MỤC LỤC
A. ĐỀ BÀI................................................................................................................1
B. GIẢI QUYẾT.....................................................................................................1
Câu 1: Quyền của người khuyết tật khi tham gia các chương trình giáo dục phổ
thông..........................................................................................................................1
Câu 2: Bình luận về quy trình xác nhận mức độ quyết tật do Hội đồng giám
định mức độ khuyết tật cấp xã thực hiện.................................................................5
C. KẾT LUẬN.........................................................................................................9
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO..............................................................10
1
A. ĐỀ BÀI
Câu 1:
Quyền của người khuyết tật khi tham gia các chương trình giáo dục
phổ thông.
Câu 2:
Bình luận về quy trình xác nhận mức độ khuyết tật do Hội đồng giám
định mức độ khuyết tật cấp xã thực hiện.
B. GIẢI QUYẾT
Câu 1: Quyền của người khuyết tật khi tham gia các chương trình giáo
dục phổ thông.
Cũng giống như những người bình thường, người khuyết tật cũng là
một con người vì thế họ cũng có những quyền cơ bản như bao người khác.
Điều 39 Hiến pháp năm 2013 có quy định: “Công dân có quyền và nghĩa vụ
học tập”. Như vậy học tập vừa là quyền cũng đồng thời là nghĩa vụ của công
dân, đối với người khuyết tật họ cũng có quyền học tập, tham gia vào các
chương trình giáo dục như những công dân khác. Pháp luật hiện hành có
những quy định riêng dành cho người khuyết tật khi tham gia các chương
trình giáo dục phổ thông.
môn học hoặc hoạt động giáo dục trong chương trình giáo dục.
-Người khuyết tật học tập theo phương thức giáo dục hòa nhập học
theo chương trình giáo dục chung. Trường hợp người khuyết tật không có
khả năng đáp ứng các yêu cầu của chương trình giáo dục chung, người đứng
đầu cơ sở giáo dục quyết định điều chỉnh, miễn, giảm, thay thế một số nội
dung môn học hoặc một số môn học, hoạt động giáo dục cho phù hợp và
được thể hiện trong kế hoạch giáo dục cụ thể với từng cá nhân. Giáo dục hòa
nhập là phương thức giáo dục chung người khuyết tật với người không
khuyết tật trong cơ sở giáo dục. Do chính từ yếu tố giáo dục chung với người
không khuyết tật nên sẽ có những môn học, những hoạt động người khuyết
tật khó có thể học tập chung cùng người không khuyết tật. Ví dụ: với chương
2
trình giáo dục phổ thông bình thường sẽ có môn học thể dục, đây là một môn
học đòi hỏi học sinh phải vận động nhiều, như vậy người khuyết tật vận động
sẽ rất khó khăn khi tham gia học môn học này với người không khuyết tật.
Trường hợp này, người khuyết tật có thể được miễn môn học này. Mỗi dạng
tật có những khó khăn riêng, chính vì vậy mà nội dung môn học miễn giảm
cho ngời khuyết tật sẽ được thể hiện trong giáo dục cá nhân, với mỗi người
khuyết tật sẽ có những nội dung môn học được miễn giảm khác nhau phụ
thuộc vào dạng tật của người đó. Đồng thời khi đánh giá kết quả học tập học
sinh là người khuyết tật cũng sẽ được đánh giá chung như đối với học sinh
không khuyết tật nhưng có giảm nhẹ yêu cầu về kết quả. Khi đánh giá kết
quả học tập chủ yếu là động viên, khuyến khích sự nỗ lực và tiến bộ của
người học.
-Người khuyết tật học tập theo phương thức giáo dục chuyên biệt ở cơ
sở giáo dục chuyên biệt hoặc lớp chuyên biệt trong các cơ sở giáo dục học
theo chương trình giáo dục chuyên biệt đã được Bộ giáo dục và đào tạo quy
định đối với từng dạng khuyết tật. Trường hợp người khuyết tật không có
thù trong các trường văn hóa nghệ thuật công lập, ngoài công lập gồm: nhạc
công kịch hát dân tộc, nhạc công truyền thống Huế, đờn ca tài tử Nam Bộ,…
hoặc theo học các chương trình nhã nhạc, cung đình, trèo tuống, cải lương,
múa xiếc,…
-Được giảm 50% học phí nếu người khuyết tật là con cán bộ, công
nhân, viên chức mà cha hoặc mẹ bị tai nạn lao động hoặc mắc bệnh nghề
nghiệp được hưởng trợ cấp thường xuyên.
Bên cạnh đó người khuyết tật có khó khăn về kinh tế sẽ được hỗ trợ
chi phí học tập.
Những chính sách về miễn giảm học phí, chi phí học tập cho người
khuyết tật sẽ giúp giảm bớt gánh nặng về mặt kinh tế cho người khuyết tật để
họ có cơ hội được học tập và phát triển.
Thứ sáu, chính sách học bổng và hỗ trợ phương tiện, đồ dùng học tập.
4
-Học bổng: người khuyết tật thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo đi học tại
các cơ sở giáo dục được hưởng học bổng mỗi tháng bằng 80%mức lương cơ
sở, được cấp học bổng 9 tháng / năm học.
