Luận văn tốt nghiệp
GVHD: Th.S Lê Thanh Hòa
Chương 1:
1.1
MỞ ĐẦU
Đặt vấn đề – lý do chọn đề tài:
Bãi biển Bình Thuận với những cồn cát mênh mông đang trở thành điểm du
lòch đắt khách với hàng loạt khu nhà nghỉ. Cùng với sự phát triển mạnh mẻ của
du lòch mà chủ yếu là du lòch ven biển là nguy cơ của sự ô nhiễm ngày càng
lớn. Các vấn đề liên quan đến tình hình vệ sinh, môi trường tại các đòa bàn du
lòch của tỉnh là khá bức xúc, thậm chí còn có thể tác động xấu đến phát triển du
lòch sau này của tỉnh. Nước thải và rác thải từ các hoạt động du lòch đang là
nguyên nhân chính gây ô nhiễm vùng ven biển tỉnh Bình Thuận. Vùng cồn cát
ven biển mới được đưa vào khai thác du lòch không lâu, song nếu không sớm có
các quy hoạch tổng thể để bảo vệ và khai thác một cách bền vững, vùng này sẽ
bò hủy hoại nhanh chóng và trở thành sa mạc, phá hủy môi trường và rút ngắn
tuổi thọ các công trình.
Trong bối cảnh Việt Nam gia nhập WTO hiện nay, việc từng bước ứng dụng
GIS vào hoạt động quy hoạch, quản lý và giám sát trong các lónh vực tài
nguyên, môi trường, giao thông, du lòch … là rất cần thiết. Nó giúp ta có được
cái nhìn tổng thể cũng như nhận biết rất nhanh, rõ ràng và chính xác những
thay đổi của đối tượng theo không gian và thời gian nhằm hổ trợ các nhà hoạch
đònh ra quyết đònh sau cùng. Nhận thấy được những lợi ích do các ứng dụng
GIS đem lại, nhiều đơn vò đã bắt đầu đưa GIS vào hoạt động của mình và xem
như đó là một phần quan trọng không thể thiếu. Trước thực trạng trên, em xin
Đặc điểm chung về các điều kiện tự nhiên tại các vùng ven biển tỉnh
Bình Thuận
Nghiên cứu về hiện trạng nước thải do hoạt dộng du lòch gây ra
Nghiên cứu về chất lượng không khí ven biển
1.4
Giới hạn của đề tài:
Do thời gian có hạn nên đề tài chỉ tập trung vào khảo sát và đánh giá
các huyện, thành phố mà không đi sâu từng chi tiết.
SVTH: Phan Lê Đinh Viêm
Trang 2
Luận văn tốt nghiệp
GVHD: Th.S Lê Thanh Hòa
Có thể nghiên cứu sâu hơn để mở rộng mô hình về các xã phường trong
huyện
1.5
Phương hướng phát triển của đề tài:
Hệ thống thông tin quản lý và Gis về môi trường ven biển sẽ trở thành
một trong những nguồn trao đổi thông tin quản lý đô thò của Tỉnh Bình
Thuận
Khai thác triệt để hệ thống thông tin quản lý môi trường ven biển để giải
quyết các vấn đề nan giải trong phát triển hoạt động du lòch sinh thái ở
Chỉ đến thế kỷ 18, nhu cầu về quản lý biên giới, lãnh thổ trở nên cấp
bách thì các quốc gia bắt đầu công việc vẽ bản đồ một cách có hệ thống. Vấn
đề dữ liệu bản đồ đã mang tính toàn cầu, vì vậy nó phải được xác đònh một
cách chính xác và khách quan.
Vào thế kỷ 20, nhu cầu về dữ liệu ảnh hàng không, ảnh vũ trụ đột ngột
tăng lên và dẫn đến sự ra đời các phương pháp chụp ảnh stereo. Phương pháp
phân loại ảnh không thể tránh được một khối lượng lớn các chỉ tiêu cho các dữ
liệu phức tạp. Đến năm 1930 xuất hiện lần đầu tiên phương pháp thống kê và
phân tích chuỗi. Đến những năm 1960 người ta mới có công cụ máy tính để
thực hiện các phương pháp trên.
