BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
TRẦN ĐỨC VƯỢNG
ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ VÀ PHÂN BÓN
ĐẾN SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT GIỐNG LÚA NẾP
TAN CO GIÀNG TẠI TÂN UYÊN – LAI CHÂU
CHUYÊN NGÀNH: KHOA HỌC CÂY TRỒNG
MÃ NGÀNH: 60.62.01.10 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. NGUYỄN VĂN CƯƠNG
HÀ NỘI – 2015
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page i
người thân.
Trước tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS-TS. Nguyễn Văn
Cương, người đã tận tình hướng dẫn, định hướng và giúp đỡ tôi về chuyên môn
trong suốt thời gian thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn tốt nghiệp.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong Bộ môn Di Truyền và
Giống Cây Trồng - Khoa Nông Học - Học viện Nông Nghiệp Việt Nam đã tạo điều
kiện hướng dẫn giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu để tôi thực hiện tốt
đề tài này.
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể cán bộ phòng Nông Nghiệp và Phát triển
nông thôn huyện Lai Châu, hai chủ hộ mô hình thí nghiệm đã quan tâm, ủng hộ và
hỗ trợ tôi tiến hành thực hiện nghiên cứu tốt đề tài này.
Qua đây tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình người thân, anh
em, bạn bè những người luôn ủng hộ, động viên tạo điều kiện cho tôi trong quá trình
học tập, công tác và thực hiện luận văn.
Luận văn này khó tránh khỏi những thiếu sót, tôi rất mong nhận được những
ý kiến đóng góp của các thầy cô, đồng nghiệp và bạn đọc.
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
Tác giả luận văn Trần Đức Vượng
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page iii
MỤC LỤC
Page iv
2.3.2 Các chỉ tiêu theo dõi 33
2.2.3 Phương pháp xử lý số liệu 37
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 38
3.1 Ảnh hưởng của mật độ cấy và liều lượng phân bón đến các giai đoạn sinh
trưởng của Nếp Tan Co Giàng trong vụ Mùa tại Tân Uyên – Lai Châu. 38
3.2 Ảnh hưởng của mật độ và liều lượng phân bón đến động thái tăng
trưởng chiều cao của giống Nếp Tan Co Giàng 41
3.3 Ảnh hưởng của mật độ và liều lượng phân bón đến động thái đẻ nhánh
của giống Nếp Tan Co Giàng 43
3.4 Ảnh hưởng của mật độ và liều lượng phân bón đến động thái ra lá của
giống Nếp Tan Co Giàng 46
3.5 Ảnh hưởng của mật độ và liều lượng phân bón đến các chỉ tiêu sinh lý
của giống Nếp Tan Co Giàng. 48
3.5.1 Ảnh hưởng của mật độ và liều lượng phân bón đến chỉ số diện tích
lá (LAI) 48
3.5.2 Ảnh hưởng của mật độ và liều lượng phân bón đến khả năng tích lũy
chất khô và tốc độ tích lũy chất khô của giống Nếp Tan Co Giàng 50
3.6 Ảnh hưởng của mật độ cấy và liều lượng phân bón đến mức độ nhiễm
sâu bệnh hại của giống Nếp Tan Co Giàng 51
3.7 Ảnh hưởng của mật độ cấy và liều lượng phân bón đến các yếu tố cấu
thành năng suất 54
3.8 Ảnh hưởng của mật độ cấy và liều lượng phân bón đến năng suất, hệ số
kinh tế 57
3.9 Ảnh hưởng của mật độ cấy và liều lượng phân bón đến hiệu quả kinh tế 58
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 61
1 Kết luận 61
2 Đề Nghị 61
TÀI LIỆU THAM KHẢO 62
Khối lượng tích lũy chất khô
Năng suất lý thuyết
Năng suất sinh vật học
Năng suất thực thu
Số lá cuối cùng
Số nhánh hữu hiệu
Số thứ tự
Thời gian sinh trưởng
Tỷ lệ hạt chắc
Tuần sau cấy
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vi
DANH MỤC BẢNG
STT Tên bảng Trang
1.1 Diện tích, năng suất và sản lượng lúa của thế giới qua các năm 4
1.2 Diện tích, năng suất và sản lượng lúa của một số quốc gia và khu vực
trên thế giới năm 2012 5
1.3 10 quốc gia xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới năm 2011 và dự báo
năm 2012 6
1.4 Diện tích, năng suất và sản lượng lúa ở Việt Nam qua các năm 8
3.1 Ảnh hưởng của mật độ cấy và liều lượng phân bón đến các giai đoạn
sinh trưởng của Nếp Tan Co Giàng trong vụ Mùa 2014 (ngày) 40
3.2 Ảnh hưởng của mật độ và liều lượng phân bón đến tăng trưởng chiều
lớn nhất cho con người, bình quân 180-200 kg gạo/ người/ năm tại các nước châu Á
, khoảng 10 kg/ người/ năm tại các nước châu Mỹ và là nguồn sinh kế chủ yếu của
nông dân. Cây lúa còn góp phần tạo việc làm cho người dân nông thôn tại các quốc
gia đang phát triển châu Á, châu Phi.
