Thơ ma Trường Nguyên, Võ Sa Hà, Nguyễn Thúy Quỳnh từ góc nhìn văn hóa (LV thạc sĩ) - Pdf 41

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

LÊ THỊ HẢI YẾN

THƠ MA TRƯỜNG NGUYÊN, VÕ SA HÀ,
NGUYỄN THÚY QUỲNH TỪ GÓC NHÌN VĂN HÓA

LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

THÁI NGUYÊN - 2016
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

http://www.lrc.tnu.edu.vn


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

LÊ THỊ HẢI YẾN

THƠ MA TRƯỜNG NGUYÊN, VÕ SA HÀ,
NGUYỄN THÚY QUỲNH TỪ GÓC NHÌN VĂN HÓA

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60 22 01 21

LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM


Khoa sau đại học, Khoa ngữ văn trường Đại học sư phạm Thái Nguyên cùng
các thầy cô đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thực
hiện luận văn tốt nghiệp.
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới gia đình, bạn bè, đồng
nghiệp, các bạn lớp văn học việt nam CH K22B đã động viên, khích lệ, giúp đỡ
tôi trong suốt thời gian qua.
Xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày

thánh năm 2016

Học viên

LÊ THỊ HẢI YẾN

ii


MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN .................................................................................................................. i
LỜI CẢM ƠN ....................................................................................................................... ii
MỤC LỤC ............................................................................................................................ iii
MỞ ĐẦU ............................................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ............................................................................................................... 1
2. Lịch sử vấn đề .................................................................................................................... 2
3. Mục đích nghiên cứu......................................................................................................... 7
4. Nhiệm vụ nghiên cứu........................................................................................................ 7
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ................................................................................... 8
6. Phương pháp nghiên cứu .................................................................................................. 8
7. Đóng góp của luận văn ..................................................................................................... 8

2.3. Cảm thức văn hóa đô thị trong thơ Nguyễn Thúy Quỳnh .......................... 57
2.3.1. Những biến đổi trong xã hội đô thị trước sự ảnh hưởng của cơ
chế thị trường ................................................................................................. 58
2.3.2. Nỗi cô đơn, nhỏ bé của con người trong một xã hội xô bồ, náo nhiệt ...... 64
2.3.3. Những số phận bất hạnh, đau khổ, vất vả xuất hiện nhiều trong
đời sống xã hội............................................................................................... 68
Tiểu kết chương 2 .............................................................................................. 71
Chương 3. TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT TRONG BIỂU HIỆN
CẢM THỨC VĂN HÓA QUA THƠ MA TRƯỜNG NGUYÊN, VÕ
SA HÀ, NGUYỄN THÚY QUỲNH ............................................................... 72
3.1. Không gian văn hóa trong thơ Ma Trường Nguyên, Võ Sa Hà,
Nguyễn Thúy Quỳnh ......................................................................................... 72
3.1.1. Những điểm tương đồng về một không gian văn hóa Thái Nguyên ........ 72
3.1.2. Những mảng màu khác nhau trong không gian văn hóa qua thơ
Ma Trường Nguyên, Võ Sa Hà, Nguyễn Thúy Quỳnh ................................. 73

iv


3.2. Thời gian nghệ thuật ................................................................................... 79
3.2.1. Những điểm tương đồng ...................................................................... 79
3.2.2. Những bước đi của thời gian qua cảm nhận chủ quan của các
nhà thơ ........................................................................................................... 81
3.3. Ngôn ngữ nghệ thuật .................................................................................. 90
3.3.1. Điểm giống nhau ................................................................................. 90
3.3.2. Điểm khác nhau ................................................................................... 91
Tiểu kết chương 3 .............................................................................................. 97
KẾT LUẬN....................................................................................................... 98
TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................................. 101


thơ trên nói riêng. Đó sẽ là nguồn tư liệu tham khảo cho rất nhiều người nghiên
cứu, giảng dạy, học tập về văn học Thái Nguyên.
1


