Tiểu thuyết của Đỗ Phấn từ góc nhìn sinh thái (LV thạc sĩ) - Pdf 51

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

HOÀNG
THANH
HUYỀN
ĐỖTHỊ
MINH
HOÀNG

TIỂU THUYẾT CỦA ĐỖ PHẤN TỪ GÓC NHÌN SINH THÁI

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC VIỆT NAM

HÀ NỘI, 2018


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐỖ MINH
HOÀNGHUYỀN
HOÀNG
THỊ THANH


3.3. Cảm thức nơi chốn, không gian và thời gian nhìn từ cảm quan sinh thái.....71
KẾT LUẬN........................................................................................................ 79
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO......................................................... 81


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tự nhiên và con người có mối quan hệ mật thiết với nhau. Con người có thể sống
hài hòa với tự nhiên, sống thuận theo tự nhiên, lấy thiên nhiên làm nguồn vui, làm lẽ
sống của cuộc đời. Ngược lại, thiên nhiên cũng có thể tác động lại với con người, nếu
như con người khai thác thiên nhiên một cách cạn kiệt. Ngày nay, khi khoa học kĩ
thuật phát triển, xã hội ngày càng tiến bộ, văn minh thì nhu cầu của con người ngày
càng đầy đủ hơn về mọi mặt. Đồng thời, nó cũng kéo theo nhiều hệ lụy của cuộc sống
như làm mất cân bằng sinh thái, khí hậu biến đổi, bão lũ, sạt lở vào mùa mưa, hạn hán
vào mùa hè, triều cường tăng nhanh, khủng hoảng môi trường tự nhiên, con người phải
đối mặt với nhiều nguy cơ sinh thái. Đây đang là vấn đề đáng quan tâm của nhiều ngành
khoa học, trong đó có văn học.
Việt Nam là một nước có khí hậu nhiệt đới gió mùa, nằm trong khu vực Đông
Nam Á. Với con người Việt Nam, thiên nhiên luôn là người bạn thân thiết. Vì vậy, tình
yêu thiên nhiên luôn là một nội dung quan trọng của văn học Việt Nam từ xưa tới nay.
Trong văn học dân gian, thiên nhiên là đối tượng nhận thức, cải tạo, chinh phục. Thiên
nhiên tươi đẹp thể hiện qua cánh cò, dòng suối, vầng trăng và thiên nhiên hiện ra ở vẻ
đẹp phong phú ở các vùng quê khác nhau. Trong văn học trung đại, hình tượng thiên
nhiên gắn liền với lý tưởng đạo đức, thẩm mĩ, thiên nhiên tượng trưng cho nhân cách cao
thượng của các nhà Nho, thiên nhiên còn là nơi thể hiện lý tưởng thanh cao, sống ẩn dật,
không màng danh lợi của các nhà nho đương thời. Trong văn học hiện đại, thiên nhiên
thường gắn liền với tình yêu quê hương đất nước và tình cảm lứa đôi. Văn học đương
đại, thiên nhiên đang dần mất đi vẻ đẹp vốn có của nó, do nhu cầu của con người, do
quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Con người đã tác động vào thiên nhiên, mặc sức
khai thác thiên nhiên mà không nghĩ đến hậu quả khôn lường của nó. Môi trường tự

dòng người hối hả, trong khói bụi của môi trường, đang âu lo với các tệ nạn xã hội, đang
cô đơn lạc lõng giữa dòng đời. Trong sáng tác của mình, Đỗ Phấn bộc lộ khát vọng về
một không gian sống an lành, thanh bình của cư dân thành phố, ở đó thành phố phát triển
trong sự giao thoa, cân bằng với thế giới tự nhiên. Đặc biệt, nhà văn đã dành sự quan tâm
của mình đến môi trường sinh thái gắn liền với những vấn đề của đời sống đô thị hiện
đại. Có lẽ, đây là một trong những phương diện