Ở Việt Nam, dân số trên 90 triệu và 100% người Việt Nam sử dụng lúa gạo
làm lương thực chính. Việt Nam là nước thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa thích
hợp cho cây lúa sinh trưởng, phát triển. Ở đây, cây lúa được canh tác bằng những
hình thức khác nhau tùy theo điều kiện tự nhiên của mỗi vùng, miền. Trong đó, lúa
nương được xem là hình thức canh tác phổ biến còn gạo nương thì được xem là gạo
đặc sản truyền thống của bà con nông dân vùng trung du và miền núi.
Lai Châu là một tỉnh thuộc vùng núi Tây Bắc Việt Nam. Ở đây nông dân
thường trồng một số giống lúa chất lượng cao như Khẩu Ký, Khẩu nẩm pua,
Khẩu tan nương, Khẩu mang, Nếp Tan, nếp địa phương Đặc biệt, Nếp Tan Co
Giàng ở huyện Tân Uyên là giống có khả năng sinh trưởng và phát triển nhưng
dài ngày (khoảng 150 ngày), chiều cao thân cây khoảng 0,9-1,1 m, có năng suất
khá, chất lượng gạo tốt, màu trắng đục, thơm, dẻo, cơm ngon, được nhiều thị
trường ưa chuộng, và rất quan trọng vì bán được giá, người trồng lúa có lãi (báo
cáo nghiệm thu, phòng Nông nghiệp huyện Tân Uyên, Lai Châu). Tuy nhiên,
năng suất và chất lượng giống chịu ảnh hướng tổng hợp của rất nhiều yếu tố
trong đó mật độ và phân bón là hai yếu tố có ảnh hưởng rất lớn. Về ảnh hưởng
của dinh dưỡng cho lúa Nếp Tan, các nghiên cứu chưa đề cập đến nhiều về liều
lượng và kỹ thuật sử dụng phân bón đa lượng. Việc bón phân không cân đối, kỹ
thuật bón chưa hợp lý của nông dân làm hạn chế đến năng suất, không phát huy
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 2
hết tiềm năng của giống. Do vậy, sự cần thiết nghiên cứu về vai trò của các
nguyên tố đa lượng và biện pháp kỹ thuật sử dụng phân bón hợp lý cho lúa, đảm
bảo tính bền vững trong sản xuất nông nghiệp làm cơ sở cho địa phương chỉ đạo
và định hướng cho sản xuất của vùng.
vài ba thập kỷ gần đây, tình hình sản xuất lúa gạo trên thế giới đã có mức tăng
trưởng đáng kể. Tổng sản lượng lúa tăng 70% trong vòng 32 năm, nhưng do sự
bùng nổ dân số nhất là ở các nước đang phát triển ở châu Á, châu Phi, châu Mỹ La
Tinh nên vấn đề an ninh lương thực vẫn là vấn đề cấp bách cần được quan tâm
trong những năm trước mắt và lâu dài.
Thống kê của FAO năm 2013 cũng cho thấy, diện tích trồng lúa trên thế giới
tăng lên rõ rệt từ năm 1961- 1980. Trong vòng 19 năm, diện tích trồng lúa đã tăng
từ 115,4 lên 144,4 triệu ha, bình quân tăng 1,5 triệu ha/năm. Từ năm 1980 đến năm
2012, diện tích lúa toàn thế giới tăng chậm, thậm chí có thời gian giảm xuống (năm
2007 diện tích lúa giảm 0,2 triệu ha so với năm 2006), đạt cao nhất vào năm 2012
với 163,46 triệu ha.
Về sản lượng: Sản lượng lúa trên thế giới năm 2009 giảm 0,5% so với năm
2008 do có sự sụt giảm về diện tích, lý do chính là do khủng hoảng kinh tế toàn cầu,
nông dân không chú trọng đầu tư vào cây lúa. Đến năm 2011 sản lượng lúa tăng lên
và đạt cao nhất ở mức 722,56 triệu tấn.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 4
Bảng 1.1. Diện tích, năng suất và sản lượng lúa của thế giới qua các năm
Năm
Diện tích
(triệu ha)
Năng su
ất
(tấn/ha)
Sản lượng
(triệu tấn)
1961 115,4 1,9 215,6
1965 124,8 2,0 254,1
1970 132,9 2,4 316,3
ất
(tấn/ha)
Sản lượng
(triệu tấn)
Ấn Độ 42,5 3,59 152,6
Trung Quốc 30,3 6,74 204,29
Inđônêxia 13,44 5,14 69,05
Thái Lan 12,6 3 37,8
Banglades 11,7 2,92 34,2
Myanmar 8,15 4,05 33
Việt Nam 7,75 5,63 43,66
Philippin 4,69 3,85 18,03
Cambodia 3,1 3 9,3
Pakistan 2,7 3,48 9,4
Thế giới 163,46 4,39 718,46
Nguồn: FAOSTAT, 2013
Năm 2012, đứng đầu về sản xuất lúa vẫn là 8 nước châu Á bao gồm: Ấn Độ,
Trung Quốc, Indonesia, Thái Lan, Bangladesh, Myanmar, Việt Nam, Philippines.