- Là một người con sinh ra và lớn lên trên mảnh đất Thái Nguyên, chịu
sự tác động sâu sắc từ yếu tố địa lý, văn hóa đã làm nên bản sắc của đất và
người Thái Nguyên. Chúng tôi muốn dành công trình nghiên cứu đầu tiên của
mình để nghiên cứu về các tác giả thơ Thái Nguyên mà bản thân đã từng gặp
gỡ, quen biết và kính trọng.
Xuất phát từ những lí do nói trên, chúng tôi quyết định lựa chọn đề tài:
“Thơ Ma Trường Nguyên, Võ Sa Hà, Nguyễn Thúy Quỳnh từ góc nhìn văn hóa”
làm vấn đề nghiên cứu cho luận văn của mình.
2. Lịch sử vấn đề
Văn hóa là một trong những lĩnh vực rất được quan tâm, vì vậy có rất
nhiều công trình nghiên cứu được đặt ra. Về văn hóa không thể không nhắc tới
cuốn “Việt Nam văn hóa sử cương” của Đào Duy Anh in lần đầu tiên năm 1938
được ấn hành bởi Quan Hải Tùng Thư. Ngoài ra, còn rất nhiều công trình
nghiên cứu khác như: “Cơ sở văn hóa Việt Nam” của Trần Ngọc Thêm, “Bản
sắc văn hóa Việt Nam” của Phan Ngọc, “Văn hóa dân gian Việt Nam trong bối
cảnh văn hóa Đông Nam Á” của Đinh Gia Khánh, “Văn hóa Việt Nam đỉnh cao
Đại Việt” của Nguyễn Đăng Duy, “Văn hóa gia đình Việt Nam” của Vũ Gia
Khánh… Nhiều tác phẩm của các tác giả thơ văn nổi tiếng cũng đã được nhiều
người nghiên cứu, tiếp cận, tìm hiểu theo hướng từ góc nhìn văn hóa.
Bản thân Ma Trường Nguyên, Võ Sa Hà, Nguyễn Thúy Quỳnh là ba nhà
thơ tiêu biểu của nền thơ Thái Nguyên nói riêng, nền thơ Việt Nam hiện đại nói
chung cho nên cũng có nhiều nhà nghiên cứu đi sâu, tìm hiểu thơ họ từ nhiều
hướng, nhiều góc độ khác nhau. Dưới đây, chúng tôi xin tổng hợp một số công
trình nghiên cứu, một số bài viết, luận văn nghiên cứu về ba nhà thơ này.
2.1. Những công trình nghiên cứu về thơ Ma Trường Nguyên

bài thơ "Thái Nguyên của tôi": "Thơ trẻ mãi, như sự sống miên viễn, lúc sôi sục,
lúc trầm lắng. Như sự cuốn hút mê đắm, mãi mãi tươi ròng căng nức sức thanh
xuân, sóng sánh và hương và sắc. Vậy nên kể chi từ ấy bài thơ "Thái Nguyên
của tôi" chịu trận ngót chục năm rồi, cứ cho mai đây ngót cả trăm năm nữa,
dưới cỏ xanh, Võ Sa Hà còn rung theo tiếng gió lời thầm thì câu Thái Nguyên
của tôi. Chất Thơ bao giờ chẳng là loài men quý. Càng ủ lâu, càng hạ thổ cố
quên đi lưu cữu lưu niên, chất men vàng càng ngấm, càng đượm, càng lóng
lánh say lịm lòng người nưng nức" [97].
5