khiến cho tác phẩm của Đỗ Phấn thu hút được sự quan tâm của người đọc, khiến mỗi
người khi đọc tác phẩm của ông không khỏi không suy ngẫm về cuộc sống mà chính
mình đang sống. Nằm trong mạch vận động của văn học đương đại, sáng tác của Đỗ Phấn
có những đóng góp đáng kể trong việc thể hiện tâm thế nhập cuộc vào cuộc sống đang
diễn ra, thể hiện một cảm quan sinh thái rõ rệt.
Tiếp cận với các tiểu thuyết của Đỗ Phấn chúng tôi mong muốn tìm hiểu những đặc
điểm trong tiểu thuyết Đỗ Phấn từ góc nhìn sinh thái, từ đó góp thêm tiếng nói nhằm ghi
nhận những đóng góp của nhà văn đối với nền văn học Việt Nam. Lựa chọn đề tài:
“Tiểu thuyết của Đỗ Phấn từ góc nhìn sinh thái”, luận văn hướng đến đánh giá giá trị
độc đáo của tác giả Đỗ Phấn trong mảng viết về vấn đề môi trường sinh thái.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Đỗ Phấn không phải là một nhà văn chuyên nghiệp, bởi trước khi cầm bút viết văn
ông là một họa sĩ đã thành danh. Mới xuất hiện trên văn đàn, chỉ trong vòng mười năm
gần đây Đỗ Phấn đã cho ra đời liên tiếp nhiều tác phẩm, với nhiều thể loại khác nhau.
Với lòng say mê văn chương nghệ thuật và sự nỗ lực mạnh mẽ, Đỗ Phấn đã cho ra đời
nhiều tác phẩm được người đọc đón nhận và đánh giá cao. Từ những tác phẩm đầu tiên
của nhà văn đã được khá nhiều độc giả và giới phê bình quan tâm, với nhiều bài viết đánh
giá khác nhau. Các tác phẩm của Đỗ Phấn đã được người đọc đón nhận và trở thành đối
tượng nghiên cứu trong nhiều bài viết và các luận văn thạc sĩ. Nhà nghiên cứu Đoàn Ánh
Dương, đã đánh giá cao tài năng của Đỗ Phấn ở lời bạt in ở trang bìa cuốn tiểu thuyết
Rừng người: “Đỗ Phấn tiêu biểu hơn các nhà văn khác ở chỗ là mẫn cảm nghệ thuật, cùng
với những trải nghiệm cuộc sống ở đô thị nên nhà văn đã hiểu rất rõ cái bát nháo của

sống và con người nơi đô thị.
Với những thành tựu và đóng góp, sáng tác của Đỗ Phấn đã trở thành đối tượng
quan tâm trong nhiều bài viết, công trình nghiên cứu. Tuy nhiên, vấn đề về môi trường,
về sinh thái đô thị thì chưa có luận văn, luận án nào nghiên cứu một cách có hệ thống. Vì
vậy, chúng tôi lựa chọn đề tài “Tiểu thuyết của Đỗ Phấn từ góc nhìn sinh thái” với
mong muốn đánh giá về tiểu thuyết của nhà văn Đỗ Phấn một cách toàn diện hơn.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu


Lựa chọn đề tài nghiên cứu Tiểu thuyết của Đỗ Phấn từ góc nhìn sinh thái, luận
văn hướng tới mục đích cơ bản sau:
- Làm sáng tỏ vấn đề về môi trường, về sinh thái trong tiểu thuyết của Đỗ Phấn.
- Phân tích, lí giải những đặc điểm về cảm quan sinh thái trong tiểu thuyết của Đỗ
Phấn.
- Chỉ ra được những đóng góp về phương diện thể hiện những vấn đề môi trường
sinh thái trong tiểu thuyết của Đỗ Phấn trong bối cảnh văn học Việt Nam đương đại.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn hướng đến ba nhiệm vụ sau:
- Vấn đề sinh thái qua các thời kì văn học và trong sáng tác của Đỗ Phấn.
- Cảm quan về sinh thái tự nhiên trong tiểu thuyết của Đỗ Phấn.
- Con người trong không gian sinh thái đô thị trong tiểu thuyết Đỗ Phấn.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài hướng trọng tâm tìm hiểu những đặc điểm về tiểu thuyết của Đỗ Phấn từ góc
nhìn sinh thái.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ của đề tài, chúng tôi nghiên cứu các sáng tác ở thể loại tiểu thuyết
của Đỗ Phấn:
- Vắng mặt (2010), Nxb Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh.

