đã đăng ký. Đối với từng loại ngành, nghề, doanh nghiệp phải
thực hiện các quy định pháp luật về ngành, nghề đó; đồng thời chịu sự quản lý
của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong lĩnh vực đó.
Quản lý nhà nước đối với hoạt động của các doanh nghiệp trên địa bàn
tỉnh Lạng Sơn là một nội dung không mới do đây là hoạt động thường xuyên
của các cơ quan nhà nước ở Lạng Sơn. Nhưng cho đến nay, chưa có một đề tài
nghiên cứu nào của khoa học pháp lý nghiên cứu một cách đầy đủ và sâu sắc
về cả lý luận và thực tiễn vấn đề này. Vì vậy, tác giả quyết định lựa chọn vấn
đề: “Thực trạng pháp luật về quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp và các
giải pháp nhằm thực hiện có hiệu quả pháp luật về quản lý nhà nước đối với
doanh nghiệp ở tỉnh Lạng Sơn” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình.
1. Tình hình nghiên cứu đề tài
Cho đến nay, thực sự chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu
cụ thể và chuyên sâu về đề tài này, nhưng đã có một số công trình nghiên cứu
có liên quan phần nào đến đề tài này đã được công bố, cụ thể như:

QLNN đối với hoạt động của doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn.
3. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu của luận văn.
3.1. Đối tượng nghiên cứu của luận văn
Luận văn nghiên cứu các quy định pháp luật về QLNN đối với các
doanh nghiệp nói chung và lấy ví dụ minh họa bằng các quy định về QLNN
đối với các doanh nghiệp ở trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn.
3.2. Phạm vi nghiên cứu của luận văn
Do có nhiều cơ quan nhà nước là chủ thể quản lý doanh nghiệp, số lượng
các văn bản pháp luật quy định về quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp là
rất lớn, dung lượng luận văn lại có hạn, nên tác giả luận văn chỉ đi sâu nghiên
cứu các văn bản pháp luật thể hiện sự QLNN đối với các doanh nghiệp từ
năm 1986 (là thời điểm Việt Nam tiến hành xây dựng nền kinh tế nhiều thành
phần, hoạt động theo cơ chế thị trường với định hướng XHCN) đến nay cũng
như lấy các ví dụ thực tiễn về quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp trên
địa bản tỉnh Lạng Sơn từ năm 1986 đến nay.


4

4. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn.
4.1. Mục đích nghiên cứu của luận văn
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn quản lý nhà nước đối với các
doanh nghiệp và những ví dụ cụ thể trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn từ năm 1986
đến nay, tác giả luận văn đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và
thực thi có hiệu quả pháp luật về QLNN đối với các doanh nghiệp (nói chung)
và trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn (nói riêng).
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Để đạt được mục đích nghiên cứu đã định, tác giả luận văn đề ra và thực
hiện những nhiệm vụ nghiên cứu như sau:
1) Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về QLNN đối với các doanh nghiệp,

- Khái quát được thực tiễn thi hành pháp luật về QLNN đối với doanh
nghiệp từ năm 1986 cho tới nay.
- Nêu ra được các giải pháp phù hợp, có tính khả thi nhằm hoàn thiện
pháp luật về QLNN đối với các doanh nghiệp; nâng cao nhận thức về tầm
quan trọng, vai trò, tác dụng của QLNN đối với các doanh nghiệp và thực thi
có hiệu quả pháp luật về QLNN đối với doanh nghiệp (nói chung) và trên địa
bản tỉnh Lạng Sơn (nói riêng).
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài Lời nói đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn gồm ba chương, cụ thể là:
Chương 1. Những vấn đề lý luận pháp lý về quản lý nhà nước đối với
các doanh nghiệp.
Chương 2. Thực trạng pháp luật quản lý nhà nước đối với các doanh
nghiệp và thực tiễn thi hành tại tỉnh Lạng Sơn.
Chương 3. Các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và thực thi có hiệu
quả pháp luật về quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp ở tỉnh Lạng Sơn.