Vào những năm 1960 – 1970, người ta sử dụng bản đồ ở hầu hết các lónh
vực dẫn đến xuất hiện nhu cầu tổng hợp các bản đồ. Một trong số hai cách để
thực hiện điều này: người ta cố gắng tìm những đối tượng xuất hiện một cách tự
nhiên, có thể nhận biết, mô tả và hiển thò bản đồ theo các thuộc tính. Cùng với
các yếu tố tự nhiên này, yêu cầu phải được nhận biết, duy nhất và tổ hợp độc
lập của các đặc trưng môi trường. Điều đáng quan tâm là khi sử dụng kết quả
của bản đồ tài nguyên là đối với nhiều mục tiêu, chúng rất chung chung và khó
tách ra được các thông tin cần thiết.
Khi phạm vi của bản đồ chuyên ngành ngày càng rộng, người dùng muốn
tìm cách tổng hợp thông tin sẵn có để có cái nhìn tổng quát hoặc phân loại
thông tin theo cách riêng của mình. Đến đầu năm 1970, SYMAP, chương trình
đầu tiên vẽ bản đồ đơn giản và in ra các số liệu thống kê ra đời. Chương trình
GRID cũng được thành lập sử dụng khuôn dạng dữ liệu raster, các chương
SVTH: Phan Lê Đinh Viêm
Trang 4
Luận văn tốt nghiệp
GVHD: Th.S Lê Thanh Hòa
Theo Gilbert H.Castle (1993): Hệ thống thông tin đòa lý (HTTTĐL hay
GIS) là một hệ thống bao gồm các phần mềm, phần cứng máy tính và một cơ
sở dữ liệu đủ lớn, có chức năng thu thập, cập nhật, quản trò và phân tích, biểu
diễn dữ liệu đòa lý phục vụ giải quyết lớp rộng lớn các bài toán ứng dụng có
liên quan tới vò trí đòa lý trên bề mặt trái đất.
2.1.1.2
Thành phần của GIS:
Hình 1: Thành phần của hệ GIS
Một hệ GIS được kết hợp bởi năm thành phần chính: phần cứng, phần
mềm, dữ liệu, con người và phương pháp. Năm thành phần này phải cân bằng,
hoàn chỉnh để GIS có thể hoạt động hiệu quả .
Phần cứng (Hardware): phần cứng là hệ thống máy tính, trên đó một hệ GIS
hoạt động. Ngày nay, phần mềm GIS có khả năng chạy trên rất nhiều dạng
phần cứng, từ máy chủ trung tâm đến các máy trạm hoạt động độc lập hoặc
liên kết mạng. Các thành phần chính của phần cứng của GIS bao gồm:
SVTH: Phan Lê Đinh Viêm
Trang 6
Luận văn tốt nghiệp
nâng cấp khi cần thiết và có thể liên kết với các hệ thống khác. Cũng như phần
cứng, tùy theo mục tiêu nghiên cứu mà phần mềm trong hệ thống có thể được
trang bò phù hợp và đáp ứng được nhu cầu chuyển đổi format dữ liệu giữa các
phần mềm khác nhau.
Dữ liệu ( Data): có thể coi thành phần quan trọng nhất của một hệ GIS là dữ
liệu. Các dữ liệu đòa lý và dữ liệu thuộc tính liên quan có thể được người sử
dụng tự tập hợp hoặc được mua từ nhà cung cấp dữ liệu thương mại. Hệ GIS
sẽ kết hợp dữ liệu không gian với các nguồn dữ liệu khác, thậm chí có thể sử
dụng hệ quản trò cơ sở dữ liệu để tổ chức lưu giữ và quản lý dữ liệu.