7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Vấn đề sinh thái qua các thời kì văn học và trong sáng tác của Đỗ
Phấn. Chương 2: Cảm quan về sinh thái tự nhiên trong tiểu thuyết của Đỗ Phấn.
Chương 3: Con người trong không gian sinh thái đô thị trong tiểu thuyết Đỗ Phấn.


Chương 1
VẤN ĐỀ SINH THÁI QUA CÁC THỜI KÌ VĂN
HỌC VÀ TRONG SÁNG TÁC CỦA ĐỖ PHẤN
1.1. Vấn đề sinh thái trong văn học Việt Nam
1.1.1. Nghiên cứu, phê bình văn học từ góc nhìn sinh thái
Chúng ta đang sống trong thế kỉ XXI - thế kỉ mà nhiều nhà nghiên cứu cho rằng
con người phải đối mặt với nhiều nguy cơ sinh thái nhất. Trong xã hội văn minh, hiện
đại cùng với sự phát triển của tốc độ đô thị hóa thì con người đang ngày càng khai thác
tự nhiên quá mức, khiến cho nguồn tài nguyên thiên nhiên bị cạn kiệt không chỉ ở một
quốc gia mà trên toàn cầu. Chính vì vậy mà con người đang phải chịu rất nhiều hậu
quả của thiên nhiên gây ra: hạn hán, lũ lụt, ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu, nước
biển tăng cao... Cùng với sự biến đổi ấy, các nhà văn ngày càng có ý thức khám phá về
những vấn đề sinh thái cũng như mối quan hệ giữa môi trường sống và con người.
Theo tiếng La tinh sinh thái có nghĩa là nhà ở, nơi cư trú. Bất kì sinh vật nào sinh
sống trên trái đất đều cần nơi cư trú [33, tr.9]. Thuật ngữ sinh thái học có thể hiểu đó là
bộ môn khoa học nghiên cứu về mối quan hệ giữa môi trường và sinh vật sống [28,
tr.13]. Bộ môn khoa học gắn liền với sinh học và dần dần được phát triển trong nhiều
ngành khoa học khác. Thuật ngữ sinh thái học ra đời vào năm 1869 do nhà nghiên cứu
sinh vật người Đức đưa ra [33, tr.9]. Đến nay, sinh thái không chỉ là đối tượng nghiên
cứu của bộ môn sinh học mà còn là đối tượng nghiên cứu của nhiều nghành khoa học
khác, trong đó có cả khoa học xã hội và nhân văn.
Phê bình sinh thái với tư cách là một khuynh hướng phê bình văn hóa văn học,
thực chất nó là nghiên cứu mối quan hệ giữa môi trường tự nhiên và con người được thể

của phê bình sinh thái (2015), bài giới thiệu Khuynh hướng phê bình sinh thái trong
nghiên cứu văn học của Lê Lưu Oanh, Trần Thị Ánh Nguyệt (2016), bài viết của giáo
sư Trần Đình Sử Chuyển hướng văn hóa trong nghiên cứu văn học. Gần đây nhất là
cuốn Phê bình sinh thái là gì? Viện Văn học dịch do Hoàng Tố Mai chủ biên và một
số cuộc hội thảo khoa học về phê bình sinh thái diễn ra như: cuộc hội thảo khoa
học Phê bình sinh thái -