6

Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP

1.1. Khái niệm quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm của doanh nghiệp
1.1.1.1. Khái niệm doanh nghiệp
Mục đích chính sách kinh tế của Nhà nước Việt Nam là làm cho dân giàu
nước mạnh, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu vật chất và tinh thần của nhân
dân trên cơ sở phát huy mọi năng lực sản xuất, mọi tiềm năng của các thành

công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc thực
hiện dịch vụ nhằm mục đích kiếm lời.
Từ các định nghĩa nêu trên, chúng ta có thể đưa ra một khái niệm toàn
diện hơn về doanh nghiệp như sau: Doanh nghiệp là đơn vị sản xuất kinh
doanh được tổ chức nhằm tạo ra sản phẩm và dịch vụ đáp ứng nhu cầu tiêu
dùng trên thị trường, thông qua đó để tối đa hoá lợi nhuận trên cơ sở tôn trọng
luật pháp của Nhà nước và quyền lợi chính đáng của người tiêu dùng.
Là một chủ thể kinh doanh độc lập, được thành lập và hoạt động dưới
nhiều mô hình cụ thể với tên gọỉ khác nhau, doanh nghiệp có những đặc trưng
pháp lý trong việc thành lập và hoạt động, nó phải thỏa mãn những điều kiện
do pháp luật quy định.
1.1.1.2. Các đặc điểm của doanh nghiệp
Thứ nhất, doanh nghiệp phải có tên riêng. Tên riêng của doanh nghiệp là
một yếu tố có tính hình thức nhưng là dấu hiệu đầu tiên xác định tư cách chủ
thể độc lập của doanh nghiệp trên thương trường. Tên doanh nghiệp là cơ sở để
Nhà nước thực hiện QLNN đối với doanh nghiệp và cũng là cơ sở để phân biệt
chủ thể trong quan hệ giữa các doanh nghiệp với nhau và với người tiêu dùng.
7

Luật doanh nghiệp (2014);


8

Thứ hai, doanh nghiệp, phải có tài sản. Mục đích chủ yếu và trước tiên
của doanh nghiệp là hoạt động kinh doanh với những đặc trưng là đầu tư tài
sản và để thu lợi về tài sản. Bởi vậy, điều kiện tiên quyết và cũng là nét đặc
trưng lớn của doanh nghiệp là phải có một mức độ tài sản nhất định. Tài sản
là điều kiện hoạt động và cũng là mục đích hoạt động của doanh nghiệp.
Thứ ba, doanh nghiệp phải có trụ sở giao dich ổn định (trụ sở chính).

quan trọng của quyền lực chính trị trong xã hội - có tính chất cưỡng chế đơn
phương đối với xã hội. QLNN được hiểu trước hết là hoạt động của các cơ
quan nhà nước thực thi quyền lực nhà nước.
Trong quá trình quản lý, nhà quản lý bằng các quyết định quản lý của
mình, tác động lên một hay một nhóm đối tượng nhất định để buộc đối tượng
đó thực hiện những hành động theo ý chí của nhà quản lý. Quản lý nhà nước
là hoạt động tổ chức, điều hành của bộ máy nhà nước, là sự tác động, tổ chức
của quyền lực nhà nước trên phương diện lập pháp, tư pháp và hành pháp.
Về nguyên tắc, quyền lực nhà nước hiện nay ở mọi quốc gia trong quá
trình thực thi đều được chia thành ba bộ phận cơ bản là quyền lập pháp, quyền
hành pháp và quyền tư pháp. Quan hệ giữa các cơ quan thực thi ba nhánh
quyền lực nhà nước này, trước hết là quan hệ giữa cơ quan thực thi quyền lập
pháp và cơ quan thực thi quyền hành pháp, xác định cách thức tổ chức bộ
máy QLNN và tạo nên sự khác biệt trong cách thức tổ chức bộ máy nhà nước
ở các nước khác nhau. Ở nước ta, quyền lực nhà nước là thống nhất, nhưng có
sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc
thực thi ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp.
Quản lý nhà nước mang các đặc điểm như sau:
- Quản lý nhà nước là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước
- Quản lý nhà nước là hoạt động được tiến hành bởi những chủ hể có
quyền hành pháp
- Quản lý nhà nước là hoạt động có tính thống nhất, được tổ chức chặt chẽ.
- Hoạt động quản lý hành chính nhà nước mang tính chấp hành và điều hành.