Cơ sở dữ liệu trong hệ thống thông tin đòa lý có hai loại: dữ liệu nền và dữ liệu
chuyên biệt:
SVTH: Phan Lê Đinh Viêm
Trang 8
Luận văn tốt nghiệp
GVHD: Th.S Lê Thanh Hòa
Cơ sở dữ liệu nền: bao gồm những lớp dữ liệu mà hệ thống thông tin đòa
lý chuyên ngành nào cũng có thể sử dụng được như: dữ liệu về lưới tọa
độ, đường giao thông, mạng lưới sông ngòi, khu dân cư…
Cơ sở dữ liệu chuyên biệt: bao gồm dữ liệu của các yếu tố chuyên
ngành được biểu diễn theo mô hình dữ liệu không gian và phi không
gian liên kết và được thiết kế hay xây dựng theo mục tiêu sử dụng của
từng chuyên ngành khác nhau. Nhưng khi thiết kế cơ sở dữ liệu chuyên
ngành cần chú ý đến những quan hệ giữa các yếu tố đơn tính trong một
chuyên ngành đồng thời trong mối quan hệ giữa các ngành với nhau.
Con người (People): công nghệ GIS sẽ bò hạn chế nếu không có con người
Lưu trữ dữ
liệu
Thông tin
đòa lý số
Thông tin
đòa lý
Thông
tin đòa
lý số
Thông tin
đòa lý số
Thông tin
đòa lý
we
b
Cộng đồng
người sử
dụng
Hiển thò và
xuất thông tin
Phân tích
vào các ô lưới có kích thước bằng nhau gọi là pixel, được xác đònh vò trí bằng
tọa độ (x,y) với x biểu diễn số hàng, y biểu diễn số cột của pixel. Với cấu trúc
này, đường được biểu diễn bằng những pixel có cùng giá trò, vùng được biểu
diễn bằng một mảng gồm nhiều pixel có cùng giá trò thuộc tính trải rộng theo
nhiều phương.
Có những trường hợp các dạng dữ liệu đòi hỏi được chuyển dạng và thao
tác theo một số cách để có thể tương thích với một hệ thống nhất đònh. Công
nghệ GIS cung cấp nhiều công cụ cho các thao tác trên dữ liệu không gian như:
Chuyển đổi đònh dạng;
Chuyển đổi hình học;
Chuyển đổi lưới chiếu;
Khớp đối tượng;
Ghép biên;
thể tiến hành các câu hỏi đơn giản và câu hỏi phân tích. GIS cung cấp cả khả
năng hỏi đáp đơn giản “ chỉ và nhấn” và các công cụ phân tích tinh vi để cung
cấp kòp thời thông tin cho những người quản lý và phân tích. Các hệ GIS hiện
đại có nhiều công cụ phân tích hiệu quả như:
Phân tích lân cận;
Phân tích một lớp;
Phân tích không gian;
Phân tích mạng;
Phân tích bề mặt;
Phân tích chồng lớp;
liệu GIS có thể được xuất ra dưới dạng khác nhau như trên giấy, xuất ra thành
tập tin ảnh, đưa vào các báo cáo, chuyển tải lên internet…
2.1.2 Các ứng dụng của GIS trong quản lý môi trường:
Bước vào thế kỷ XXI, Công nghệ thông tin đã và đang phát triển như vũ
bão với các ứng dụng khoa học vào các ngành và lónh vực khác nhau, đặc biệt
là về công nghệ thông tin đòa lý. Theo Phó giáo sư Tiến só Trần Vónh Phước,
nếu thế kỹ XX được gọi là thế kỷ bùng nổ của công nghệ thông tin thì có thể
nói thế kỷ XXI được nhận đònh là “ Thế kỷ của Công nghệ thông tin đòa lý”.
Với những đột phá về thành tựu trong việc nghiên cứu, chuyển giao công nghệ
và phát triển kỹ thuật, GIS ngày càng trở thành một công cụ hổ trợ đắc lực cho
các nhà quản lý trong việc phát triển kinh tế, xã hội. Một số nghiên cứu mới từ
năm 2004 đến nay như:
Dr . David Fraser (RMIT). Mô hình hóa thủy học hệ thống nước tự nhiên
của Việt Nam và Úc.