Tiếng nói bản địa, tiếng nói toàn cầu do Viện Văn học tổ chức (12/2017); tháng
01/2018 hội thảo khoa học Sinh thái học trong văn học Đông Nam Á: Lịch sử, Huyền
thoại và Xã hội của Hiệp hội Nghiên cứu liên ngành Văn học và Môi trường Đông
Nam Á tại Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội cho
thấy phê bình sinh thái đang là một hướng nghiên cứu được giới nghiên cứu quan
tâm, đánh dấu những bước chuyển quan trọng trong việc nghiên cứu phê bình sinh
thái trong đời sống văn học ở thời đại khủng hoảng môi trường.
Thời đại ngày nay mà chúng ta đang sống đặt ra một vấn đề nếu chúng ta không
thay đổi hành vi của mình thì sẽ phải đối mặt với thảm họa sinh thái. Trong văn học vấn
đề sinh thái trở thành một đề tài quan trọng mà các nhà văn cần khai thác. Qua các tác
phẩm văn học của mình, các nhà văn có thể thể hiện thái độ về văn hóa ứng xử của
con người đối với tự nhiên, phê phán những tư tưởng, những chính sách văn hóa xã hội
làm ảnh hưởng đến thế giới tự nhiên, dẫn đến tình trạng xấu đi của môi trường và nguy
cơ biến đổi sinh thái.
1.1.2. Một vài hình dung về vấn đề sinh thái trong văn học Việt Nam
Trong lịch sử văn học, con người là đối tượng trung tâm của văn học. Trong nhiều
tác phẩm văn học, con người vẫn thường được xây dựng và biểu hiện trong mối quan hệ
với thế giới tự nhiên. Trong văn học dân gian, con người luôn luôn đứng cao hơn vũ trụ,
con người tôn sùng tự nhiên qua những hành động lớn lao kiểu dời non lấp bể, chống
trời, tôn sùng tự nhiên qua việc nói đến kích thước thân thể khổng lồ trong tác phẩm
“Nữ oa vá trời”, “Thần trụ trời”... Trong nhiều câu ca dao, dân ca, hò vè các tác giả dân
gian đã khắc họa thiên nhiên vô cùng tươi đẹp, con người sống trong môi trường ấy sẽ

Trãi). Dưới ngòi bút của Bạch Vân cư sĩ - Nguyễn Bỉnh Khiêm, những tứ thơ đã thể hiện
cảm xúc giao hòa giữa thiên nhiên với tâm hồn thanh thản của nhà thơ khi sống ẩn dật
nơi quê nhà: “Thu ăn măng trúc, đông ăn giá/ Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao” (Nhàn Nguyễn Bỉnh Khiêm).
Việt Nam là một nước trong suốt chiều dài lịch sử có nhiều thế lực xâm lược.
Trong thời chiến do sự hủy hoại của chiến tranh nên nguồn tài nguyên thiên nhiên bị


tàn phá khiến cho môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng. Các nhà thơ, nhà văn đã có
cái nhìn về vấn đề này. Trong Bình Ngô đại cáo nhà văn Nguyễn Trãi đau xót vô
cùng khi chứng kiến cảnh: “Lạng Giang, Lạng Sơn thây chất đầy đường/ Xương
Giang, Bình Than, máu trôi đỏ nước” (Bình Ngô đại cáo - Nguyễn Trãi)
Đầu thế kỉ XX, cùng với cảm quan sầu đô thị, sự tàn phá thiên nhiên chính là từ
các công cuộc đô thị hóa, công nghiệp hóa - hiện đại hóa, điện khí hóa... của con
người. Nhà thơ Tú Xương đã có dự cảm “Phố phường chật hẹp người đông đúc/
Bồng bế nhau lên nó ở non” (Năm mới chúc nhau - Trần Tế Xương). Trong văn học
hiện đại các nhà văn đã có sự quan tâm hơn đến mối quan hệ giữa môi trường tự
nhiên và con người. Thời kì văn học lãng mạn 1930 - 1945 gắn liền với quá trình đô
thị hóa, nhiều nhà văn, nhà thơ đã quay lưng lại thực tế, tìm về thiên nhiên. Có khi là
thiên nhiên tươi đẹp thơ mộng, như thực như hư dưới con mắt của thi sĩ Hàn Mặc
Tử, nơi có những khu vườn nhỏ nhắn, xinh xinh, những ngôi nhà lấp ló sau những
vườn cây xanh mướt như ngọc của xứ Huế: “Sao anh không về chơi thôn Vĩ?/ Nhìn
nắng hàng cau nắng mới lên/ Vườn ai mướt quá xanh như ngọc/ Lá trúc che ngang
mặt chữ điền” (Đây thôn Vĩ Dạ - Hàn Mặc Tử). Dưới con mắt của thi sĩ đa tình, nhà
thơ Xuân Diệu biểu lộ một tình thơ thật đắm say, ngất ngây về sự giao hòa giữa thiên
nhiên và con người rất gần gũi, thân thiết: “Chiều mộng hòa thơ trên nhánh duyên/
Cây me ríu rít cặp chim chuyền/ Đổ trời xanh ngọc qua muôn lá/ Thu đến nơi nơi
động tiếng huyền” (Thơ duyên - Xuân Diệu).
Văn học giai đoạn từ năm 1945 - 1975, thời kì diễn ra cuộc chiến tranh xâm lược
của đế quốc Mĩ và thực dân Pháp, này cũng có thể được xem xét dưới cái nhìn sinh thái,
đó là sự hủy hoại của môi trường trong chiến tranh, mỗi ngày có hàng nghìn, hàng vạn