Mới đây nhất là hai bài viết "Thái Nguyên thương nhớ" của Vi Thùy
Linh đăng trên báo online An ninh thế giới ra ngày 06/4/2016 và "Ghé thăm
cuộc rượu của Võ Sa Hà với Núi" của Cao Xuân Thử đăng trên trang Văn nghệ
Thái Nguyên của Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Thái Nguyên cũng đã đề cập
đến vai trò, vị trí cũng như tầm quan trọng của quê núi đối với mạch nguồn
cảm xúc trong thơ Võ Sa Hà.
2.3. Những công trình nghiên cứu về thơ Nguyễn Thúy Quỳnh
Một vài năm trở về đấy, Nguyễn Thúy Quỳnh đã và đang nhận được sự quan
tâm của nhiều nhà nghiên cứu, phê bình văn học và nhiều độc giả trên khắp cả nước.
Có nhiều bài nghiên cứu, bài báo, luận văn về nhiều khía cạnh thơ của chị:
- Phạm Văn Vũ - nhà phê bình trẻ có bài "Ngẫu luận - Nguyễn Thúy
Quỳnh", "Sự nghiệp làm người tốt còn quan trọng hơn sự nghiệp văn chương".
- Nhà phê bình Vũ Nho có bài: "33 gương mặt thơ nữ tiêu biểu Việt
Nam" trong đó có nhà thơ Nguyễn Thúy Quỳnh.
- Hồ Thủy Giang với "Thái Nguyên một dòng chảy văn chương"
- Sở GD & ĐT Thái Nguyên tổ chức và biên soạn cuốn "Văn học Thái
Nguyên" - tài liệu giảng dạy văn học địa phương cấp Trung học cơ sở. Cuốn sách
đã giới thiệu khái quát tiến trình văn học Thái Nguyên bao gồm văn học dân gian
và văn học Thái Nguyên từ sau Cách mạng tháng Tám tới nay trên nhiều phương

- Đề tài cũng giúp người viết hiểu thêm về con người và phong cách sáng
tác của các nhà thơ.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu như đã nêu ở trên,chúng tôi thực hiện
các nhiệm vụ sau:
- Vận dụng lí thuyết về văn hóa để đi sâu tìm hiểu.
- Tìm hiểu khái quát về ba nhà thơ và đi sâu vào các tập thơ có giá trị của
các nhà thơ.
- Tìm hiểu về văn hóa và con người Thái Nguyên đã tạo nên những nét
đặc sắc cho ba nhà thơ.
- Tìm hiểu đặc điểm thơ của ba nhà thơ trên một số phương diện nội
dung và nghệ thuật thơ.
- Xác định những đóng góp của ba nhà thơ cho thơ Thái Nguyên.
7


5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng: Nghiên cứu thơ Ma Trường Nguyên, Võ Sa Hà, Nguyễn
Thúy Quỳnh từ góc nhìn văn hóa.
- Phạm vi nghiên cứu: Đi sâu vào nghiên cứu các tập thơ của các nhà
thơ và chỉ ra được sự khác biệt của ba thế hệ nhà thơ.
Ma Trường Nguyên thể hiện qua bốn tập thơ: “Cây nêu”, “Trái tim
không ngủ”, “Câu hát vắt qua vai”, "Mở núi".
Võ Sa Hà thể hiện qua bốn tập thơ: “Sóng nhạc hồn tôi”, “Ngựa đá”,
“Cánh chim về núi”, “Lửa trắng”.
Nguyễn Thúy Quỳnh thể hiện qua ba tập thơ: “Giá mà em từ chối”,
“Mưa mùa đông”, “Những tích tắc quanh tôi”.
6. Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài, chúng tôi sử dụng những
phương pháp nghiên cứu cơ bản sau:

Nguyên… Từ đó đi sâu vào tìm hiểu ba nhà thơ Thái Nguyên và quá trình sáng
tác thơ của họ.
1.1. Khái niệm văn hóa, văn học
1.1.1. Khái niệm văn hóa
Văn hóa là sản phẩm do con người sáng tạo ra và chi phối toàn bộ hoạt
động của con người. Với vai trò quan trọng của mình, văn hóa đã trở thành một
trong những đối tượng được nghiên cứu nhiều nhất của khoa học nhân văn.
Thêm vào đó, văn hóa là một khái niệm rất phức tạp cho nên luôn tạo ra những
cuộc tranh luận hết sức phong phú. Trên thế giới có rất nhiều định nghĩa khác
nhau về văn hóa, sự khác nhau này tùy thuộc vào góc độ, phương diện mà người
nghiên cứu muốn nhấn mạnh. Theo thống kê, hiện nay có gần 500 định nghĩa
khác nhau về văn hóa. Tuy nhiên, ở đề tài này của mình, chúng tôi lựa chọn sử
dụng khái niệm văn hóa của một số nhà nghiên cứu tiêu biểu là Trần Ngọc Thêm,
Đào Duy Anh, Hồ Chí Minh và của UNESSCO làm nền tảng cơ sở.
Trần Ngọc Thiêm trong cuốn Cơ sở văn hóa Việt Nam đã đưa ra định
nghĩa: "Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con
người sáng tạo ra và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương
tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội" [80;10]. Đây là định
nghĩa được nhiều nhà nghiên cứu nhắc đến và lựa chọn làm công cụ đắc lực
trong việc tìm hiểu văn hóa. Cũng từ khái niệm đó mà Vũ Ngọc Thêm đã đưa
ra hệ thống cấu trúc văn hóa bao gồm bốn tiểu hệ cơ bản là: văn hóa nhận thức,
văn hóa tổ chức cộng đồng, văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên và văn hóa
ứng xử với môi trường xã hội.
9