Dr. David Fraser và Dr Trần Vónh Phước. Mô hình hóa môi trường về
khả năng duy trì nông nghiệp tại tỉnh Bến Tre.
Nguyễn Mạnh Hùng. ng dụng công nghệ GIS và Viễn thám trong quản
lý, phát triển nuôi trồng thuỷ sản.
Nguyễn Thò Hồng Điệp. ng dụng phương pháp thống kê đòa lý và thuật
nội suy trong nghiên cứu Arsenic trong nước ngầm tại huyện Long Phú,
tỉnh Sóc Trăng.
Nguyễn Minh Tùng. ng dụng GIS phục vụ cho công tác điều chỉnh quy
hoạch chung thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2025.
SVTH: Phan Lê Đinh Viêm
Trang 13
Luận văn tốt nghiệp
Luận văn tốt nghiệp
GVHD: Th.S Lê Thanh Hòa
dữ liệu nhập vào được tổ hợp vào một lớp trung gian, nó lại được tổ hợp với lớp
thứ ba để tạo ra lớp trung gian khác. Điều này được thực hiện cho tới khi tất cả
các lớp dữ liệu nhập vào đều được chồng lên nhau. ( Star, 1990). Chính chức
năng này làm cho GIS có khả năng phân tích không gian rất lớn, mang tính
tổng quát hóa cao mà ngoài thực tế phải mất rất nhiều thời gian mới có thể
phân tích được, từ đó nó tạo điều kiện thuận lợi cho việc quản lý và ra quyết
đònh đối với các vấn đề thực tế đã đặt ra vì qua chồng ghép lớp thông tin ta có
thể rút ra nhiều thông tin từ dữ liệu ban đầu.
Trong đồ án, tôi thực hiện chồng lớp HTKhudulich (bản đồ thể hiện các khu
du
lòch)
lên
các
lớp
Chatluongkhongkhi,
Chatluongnuocngam,
Chatluongnuocbien (các bản đồ thể hiện ô nhiễm ven biển) để đánh giá tác
QUAN TỈNH BÌNH THUẬN
Điều kiện tự nhiên Tỉnh Bình Thuận:
Hình 5: Bản đồ hành chánh tỉnh Bình Thuận
3.1.1
Vò trí đòa lý:
Tỉnh Bình Thuận nằm ở miền duyên hải cực Nam Trung bộ nay thuộc Đông
Nam Bộ cách thành phố Hồ Chí Minh 198 Km về phía Đông Bắc.
Phía Đông Bắc giáp tỉnh Ninh Thuận.
Phía Bắc và Tây Bắc giáp tỉnh Lâm Đồng.
Phía Tây giáp tỉnh Đồng Nai, Tây Nam giáp tỉnh Bà Ròa - Vũng tàu.
SVTH: Phan Lê Đinh Viêm
Trang 16
Luận văn tốt nghiệp
GVHD: Th.S Lê Thanh Hòa
Phía Đông và Đông Nam giáp Biển Đông.
Tọa độ đòa lý từ:
+ 10033’42" đến 11033’18" vó độ Bắc
+ 107023’41" đến 1080 52’18" kinh độ Đông
Với tổng diện tích tự nhiên 7.828,46 (km2), dân số 1.071.334 người (mật độ
một số núi cao như: Đa My (1.642 m), Dang Sruin (1.302 m), Ông Trao (1.222
m), Gia Bang (1.136 m), núi Ông (1.024 m) và Chi Két (1.017 m). Một số
nhánh mũi chạy ra sát biển tạo nên các mũi La Gàn, Kê Gà, Mũi Né, Mũi Rơm
và Mũi Nhỏ. Tỉnh Bình Thuận trải dài dọc bờ biển Đông theo hướng Đông
Bắc–Tây Nam khoảng 160 km đường chim bay, chiều rộng 95 km, nơi hẹp nhất
32 km. Phía bắc giáp các sườn núi cuối cùng của dãy Trường Sơn, phía nam có
các dải đồi cát (động cát) chạy dài. Phần lớn lãnh thổ Bình Thuận là đồi núi
thấp, đồng bằng ven biển. Nhìn chung đòa hình phân chia phức tạp, sông suối
thường ngắn và dốc. Toàn tỉnh chia ra làm 4 loại đòa hình chính sau đây:
Vùng núi trung bình và cao (độ cao trên 500m): Chủ yếu tập trung ở phía
Bắc và Tây Bắc của tỉnh, chiếm 31,65% diện tích tự nhiên (248.599 ha), có độ
dốc cao, đòa hình phức tạp, ít có khả năng sản xuất nông nghiệp, hiện trạng chủ
yếu là đất rừng phòng hộ đầu nguồn.