-Hồ trợ kinh phí để mua sắm phương tiện, đồ dùng học tập: người
khuyết tật thuộc hộ nghèo hoặc hộ cận nghèo đang học tại các cơ sở giáo dục
được hỗ trợ với mức 1.000.000 đồng / người / năm học.
Đây là những quyền của người khuyết tật khi tham gia chương trình
giáo dục phổ thông. Những quyền này chủ yếu giúp người khuyết tật có
động lực học tập để có thể học xong chương trình giáo dục phổ thông mà bất
kỳ cá nhân nào cũng phải theo học.
Câu 2: Bình luận về quy trình xác nhận mức độ quyết tật do Hội
đồng giám định mức độ khuyết tật cấp xã thực hiện.
Điều 15 Luật Người khuyết tật năm 2010 trách nhiệm xác định mức
độ khuyết tật do Hội đồng xác định mức độ khuyết tật thực hiện. Hội đồng
khuyết tật cần phải có nhiều người có khả năng y tế để có thể xác định một
cách chính xác mức độ khuyết tật. Xác định chính xác mức độ khuyết tật là
một yêu cầu vô cùng quan trọng vì sẽ ảnh hưởng đến giấy xác nhận khuyết
tật dẫn đến ảnh hưởng tới quyền lợi được hưởng của người khuyết tật như
các chính sách bảo trợ xã hội cho người khuyết tật.
Việc xác đinh mức độ khuyết tật của Hội đồng xác định mức độ
khuyết tật được thực hiện bằng phương pháp quan sát trực tiếp người khuyết
tật, thông qua thực hiện hoạt động đơn giản phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá
nhân hàng ngày, sử dụng bộ câu hỏi theo các tiêu chí về y tế, xã hội và các
phương pháp đơn khác để kết luận mức độ khuyết tật đối với từng người.
Phương pháp xác định mức độ khuyết tật này chưa phản ánh đúng mức độ
khuyết tật của từng người. Bởi lẽ không thể chỉ thông qua bộ câu hỏi theo
các tiêu chí về y tế, xã hội và thông qua thực hiện hoạt động đơn giản phục
vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày là có thể xác định mức độ khuyết tật
được. Vì để xác định mức độ khuyết tật thì cần phải xác định chính xác khả
6
năng tự phục vụ hoặc suy giảm khả năng lao động (Theo Điều 4 Nghị định
số 28/2012/NĐ-CP: Hội đồng giám định y khoa kết luận một người bị suy
giảm khả năng lao động từ 81% trở lên là người khuyết tật đặc biệt nặng, suy
giảm khả năng lao động từ 61% đến 80% là người khuyết tật nặng, suy giảm
khả năng lao động từ 61% trở xuống là người khuyết tật nhẹ). Mà với những
thành phần trong Hội đồng giám định này không phải ai cũng đủ tiêu chuẩn
để có thể đánh giá chính xác khả năng tự phục vụ đặc biệt là khả năng suy
giảm lao động. Hơn nữa, chỉ sử dụng bộ câu hỏi thông thường kia thì có
nhiều người khuyết tật họ mặc cảm với xã hội, họ không muốn mọi người
trong xã hội thương hại họ nên họ sẽ cố gắng làm sao để trả lời các câu hỏi ở
mức độ tự phục vụ cho mình tốt nhất; còn một số người khuyết tật biết được
chính sách bảo trợ xã hội của nhà nước nên có thể sẽ cố tình trả lời sai các
quyền lợi của người khuyết tật như quyền lợi về chăm sóc, khám chữa bệnh,
bảo trợ xã hội,…
Bên cạnh những mặt hạn chế của quy trình xác định mức độ khuyết tật
do Hội đồng giám định mức độ cấp xã thực hiện cũng có mặt tích cực đó là
việc thực hiện giám định được thực hiện ngay Ủy ban nhân dân xã hoặc trạm
y tế nơi mà người khuyết tật cư trú. Trường hợp mà người khuyết tật không
thể đến nơi xác định mức độ khuyết tật được thì Hội đồng giám định mức độ
khuyết tật sẽ đến tận nơi người khuyết tật cư trú để tiến hành giám định.
Theo đó sẽ giảm bớt khoản đi lại cho người khuyết tật, vì việc đi đến đến
những nơi xa với người khuyết tật là khá khó khăn đặc biệt là những người
khuyết tật vận động.
Để đảm bảo hoạt động xác định mực độ khuyết tật được thực hiện một
cách công bằng, xác định đúng mức độ khuyết tật và đảm bảo thuận tiện cho
người khuyết tật thì vẫn nên giám định tại xã như hiện nay, tuy nhiên thành
viên của Hội đồng giám định mức độ khuyết tật nên có thêm những chuyên
khoa y tế, bác sĩ tại các bệnh viện có chuyên môn về giám định y khoa đến
cùng thực hiện giám định mức độ khuyết tật. Đồng thời giảm bớt khâu hình
8
thức để được giám định mức độ khuyết tật, giảm bớt thời gian chờ Hội đồng
giám định thành lập để người khuyết tật được giám định mức độ khuyết tật
trong thời gian nhanh nhất.
9
C. KẾT LUẬN
Người khuyết tật hiện nay chiếm khá nhiều, để đảm bảo quyền lợi cho
người khuyết tật pháp luật nên quy định rõ ràng cũng như giảm nhẹ khâu thủ