Đào Duy Anh trong cuốn Văn hóa là gì? (1945) đã nhắc đến mối quan hệ
giữa văn hóa với sinh hoạt đồng thời phân tích sâu sắc mối quan hệ này để từ đó đi
đến quan niệm "Văn hóa là phương thức sinh hoạt". Với cách tiếp cận này, ông đã
đề cập đến phạm vi rất rộng của văn hóa, bao hàm tất cả các phương diện sinh

các trang thơ của mỗi người, ta đều thấy thấp thoáng bóng dáng của văn hóa
qua từng câu văn, hình ảnh. Chính không gian văn hóa này chi phối cách xử lí
đề tài, thể hiện chủ đề, nội dung, cách xây dựng nhân vật, sử dụng thủ pháp
nghệ thuật… trong quá trình sáng tác để làm nổi bật thông điệp, tư tưởng của
tác giả cùng như phản ánh một phần tính chất của xã hội. Đồng thời, văn hóa
cũng chi phối đến hoạt động nhận thức, cảm thụ và đánh giá trong quá trình
tiếp nhận tác phẩm văn học của độc giả.
12


Như vậy, các tác phẩm văn học được coi là những cơ sở, những dữ liệu
đáng tin cậy để nghiên cứu về các đặc trưng văn hóa của một dân tộc trong một
thời đại nào đó. Chẳng hạn, nghiên cứu về các tiểu thuyết của nhóm Tự lực văn
đoàn hay các bài thơ của các nhà thơ trong phong trào Thơ Mới chúng ta biết
được có sự xâm nhập của văn hóa phương Tây vào Việt Nam đầu thế kỉ XX.
Tuy nhiên, chúng ta sẽ thật sai lầm nếu như chỉ cho rằng mối quan hệ giữa văn
hóa và văn học là mối quan hệ một chiều: văn học chỉ là tấm gương phản chiếu
những biểu hiện của văn hóa. Bởi nếu coi như vậy thì sẽ vô hình chung làm cho
văn hóa xóa mờ, nuốt chửng những giá trị riêng của văn học.
Mối quan hệ giữa văn hóa và văn học không phải là mối quan hệ một
chiều, đơn nhất mà nó là mối quan hệ hai chiều, song song. Tức là nếu như văn
hóa chi phối đến quá trình sáng tác, tiếp nhận và sự phát triển của văn học thì
ngược lại, văn học cũng tác động trở lại đến văn hóa. Bằng nghệ thuật ngôn từ,
các nhà văn, nhà thơ trong các tác phẩm văn học của mình đã lên án, đấu tranh
quyết liệt đối với những biểu hiện lỗi thời, cổ hủ không còn phù hợp với thời
đại hay vi phạm nghiêm trọng đến nhân quyền của con người. Đồng thời khẳng
định, cổ vũ, động viên, kêu gọi duy trì những giá trị văn hóa tiến bộ, nhân bản.
Bao giờ cũng vậy, từ xưa đến nay, dù phản ứng trước những biểu hiện văn hóa
tiêu cực hay cổ vũ cho sự tiếp biến của những yếu tố văn hóa tích cực thì những
nhà văn, nhà thơ cũng là những người đi tiên phong đầu tiên.