Vùng đồi núi thấp (độ cao 200-500 m): Chủ yếu đất dùng vào lâm nghiệp
và chưa sử dụng, chiếm 40,7% diện tích tự nhiên (319.683 ha).
Vùng đồng bằng phù sa (có độ cao từ 10-40 m): Chiếm 9,43% diện tích tự
nhiên (74.069 ha) được tạo thành chủ yếu do phù sa của hệ thống sông, suối
bồi đắp như đồng bằng Tuy Phong (sông Lòng Sông), Phan Rí, sông Mao (Sông
Lũy), Phan Thiết (Sông Quao, sông Cà Ty), Đức Linh, Tánh Linh (sông La
Ngà).
SVTH: Phan Lê Đinh Viêm
Trang 18
Luận văn tốt nghiệp
GVHD: Th.S Lê Thanh Hòa
Luận văn tốt nghiệp
Tên sơng, suối
GVHD: Th.S Lê Thanh Hòa
L
(km)
FLV
2
(km )
Mo
2
(l/s/km )
Qo
3
(m /s)
Wo
6 3
10 m
Ghi chú
Suối Đá Bạc
Sơng Lòng Sơng
623
291
331
Tính đến cửa sơng
-----
Sơng Phan
Sơng Dinh
Sơng La Ngà
53
67
290
465
812
3067
13,0
15,0
37,0
6,00
12,20
113,00
190
386
3573
triều gây nhiễm mặn cho các vùng đất ven biển, cửa sông nhưng khá ổn đònh
có thể lợi dụng để tàu thuyền ra vào các cửa sông, cửa biển. Chế độ dòng chảy
ven biển có thể đạt 50- 70cm/s, trong những năm gần đây có sự đột biến gây
xói lở nghiêm trọng ở một số nơi thuộc các huyện Tuy phong, Bắc Bình, Phan
Thiết… về phía Nhà nước cần có các giải pháp đầu tư hữu hiệu (xây dựng hệ
thống kè, đập chắn sóng…) nhằm hạn chế tác động tiêu cực của hiện tượng này.
3.1.4
Khí hậu:
Khí hậu của tỉnh có thể chia thành các nhóm như sau:
- Nhóm thứ nhất: Là vùng khí hậu núi cao trung bình phía Tây nam tỉnh, là
vùng nhiệt đới gió mùa có nền nhiệt độ thấp, lượng mưa cao với thảm rừng
xanh lá nhiệt đới lạnh ẩm thuận lợi cho quá trình tích lũy sắt, nhôm trong lớp
vỏ phong hóa và lớp phủ thổ nhưỡng.
- Nhóm thứ hai: Là vùng khô hạn miền Trung và Bắc tỉnh, lượng mưa thấp, rất
thiếu ẩm, nhưng dồi dào năng lượng bức xạ, chứa đựng tiềm năng lớn về một
vùng chuyên canh cây trồng và vật nuôi có năng suất cao khi giải quyết được
nguồn nước tưới.
- Nhóm thứ ba: Là vùng khí hậu đồng bằng gò đồi và đồng bằng ven biển phía
Nam, thuận lợi cho cây công nghiệp ngắn ngày ít ưa ẩm và cây lúa.