trở về từ chiến trường (Người sót lại của rừng cười - Võ Thị Hảo, Mười ba bến nước Sương Nguyệt Minh...). Khi chiến tranh đã lùi xa, người ta mới nhận ra rằng nó không
chỉ tổn thất về vật chất, mà còn tổn thất về tinh thần, về môi trường chưa thể khắc phục
ngay được, những hậu quả của nó vẫn còn để lại âm ỉ sau bao thế hệ.
Văn học sinh thái truy tìm nguồn gốc của nguy cơ sinh thái. Có lẽ thế, mà nhiều
tác phẩm trong thời gian này đã phê phán mặt trái của văn minh như tác phẩm của


Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Ngọc Tư, Sương Nguyệt Minh... Bên
cạnh đó, văn học sinh thái còn chú trọng đến trách nhiệm của con người đối với tự
nhiên, khẩn thiết lên tiếng kêu gọi con người hãy bảo vệ vạn vật trong tự nhiên để duy
trì cân bằng sinh thái: (Thung mơ của Hà Nguyên Huyến, Sống mãi với cây xanh, Khách
ở quê ra - Nguyễn Minh Châu, Giải vía - Hà Thị Cẩm Anh...). Văn học sinh thái còn đặt
ra trách nhiệm của con người đối với tự nhiên. Con người cần trân trọng, yêu thương,
che chở tự nhiên, nhìn vào tự nhiên mà điều chỉnh hành vi của mình. Trong các tác
phẩm văn học, các nhà văn đã có sự quan tâm đến các vấn đề xã hội, dân sinh, hướng
về đô thị, những vấn đề nảy sinh trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, những
mâu thuẫn nảy sinh trong mối quan hệ giữa con người với tự nhiên.
Sau năm 1975, các tác phẩm văn học đã chú ý nhiều hơn về mối quan hệ giữa môi
trường tự nhiên và con người sinh tồn trong môi trường ấy. Nhà văn Nguyễn Minh
Châu được coi là “người mở đường tinh anh” (Nguyên Ngọc) cũng đã có ý thức rất sớm
về vấn đề sinh thái. Tác giả để cho nhân vật của mình có những xử sự rất đỗi nhân
văn. Các tác phẩm cũng đề cập đến vấn đề lo âu về tương lai đô thị như Cỏ lau, Miền
cháy, Phiên chợ Giát, Sống mãi với cây xanh... Nguyễn Huy Thiệp, người đã tạo nên
“khúc ngoặt” (Lã Nguyên) cho văn xuôi Việt Nam sau 1975 cũng là người đưa ra được
những triết lí sinh thái thực sự có chiều sâu. Thời kì đầu, ông chưa khai thác sâu về
mối quan hệ giữa tự nhiên và con người nhưng cùng với quá trình phát triển đô thị, tác
phẩm của Nguyễn Huy Thiệp xuất hiện kiểu nhân vật phản ứng với văn minh đô thị.
Trong truyện ngắn Chuyện tình kể trong đêm mưa nhân vật Bạc Kì Sinh không thích
người Kinh lên Tây Bắc khai hóa văn minh, nhân vật Doanh trong Những người muôn
năm cũ phỉ báng kết quả của việc tiếp thu văn minh đô thị. Từ đó, Nguyễn Huy Thiệp