10

- Quản lý nhà nước là phục vụ lợi ích công và lợi ích toàn xã hội, không
vì lợi nhuận.
- Quản lý hành chính nhà nước ở nước ta không có sự tách biệt tuyệt đối

thông qua các phương thức và công cụ quản lý, nên trình độ, năng lực và đạo
đức của công chức là yếu tố quyết định trong việc QLNN đối với doanh nghiệp.
Ba là, cơ chế tác động của các cơ quan QLNN tới doanh nghiệp phải đảm
bảo các tiêu chí như tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp phát triển một
cách toàn diện, phát huy những ưu thế của doanh nghiệp và hạn chế tối đa
những khuyết tật của doanh nghiệp. Việc tác động của QLNN đến các doanh
nghiệp chủ yếu dựa trên một hệ thống các công cụ, trong đó bao gồm: hệ thống
pháp luật đồng bộ; hệ thống cơ chế, chính sách kinh tế; chiến lược, quy hoạch,
kế hoạch phát triển doanh nghiệp theo cơ cấu ngành, theo vùng và địa bàn, thời
gian và không gian với yêu cầu hoạch định một cách khoa học; có bước đi và
lộ trình cụ thể, rõ ràng. Đặc biệt, việc tác động của QLNN đối với doanh
nghiệp nhằm hướng tới mục tiêu chung đảm bảo phát triển ổn định của các
doanh nghiệp đồng thời gắn việc thúc đẩy phát triển các doanh nghiệp với ồn
định chính trị xã hội và cân đối phát triển vùng, ngành theo mục tiêu chung.
1.2. Vai trò và nội dung của quản lý nhà nước đới với các doanh
nghiệp ở Việt Nam.
1.2.1. Vai trò của quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp ở Việt Nam.
Hoạt động quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp ở Việt Nam có vai
trò như sau:
-Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân trong xã
hội, hạn chế những rủi ro, thiệt hại cho các tổ chức, cá nhân trong xã hội và
cho chính các doanh nghiệp.
Hoạt động kinh doanh không chỉ diễn ra giữa các thương nhân với
nhau, mà nó còn có mối liên hệ mật thiết giữa các doanh nhân với người dân
trong xã hội. Đó là các quan hệ ký kết hợp đồng kinh tế, các quan hệ mua bán
phục vụ kinh doanh hoặc quan hệ mua bán phục vụ cho cuộc sống của con


12



nhân được tự do kinh doanh và kinh doanh đúng pháp luật. Nếu như trước
đây, Nhà nước ta can thiệp trực tiếp vào mọi hoạt động kinh tế - xã hội, thì
nay phương thức điều tiết đã có những thay đổi căn bản. Nhà nước thực hiện
chức năng QLNN thông qua các hoạt động điều tiết kinh tế vĩ mô, sử dụng
các công cụ điều tiết như thuế và thu chi ngân sách, tỷ giá hối đoái, để điều
tiết chu kỳ kinh tế, đảm bảo công ăn việc làm, ổn định giá cả và tăng trưởng
liên tục của nền kinh tế.
Các nền kinh tế thị trường nguyên thuỷ dựa trên cơ sở sản xuất và trao đổi
giản đơn có thể hoạt động một cách có hiệu quả mà không cần sự can thiệp của
Nhà nước. Tuy nhiên, vì nền kinh tế tăng trưởng dưới tác động bên ngoài ngày
một phức tạp nên sự can thiệp của Nhà nước trở nên một tất yếu cho sự hoạt
động có hiệu quả của nền kinh tế thị trường. Nhà nước trong các nền kinh tế thị
trường đóng một vai trò rất lớn trong việc tạo ra các điều kiện thuận lợi để thị
trường tư nhân có thể phát huy hết hiệu quả hoạt động của mình.
- Đảm bảo doanh nghiệp hoạt động đúng pháp luật
Để đảm bảo doanh nghiệp hoạt động theo đúng pháp luật, các doanh
nghiệp phải có sự hiểu biết pháp luật, trước hết là Luật Doanh nghiệp và
nhiều quy định pháp luật khác, đặc biệt là các văn bản pháp luật chuyên
ngành. Bên cạnh đó, doanh nghiệp phải tôn trọng pháp luật, có ý thức nghiêm
túc tuân thủ pháp luật, trên cơ sở đó doanh nghiệp mới đảm bảo thực hiện trọn
vẹn quyền và nghĩa vụ của mình trong kinh doanh, phát huy được vai trò của
doanh nghiệp trong nền kinh tế quốc dân.
Nhà nước, với nhiệm vụ và quyền năng của mình, đề ra pháp luật, tuyên
truyền, phổ biến pháp luật và đảm bảo việc tuân thủ pháp luật thông qua các
biện pháp cưỡng chế thi hành. Trong quá trình hoạt động kinh doanh, doanh
nghiệp có những quyền được pháp luật xác định và bảo hộ, đồng thời cũng
phải thực hiện những nghĩa vụ đối với Nhà nước, đối với xã hội. Đây là
những quyền và nghĩa vụ pháp lý do pháp luật xác định và bảo đảm thực hiện.