- Nhóm thứ tư: Là vùng khí hậu hải dương đảo Phú Quý, khí hậu ôn hòa mát
mẻ, thích hợp cho các loại cây trồng vật nuôi phát triển nhưng diện tích không
nhiều;
SVTH: Phan Lê Đinh Viêm
Trang 21
Luận văn tốt nghiệp
các công trình hiện có, đầu tư xây dựng các công trình thủy lợi, thủy điện mới
SVTH: Phan Lê Đinh Viêm
Trang 22
Luận văn tốt nghiệp
GVHD: Th.S Lê Thanh Hòa
song song với việc khoanh nuôi, bảo vệ rừng, phủ xanh đất trống, đồi núi trọc
khu vực đầu nguồn đang là một trong những biện pháp cấp bách đặt ra đối với
tỉnh trong thời gian tới.
- Nguồn nước ngầm :
Theo số liệu năm 1996 của đoàn đòa chất 705 đánh giá trữ lượng thiên nhiên
nước nhạt dưới đất thuộc các lưu vực sông, suối ở Bình Thuận như sau:
Tổng trữ lượng (Tiềm năng khai thác) nước nhạt thiên nhiên dưới đất có khả
năng khai thác toàn Tỉnh là 2.151.851 m3/ngày, trữ lượng dự báo khai thác khu
vực 80.410 m3/ngày, việc khai thác phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt chưa
nhiều. Lượng nước đă được khai thác hiện nay chỉ chiếm một phần rất nhỏ so
với tổng trữ lượng hiện có. Do đo,ù trong khi chưa cung cấp được nguồn nước
mặt thì việc khai thác đưa nguồn nước ngầm vào sử dụng có ý nghóa rất lớn đến
đời sống, sinh hoạt trong giai đoạn hiện nay.
Lưu vực sơng
Stt
Trữ lượng (m3/ngày)
-Sơng Mương Mán
341.380
7
-Sơng Lũy
426.810
8
-Suối ven biển Mũi Né
146.690
9
-Sơng Lòng Sơng
137.400
Tổng cộng
45.460
2.151.851
Bảng 2: Trữ lượng nước ngầm tiềm năng khai thác ở một số lưu vực sông chính
nước khoáng thuộc loại Cacbonat - Natri được dùng làm nước giải khát,
khả năng khai thác khoảng 300 triệu lít/năm, đặc biệt nước khoáng Vónh
Hảo có thể dùng nuôi tảo với sản lượng tương đối lớn.
SVTH: Phan Lê Đinh Viêm
Trang 24
Luận văn tốt nghiệp
GVHD: Th.S Lê Thanh Hòa
Trữ lượng sa khoáng: Ilmenit 449.305 tấn, Zircon 96.030 tấn, Rutin
10.009 tấn, Locoxen 17.701 tấn, Alnatat 12.727 tấn. Chủ yếu ở Hàm Tân
100 ha và 200 ha ở Hàm Thuận Nam.
Đá xây dựng: Mỏ Tà Zôn trữ lượng 2.397.000 m3 (Diện tích 40 ha), núi
Ếch trữ lượng 13.598.000 m3 thuộc huyện Hàm Thuận Bắc.
Đá ốp lát: Mỏ núi Nhọn trữ lượng 30.000.000 m3 (huyện Hàm Thuận
Nam và Hàm Tân, diện tích 1.000 -1.500 ha), mỏ núi Kên Kên trữ lượng
20.000.000 m3 (huyện Tuy Phong )
Đá vôi san hô trữ lượng 200.000 - 300.000 tấn (huyện Tuy Phong) diện
tích 875 ha.
Cuội, sỏi xây dựng: Vónh Hảo (huyện Tuy phong ) trữ lượng 18.000.000
m3 diện tích 525 ha, Võ Đắc (huyện Đức Linh) trữ lượng 240.000 m3
diện tích 300 – 400 ha.
Fenspat mỏ Tầm Ru (huyện Bắc Bình) trữ lượng 2.500 tấn.
Thạch anh mỏ núi Một (huyện Tuy Phong) trữ lượng 3 triệu m3.
Cát trắng( cát thủy tinh) Phan Thiết 700 – 800 ha, Hàm Tân 1.400 ha,
Hàm Thuận Nam 400 – 600 ha, Hàm Thuận Bắc 700 – 800 ha, Bắc Bình