sự cân bằng sinh thái tự nhiên. Con người không thể sống thiếu nước, đặc biệt là nước
ngọt, nước sạch. Trong Cánh đồng bất tận hình ảnh người dân xếp hàng dài đi mua
nước ngọt, họ phải nín thở để nước khỏi sánh ra ngoài thùng đựng nước, họ phải tụt
xuống ao tắm rồi lên rửa lại bằng nước ngọt nhưng chỉ đúng hai gàu, nước vo gạo dùng
để rửa rau, rửa rau xong thì dùng để rửa cá, họ phải tiết kiệm từng gáo nước. Họ chỉ ao
ước rất đơn giản là bao giờ được tắm một bữa nước ngọt cho đã đời. Ở tiểu


thuyết Sông, một lần nữa nhà văn nhắc lại tình cảnh thiếu nước ngọt đến trầm trọng
của người dân vùng sông nước... Trong tác phẩm của mình, Nguyễn Ngọc Tư đã đặt
ra nhiều vấn đề về môi trường và số phận cá nhân trong chỉnh thể sinh thái, cảnh báo
về tình trạng biến đổi khí hậu trên từng dòng sông, mỗi ngôi nhà và từng số phận
nhân vật. Ngoài ra còn rất nhiều tác phẩm của các tác giả như: Con gái thủy thần,
Chăn trâu cắt cỏ, Những bài học ở nông thôn.... của Nguyễn Huy Thiệp, Kẻ ám sát
cánh đồng của Nguyễn Quang Thiều, Biển và chim bói cá của Bùi Ngọc Tấn, Chốn
sơn khê, Giường đôi xóm Chùa của Đoàn Lê và các truyện ngắn Khói trời lộng lẫy,
Gió lẻ, Ngọn đèn không tắt, Giao thừa, Sông... của Nguyễn Ngọc Tư.
Quá trình đô thị hóa đang phát triển hết sức nhanh chóng, nhất là những thành phố
đang trong quá trình phát triển theo hướng hiện đại văn minh không chỉ là trung tâm văn
hóa, chính trị, nhiều thành phố còn là nơi khủng hoảng về môi trường sinh thái. Với một
cái nhìn thấu suốt, nhiều tác phẩm viết về sinh thái đô thị thể hiện nỗi bất an, lo âu của
con người sống trong môi trường ấy. Có thể thấy, nhà văn Đỗ Phấn không phải là
người duy nhất viết về môi trường sinh thái đô thị mà đã có rất nhiều nhà văn khác đã
và đang viết về vấn đề này. Khi viết về vấn đề sinh thái đô thị, Đỗ Phấn có cái nhìn và
cảm quan đặc biệt, cái nhìn mẫn cảm của một nhà văn nhận thấy sự thay đổi của thủ đô
trước sự xâm lấn của văn minh đô thị.
1.2. Đỗ Phấn trong đời sống văn học Việt Nam đương đại và cảm quan sinh thái
trong tiểu thuyết Đỗ Phấn
1.2.1. Cuộc đời và sự nghiệp văn học của nhà văn Đỗ Phấn
Đỗ Phấn sinh năm 1956 trong một gia đình công chức tại Hà Nội. Năm 1980, ông

sáng tạo đáng kinh ngạc. Ông đã cho ra đời các tác phẩm với nhiều thể loại khác nhau, từ
tiểu thuyết đến truyện dài, truyện ngắn, tản văn. Năm 2010, tiểu thuyết Vắng mặt được lọt
vào chung khảo giải văn Bách Việt. Năm 2014, truyện dài Dằng dặc triền sông mưa của
Đỗ Phấn đã dành giải thưởng ở hạng mục Văn xuôi của Hội nhà văn Hà Nội.
Ở lĩnh vực tiểu thuyết là các sáng tác: Vắng mặt (Nxb Trẻ - 2010); Rừng người
(Nxb Phụ nữ - 2011); Chảy qua bóng tối (Nxb Trẻ - 2011); Gần như là sống (Nxb
Trẻ - 2013);