Tuy nhiên chỉ có 3 nước có năng suất cao hơn 5 tấn/ha là Trung Quốc (6,74 tấn/ha),
Việt Nam (5,63 tấn/ha) và Inđônêxia (5,14 tấn/ha). Mặc dù năng suất lúa ở các nước
châu Á còn thấp nhưng do có diện tích sản xuất lớn nên châu Á vẫn là nguồn đóng
góp quan trọng cho sản lượng lúa thế giới.
Tính đến năm 2012, châu Á vẫn là khu vực sản xuất lúa lớn nhất thế giới với
diện tích 136,93 triệu ha chiếm 83,77% diện tích trồng lúa toàn thế giới), sản lượng
đạt 611,32 triệu tấn (chiếm 85,09% sản lượng lúa toàn thế giới). Bộ Nông nghiệp
Mỹ (USDA) đã hạ dự báo sản lượng gạo toàn cầu 2013-2014 xuống 473,2 triệu tấn
gạo, giảm khoảng 3,6 triệu tấn so với dự báo trước đó nhưng vẫn tăng gần 1% so
với năm 2012-2013. Dự báo tiêu thụ gạo toàn cầu 2013-2014 cũng đã được hạ 1,4
triệu tấn xuống 473,1 triệu tấn, vẫn là mức cao kỷ lục.
Philippin, Malaysia, Nhật cũng là những quốc gia có nhu cầu nhập khẩu gạo khá
lớn. Trung Quốc là một thị trường rất lớn nhưng nhu cầu nhập khẩu gạo còn hạn
chế. Hiện nay lượng gạo trao đổi trên thị trường thế giới chiếm tỉ trọng thấp trong
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 7
tổng cung (dưới 5%) và giá gạo chịu ảnh hưởng rất lớn lượng mua vào của một số
nước nhập khẩu chính như Indonexia, Philippin, Trung Quốc Thời gian vừa qua
Trung Quốc đã đẩy mạnh nhập khẩu gạo từ các nước khác, nhất là các nước Đông
Nam Á (Nguyễn Đình Luân, báo Nông nghiệp và Phát Triển, 2013).
Niên vụ 2012-2013, sản lượng gạo Trung Quốc tiếp tục tăng nhưng nhu cầu tiêu
thụ còn tăng mạnh hơn, và xu hướng này dự kiến sẽ còn tiếp tục sang niên vụ 2013-
2014 này. Thời tiết bất thường, hạn hán và lũ lụt đã ảnh hưởng tới sản lượng lúa gạo.
Theo trung tâm thông tin ngũ cốc và các loại dầu quốc gia Trung Quốc (CNGOIC), sản
lượng gạo của nước này trong năm nay sẽ giảm 0,7% so với năm ngoái, xuống còn
202,8 triệu tấn. Đây sẽ là lần đầu tiên trong vòng 10 năm sản lượng gạo Trung Quốc
sụt giảm. Về nhập khẩu, tháng 11 Trung Quốc giảm tốc độ nhập khẩu gạo, một phần
do giá gạo của những nước láng giềng nhích lên. Việt Nam và Pakistan vẫn chiếm phần
lớn gạo nhập khẩu vào Trung Quốc bởi mức giá rẻ hơn các đối thủ khác. Myanmar mất
dần lợi thế trên thị trường này bởi giá gạo xuất khẩu tăng. Tuy nhiên, xu hướng chung
Trung Quốc vẫn đang gia tăng nhập khẩu. bởi giá gạo nội địa cao trong bối cảnh giá
thế giới thấp. Trung Quốc nhập khẩu khoảng 3,2-3,4triệu tấn gạo trong năm 2012-
2013, gấp gần 6 lần so với 540.000 tấn gạo nhập khẩu trong năm 2010-2011. Theo
trung tâm thông tin ngũ cốc và các loại dầu quốc gia Trung Quốc (CNGOIC), nước này
sẽ tăng nhập khẩu gạo lên mức cao kỷ lục 5 triệu tấn trong năm 2013/14 (kết thúc vào
tháng 9/2014) do sản xuất trong nước sụt giảm mà giá tăng cao. Con số này cao hơn
khoảng 25% so với 4 triệu tấn gạo mà CNGOIC ước tính trước đây và cao hơn khoảng
47% so với ước tính khoảng 3,4 triệu tấn của USDA (Nguyễn Đình Luân, 2013).