15

những năm gần đây, hệ thống luật pháp của Việt Nam không ngừng được
hoàn thiện, phù hợp với cơ chế thị trường và thông lệ quốc tế, trong đó, có
nhiều chính sách hỗ trợ Doanh nghiệp như: chính sách về đất đai, thuế, tín
dụng, thị trường, khoa học công nghệ...
- Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp
Theo Luật Doanh nghiệp năm 2014, và nhiều văn bản pháp luật khác,
chủ thể QLNN đối với hoạt động của doanh nghiệp gồm: Chính phủ; Các bộ,
cơ quan ngang bộ; UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.
Theo quy định của Luật doanh nghiệp và các văn bản pháp luật khác,
nhiệm vụ, quyền hạn và nội dung QLNN địa phương đối với doanh nghiệp
nói chung bao gồm một số nội dung sau:
Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thực hiện QLNN
đối với doanh nghiệp trong phạm vi địa phương; trong phạm vi nhiệm vụ,
quyên hạn được phân công có trách nhiệm:
Chỉ đạo các cơ quan chuyên môn trực thuộc và Uỷ ban nhân dân huyện,
quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh cung cấp thông tin doanh nghiệp; giải quyết
khó khăn, cản trở trong đầu tư và hỗ trợ phát triển doanh nghiệp trong phạm
vi thẩm quyên; tổ chức kiểm tra, thanh tra doanh nghiệp và xử lý vi phạm
theo quy định của pháp luật;
Tổ chức đăng ký kinh doanh và thực hiện quản lý doanh nghiệp theo các
nội dung đăng ký kinh doanh; xử lý hành chính các hành vi vi phạm Luật
doanh nghiệp và pháp luật có liên quan;
Chỉ đạo các cơ quan chuyên môn trực thuộc và Uỷ ban nhân dân huyện,
quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thực hiện các quy định của pháp luật vê
thuế, các điều kiện kinh doanh theo quy định của pháp luật và hướng dẫn
tương ứng của các bộ, cơ quan ngang bộ; trực tiếp xử lý hoặc kiến nghị cơ

nghiệp phát huy mọi khả năng và nguồn lực đẩy mạnh hoạt động SXKD,
nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp.


17

Nội dung đào tạo bồi dưỡng đội ngũ doanh nhân là những vấn đề về
pháp luật trong kinh doanh, chiến lược kinh doanh, quản trị tài chính, quản trị
nhân lực và quản trị maketing... Các nội dung trên cần được xây dựng cô
đọng, thiết thực phù hợp với trình độ và nhu cầu thực tế các doanh nghiệp.
Qua nội dung đào tạo sẽ giúp cho các đơn vị nâng cao được trình độ quản lý,
năm bắt được các quy định của pháp luật trong lĩnh vực SXKD, nâng cao hiểu
biết về kinh tế thị trường, hội nhập kinh tế quốc tê...
Ngoài ra, các cơ quan QLNN có thể hỗ trợ kinh phí để các lãnh đạo
doanh nghiệp được tham quan, học tập kinh nghiệm và tiếp cận với thị trường
nước ngoài.
+ Đối với hỗ trợ đào tạo nâng cao trình độ cho người lao động trong
Doanh nghiệp. Lao động, là một nguồn lực rất quan trọng của doanh nghiệp,
vì vậy, chất lượng nguồn lao động sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản
xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Hiện nay, lao động trong các Doanh
nghiệp cần được Nhà nước hỗ trợ đào tạo về kiến thức pháp luật và tác phong
công nghiệp; hỗ trợ các dự án đào tạo nghề, phát triển nghề. Nội dung hỗ trợ
cơ bản là:
Hỗ trợ đào tạo nghề tiểu thủ công nghiệp, công nhân lành nghề, vừa đảm
bảo duy trì và phát triển các làng nghề, vừa nâng cao năng lực cho lao động
trong doanh nghiệp để tạo cơ hội phát triển kinh doanh cho Doanh nghiệp.
Thực hiện quy hoạch và xây dựng hệ thống trung tâm giới thiệu việc
làm, xây dựng đề án nâng cao năng lực cho hệ thống các trường dạy nghề trên
địa bàn tỉnh theo hướng tăng cường xã hội hoá công tác dạy nghề. Cải cách
nội dung đào tạo sát với yêu cầu của doanh nghiệp và đào tạo theo đơn đặt


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status