Con mắt rỗng (Nxb Văn học - 2013); Ruồi là ruồi (Nxb Trẻ - 2014); Rụng xuống ngày
hư ảo (Nxb Trẻ - 2015); Vết gió (Nxb Trẻ - 2016); Rong chơi miền kí ức (Nxb Trẻ 2016).
Ngoài ra, ông còn cho ra mắt bạn đọc các tập truyện ngắn và truyện dài: Đêm
tiền sử (Nxb Hội nhà văn - 2009); Thác hoa (Nxb Trẻ - 2010); Kiến đi đằng kiến (Nxb
Phụ nữ - 2009); Dằng dặc triền sông mưa (Nxb Trẻ - 2013).
Ông cũng là người viết nhiều ở thể loại tản văn và đa phần là viết về thủ đô Hà
Nội với các tác phẩm: Chuyện vãn trước gương (Nxb Hội nhà văn - 2005); Ông ngoại
hay cười (Nxb Lao động - 2011); Phượng ơi (Nxb Dân Trí - 2012); Hà Nội thì không
có tuyết (Nxb Trẻ - 2013); Ngồi lê đôi mách với Hà Nội (Nxb Trẻ - 2015); Ngẫm ngợi
phố phường (Nxb Trẻ - 2015); Đi chơi bờ hồ (Nxb Trẻ - 2018); Bâng quơ một thời Hà
Nội (Nxb Trẻ - 2018).
1.2.2. Cảm quan sinh thái của nhà văn Đỗ Phấn.
Nghiên cứu về vấn đề sinh thái là một chủ đề mang tính thời sự từng được đặt ra
trong bối cảnh của đời sống xã hội và đời sống văn học hơn một thập niên gần đây.
Thời kì văn học đương đại, vấn đề sinh thái mới được thể hiện một cách đa dạng trong
nhiều tác phẩm. Trong các sáng tác của mình, các nhà văn đã lên án sự hủy hoại môi
trường của con người, nhất là môi trường sinh thái đô thị. Giống như các nhà văn đương
thời, Đỗ Phấn cũng quan tâm đến vấn đề sinh thái. Ông sinh ra và lớn lên trên mảnh đất
Thăng Long văn hiến lâu đời, ông hiểu rất rõ từng sự thay đổi, sự chuyển mình của đô thị
nhất là những năm gần đây khi quá trình đô thị diễn ra nhanh chóng, con người được tiếp
cận với nền văn minh tiến bộ nhưng cũng để lại nhiều hệ lụy khi tự nhiên bị phương

cơm anh em, bạn bè quây quần trong những ngày Tết. Những ngày Tết họ rất ngại đến
nhà nhau, họ đi du lịch khắp nơi để thưởng thức không khí trong lành khác hẳn không
khí ngột ngạt trong thành phố.
Có lẽ, sự can thiệp của quá trình đô thị hóa, nông thôn dần mất đi những ruộng lúa,
bờ tre, những cánh đồng quê trong trẻo, thanh bình, những hồn người mộc mạc. Thay
vào đó là những ngôi nhà san sát, những lớp thị dân lạc lõng, bơ vơ. Nhiều nhân vật
trong tiểu thuyết của Đỗ Phấn không dễ giữ mình để khỏi bị tha hóa theo lối sống thành
thị. Đọc tiểu thuyết của Đỗ Phấn, có thể thấy rất nhiều nhân vật đã trốn chạy khỏi thành
phố đô hội. Họ lên rừng, xuống biển, đi đến một nơi nào đó thật xa, nơi đó họ có thể
được hưởng thụ những gì mà thiên nhiên ban tặng mà thành phố không có. Một niềm ao
ước giản đơn đối với cư dân thành phố: một chuyến đi xa để họ được sống là chính mình,
được hòa với