người đọc tự rút ra cho mình những bài học kinh nghiệm về cách ứng xử đạo đức,
biết được nên làm như thế nào thì đúng... Mặc dù, Văn học có tính giáo dục cao
nhưng sự giáo dục của văn học không hề cứng nhắc, rập khuôn, gượng ép mà
ngược lại rất tự nhiên, dễ đi vào lòng người. Bởi văn học không đưa ra những
triết lý khô khan, cứng nhắc, khó hiểu mà giáo dục thông qua những hình tượng,
những nhân vật sinh động, chân thực. Nhìn vào thực tiễn, chúng ta thấy ở tất cả
các quốc gia từ xưa đến nay không có một quốc gia nào trong hệ thống giáo dục
lại thiếu bộ môn văn học bởi văn học và giáo dục là hai lĩnh vực cùng đồng hành
với nhau trong việc xây dựng một nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc.
Cùng tồn tại trên thế giới nhưng mỗi dân tộc, mỗi quốc gia lại có một hệ
thống những phong tục, tập quán riêng, mang tính đặc trưng riêng. Tôn trọng
bản sắc văn hóa cũng chính là tôn trọng những phong tục, tập quán đó; và vì
phong tục, tập quán có tính đặc trưng cho từng dân tộc cho nên chúng ta không
được lấy chuẩn mực trong phong tục, tập quán của dân tộc này để so sánh với
phong tục, tập quán của dân tộc khác. Trong quá trình vận động của văn học
Việt Nam qua các thời kì lịch sử, chúng tôi thấy có sự xuất hiện của một dòng
14


văn viết về phong tục, đặc biệt là các phong tục, tập quán, lễ nghi ở chốn thôn
quê: Chân quê (Nguyễn Bính), Việc làng, Lều Chõng... (Ngô Tất Tố), Vợ
chồng A Phủ (Tô Hoài), Nằm vạ (Bùi Hiển)...
Tóm lại, văn học và văn hóa luôn luôn có mối tác động qua lại với nhau.
Một nhà văn đích thực cũng chính là một nhà hoạt động văn hóa chân chính,
tác phẩm văn học mà họ sáng tạo ra cũng chính là một tác phẩm văn hóa của
một dân tộc nào đó và khi đến với độc giả, được độc giả tiếp nhận thì quá trình
tiếp nhận tác phẩm văn học đó cũng chính là quá trình thưởng thức, tiếp nhận
văn hóa. Thời đại ngày nay, với sự giao lưu văn hóa mạnh mẽ giữa các quốc
gia cũng làm cho nền văn hóa của các quốc gia, dân tộc ngày càng đa dạng hơn,
kéo theo đó văn học cũng ngày càng đa dạng, phong phú hơn.