thiên nhiên, được sống trong sự ưu ái của thiên nhiên, đồng thời cũng để cho họ thanh
lọc tâm hồn, tránh xa phố phường hỗn tạp, bất an.
Với cảm quan tinh tế, Đỗ Phấn có một cách nhìn mới mẻ về mối quan hệ giữa tự
nhiên và con người. Hà Nội trong tình cảm trân quý của nhà văn được hiện lên một cách
chân thực với vẻ đẹp xưa cũ, một vẻ đẹp hiện đại của những ngôi cao tầng kết hợp với
nét cổ kính của những ngôi nhà rêu phong nơi phố cổ vẻ đẹp yên bình, sâu lắng của một
kinh thành sầm uất xưa kia. Với nhịp sống hối hả, tấp nập ngày nay, người ta vẫn không
quên tìm về Hà Nội với nét đẹp xưa cũ, một vẻ đẹp thanh bình, tĩnh lặng. Tất cả những vẻ
đẹp đó được thể hiện một cách khéo léo và sâu sắc trong các tiểu thuyết của nhà văn Đỗ
Phấn.
Tiểu kết chương
Cùng với dòng chảy viết về sinh thái trong văn học như các nhà văn đương thời,
Đỗ Phấn đã thể hiện một cảm quan nghệ thuật riêng, đó là cảm quan sinh thái đô thị.
Gần như ở tác phẩm nào Đỗ Phấn cũng đề cập đến cảnh quan thiên nhiên, cuộc sống và
con người thủ đô. Trong tâm trí của nhà văn, thủ đô Hà Nội ngày xưa đã để lại cho ông
nhiều kỉ niệm tuổi thơ, nhiều hình ảnh thiên nhiên tươi đẹp, nhiều ấn tượng sâu sắc, còn

văn Thạch Lam; Món ngon Hà Nội của nhà văn Vũ Bằng... Văn học đương đại
các tác giả viết nhiều về vẻ đẹp của Hà Nội hiện tại như: Đỗ Phấn với tác phẩm
Dằng dặc triền sông mưa, Hà Nội thì không có tuyết, Vết gió, Rụng xuống ngày
hư ảo;... Nguyễn Trương Quý với tác phẩm Hà Nội là Hà Nội, Tự nhiên như
người Hà Nội, Mỗi góc phố một người đang sống;... Nguyễn Việt Hà với tác
phẩm Con giai phố cổ, Cơ hội của Chúa... Nguyễn Ngọc Tiến với Đi dọc Hà Nội,
Đi ngang Hà Nội, 5678 bước chân quanh Hồ Gươm... Ở mỗi tác phẩm, các
nhà


văn, nhà thơ đã dành nhiều tình cảm trân quý của mình để tái hiện vẻ đẹp của Hà
Nội xưa và nay.
Đỗ Phấn là một trong những nhà văn đương đại viết nhiều về Hà Nội, bởi Hà
Nội luôn in dấu trong kí ức của nhà văn. Vẻ đẹp tự nhiên của Hà Nội được nhà văn
thể hiện ở nhiều góc nhìn về văn hóa, con người, xã hội cũ được bảo tồn và lưu giữ
qua thời gian và không gian trải dài trong suốt quá trình phát triển của thành phố.
Chúng tôi nhận thấy, trong sáng tác của Đỗ Phấn vẻ đẹp tự nhiên (nguyên sơ) của Hà
Nội được tái hiện qua sự thứ nhận của chính tác giả về cảnh quan thủ đô (làng hoa,
loài hoa), từ những con phố, khúc giao mùa đến các loài động vật, cũng như âm
thanh đặc trưng của Hà Nội, không gian của thủ đô “ngàn năm văn hiến”.
Nhớ lại kí ức về vẻ đẹp của Hà Nội xưa, nhà văn Đỗ Phấn tái hiện lại hình ảnh
các làng hoa ở Hà Nội như làng hoa Nhật Tân, Ngọc Hà, Hữu Tiệp. Ngày xưa, đây
là những làng hoa nổi tiếng bậc nhất của Việt Nam, ngày nay các làng hoa này tuy
không còn nữa hoặc đã bị thu hẹp bởi các làng hoa đã dần trở thành các khu phố
nhưng vẫn gợi nhớ về giấc mơ hoa của người Hà Nội. Đỗ Phấn đã tưởng tượng đến
bầu không khí trong lành xưa kia của các làng hoa, nơi vốn đã làm đẹp cho phố
phường Hà Nội một thuở. Trong tiểu thuyết của Đỗ Phấn có hình ảnh những mảnh
vườn đầy đủ các loài hoa xanh đỏ tím vàng đua nhau khoe sắc rực rỡ dưới ánh nắng
lung linh. Bước vào làng hoa người đọc thấy mình như đang ở trong rừng hoa: hoa
cẩm chướng, hoa bướm, hoa sushi, hoa hồng, hoa dã quỳ... tạo nên một sắc màu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status