tự sự. Loại hình trữ tình có tính bao trùm trong văn học dân gian Thái Nguyên
là ca dao. Nếu hiểu theo nghĩa rộng thì ca dao bao gồm tất cả các thể loại hát
dân ca trong đời sống sinh hoạt dân gian các dân tộc Thái Nguyên, đặc biệt là
các bài hát Sli, Lượn. Những bài hát dân ca này đã phản ánh rõ nét sự giao lưu
văn hóa giữa người Kinh và người Tày.
Loại hình trung gian trong văn học dân gian Thái Nguyên bao gồm tục
ngữ, các bài hát mo, hát pụt, loàn, mại xòe, phuối rọi... Thể loại này cho đến
ngày nay vẫn ít được nghiên cứu đến.
Văn học dân gian Thái Nguyên nói chung và loại hình trữ tình dân gian
nói riêng chính là một kho báu về trí tuệ, tâm hồn, tình cảm, thẩm mĩ của nhân
dân các dân tộc anh em ở Thái Nguyên. Nó chính là cội nguồn, là nền tảng cho
sự phát triển của văn học nói chung, thơ ca nói riêng giai đoạn sau này.
Sau Cách mạng tháng Tám thành công, cùng với các nhà thơ đàn anh ở
mọi miền đất nước, các tác giả là người dân tộc ít người có quê gốc ở Việt Bắc
đã viết những tác phẩm bằng tiếng Tày, Dao, Nùng góp phần làm cho văn học
kháng chiến thêm đa dạng, nhiều màu sắc.
Năm 1957, hội Văn nghệ Việt Bắc được thành lập ở thị xã Thái Nguyên
đã tạo nên một cuộc hội tụ lớn của tất cả các nhà thơ ở sáu tỉnh miền núi phía
bắc là Thái Nguyên, Bắc Cạn, Tuyên Quang, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn.
Sang đến thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước bùng nổ đã đưa văn
học bước sang một giai đoạn mới - giai đoạn toàn Đảng, toàn dân tập trung,
dồn toàn bộ sức lực cho sự nghiệp đánh đuổi ngoại xâm, thống nhất đất nước.
Những tác phẩm sáng tác trong thời kì này đều mang hơi thở nóng hổi của thời
đại. Tuy nhiên, do yêu cầu của thời đại mà trong giai đoạn của hai cuộc kháng
chiến chống Pháp và chống mỹ cứu nước, văn xuôi là thể loại phát triển hơn
thơ ca trong văn học Thái Nguyên.
16


Năm 1987, Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Thái Nguyên ra đời đã tạo nên

đạo đức giả của người Pháp núp sau lá cờ Tự do - Bình đẳng - Bác ái, khai hóa
17


văn minh nhưng thực chất là vào biến nước ta thành nô lệ; tái hiện cuộc sống
đau khổ, bế tắc đến cùng đường, tha hóa của những người dân Việt Nam hay
nêu gương những anh hùng bất khuất nhằm cổ vũ, động viên, khơi dậy lòng
yêu nước, ý thức tự tôn dân tộc. Cũng xuất phát từ mục đích, chức năng ấy của
văn chương mà đề tài, cảm hứng của các nhà thơ cũng bị giới hạn. Những đề
tài viết về cái chung được đẩy mạnh còn những đề tài mang tính chất riêng tư,
cá nhân chẳng hạn như tình yêu đôi lứa lại bị hạn chế.
Sang đến thế kỉ XXI, mọi đề tài, cảm hứng đều được tự do mở rộng.
Chức năng tuyên truyền, giáo dục không còn là chức năng chủ yếu, cơ bản nữa,
văn học cũng như thơ ca lúc này mang nhiều chức năng hơn, đặc biệt là chức
năng thẩm mĩ - chức năng cơ bản của văn chương đã được đề cao. Các nhà thơ
được thỏa hồn mình vào những cảm hứng mới. Các nhà thơ Thái Nguyên bắt
đầu tìm về với cội nguồn, với truyền thống giàu màu sắc của dân tộc mình hay
cảm hứng về chính quê hương Thái Nguyên với những đồi chè thơm ngát, với
dòng sông Cầu thơ mộng hay nàng Công, chàng Cốc đầy huyền thoại. Cảm
hứng về tình yêu, đôi lứa được các nhà thơ khai thác rất nhiều bởi đó là một thứ
tình cảm phức tạp, nhiều màu nhiều vẻ của đời sống tinh thần mỗi con người.
Cảm hứng về thế sự và cảm hứng về chính công việc sáng tạo nghệ thuật cũng
được các nhà thơ khai thác mạnh. Với sự phong phú trong cảm hứng đã làm
cho thơ ca Thái Nguyên trở lên phong phú, nhiều vẻ hơn, hấp dẫn hơn, bao
quát hơn đối với cuộc sống và con người.
1.2.2.2. Giá trị nghệ thuật của thơ Thái Nguyên
Thơ ca Thái Nguyên theo thời gian, trải qua nhiều giai đoạn lịch sử với
biết bao nhiêu thăng trầm đã có sự đổi mới về hình thức thơ trên cả ba phương
diện là thể thơ, hình ảnh thơ và ngôn ngữ thơ.
Về thể thơ, các nhà thơ đã ít vận dụng những thể thơ truyền thống với


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status