1.1.2. Tình hình sản xuất lúa gạo ở Việt Nam
Việt Nam là một trong những nước trồng lúa trọng điểm trên thế giới, người
ta, cây lúa cung cấp 85-85% tổng sản lượng lương thực trong nước. Trong những
năm gần đây, diện tích lúa không tăng nhưng do năng suất lúa được cải thiện đáng
kể nên sản lượng lúa không ngừng tăng lên.
Từ năm 2005 trở lại đây, năng suất lúa của nước ta ổn định và tăng mạnh -
từ 5,34 tấn/ha (2010) lên 5,54 tấn/ha (2011) và đều cao hơn năng suất bình quân
của thế giới. Tính đến năm 2012, tổng sản lượng lúa của nước ta đạt 43,66 triệu tấn
(chiếm 6,07% tổng sản lượng lúa toàn thế giới).
Việt Nam từ một nước thiếu lương thực của những thập niên 80, 90 thế kỷ
trước thì những năm 2005–2008 sản lượng gạo xuất khẩu khá ổn định ở mức trên 4,5
triệu tấn và có bước đột phá từ những năm 2009. Cụ thể, mùa vụ 2010/2011, Việt Nam
xuất khẩu 7,1 triệu tấn gạo trong tổng sản lượng
26,37 triệu tấn, so với 6,73 triệu tấn
trong mùa vụ
(Nguyễn Ích Tân và Nguyễn Thị Thu, 2012).
Xét về lượng, trung bình mỗi năm Việt Nam xuất khẩu sang châu Phi từ 1,2
đến 1,5 triệu tấn gạo. Gạo xuất sang châu Phi thường được bán theo cơ sở giá FOB;
hàng hóa được chuyển bằng tàu lớn và dừng lại ở nhiều cảng tại các quốc gia châu
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 9
Phi khác nhau. Chính vì vậy, rất khó để đưa ra con số chính xác về lượng gạo xuất
khẩu của Việt Nam sang châu lục này (Nguyễn Ích Tân và Nguyễn Thị Thu, 2012).
Theo báo cáo của USDA, Việt Nam đang muốn tiếp cận thị trường mới để
đẩy mạnh xuất khẩu. Việt Nam đã xuất khẩu gạo đến Chile và Haiti trong năm ngoái
và đang tìm cách mở rộng thị phần tại Tây bán cầu.
1.2. Tình hình nghiên cứu lúa nương trên thế giới và ở Việt Nam
1.2.1. Tình hình nghiên cứu lúa nương trên thế giới
Do đời sống ngày càng được cải thiện nên nhu cầu về lúa chất lượng cao, đặc
biệt là lúa nương ngày càng tăng nên việc chọn lọc, cải tiến nhằm tạo ra các giống
ở nước này. Các giống lúa chất lượng tốt được gieo trồng phổ biến ở Trung
Quốc đều có dạng hạt thon, chất lượng xay xát tốt, gạo trắng trong, hàm lượng
Amyloza từ thấp đến trung bình, độ bền thể gel mềm (Zhao et al., 1993).
Ở Thái Lan trồng nhiều giống lúa cổ truyền địa phương có chất lượng gạo
cao cho tiêu dùng và xuất khẩu. Những giống cải tiến ngắn ngày, năng suất cao
chiếm tỷ lệ thấp. Thái Lan là nước đứng đầu trên thế giới về xuất khẩu lúa gạo với
loại gạo hạt dài, trắng trong, cơm thơm, ngon có chất lượng cao như: Khao Dawk
Mali 105, RD15…Trong số 6 loại gạo chất lượng chính trên thế giới, Thái Lan có 4
loại đó là: indica hạt dài chất lượng tốt, indica hạt dài trung bình, chất lượng tốt, lúa
thơm và lúa nếp hoặc lúa dẻo dính.
Các giống lúa đặc sản ở Myanmar được gieo trồng nhiều ở các tỉnh miền
Trung. Các giống lúa chất lượng cổ truyền hiện vẫn giữ vai trò chính trong thị
trường nội tiêu. Một số giống lúa chất lượng đang được gieo trồng phổ biến ở
đây như: Namathalay, Basmati, Paw San Bay Gyar…(Khin et al., 2000).
Khoảng 85% tổng sản lượng lúa gạo của Lào là lúa nếp. Các giống lúa ở Lào
hầu hết là các giống lúa cổ truyền, lúa nếp cảm quang, dài ngày và thường trỗ bông
vào cuối tháng 10, đầu tháng 11, năng suất chỉ đạt 1,6 - 3,7 tấn/ha. Trong tương lai
Lào được coi là nước có tiềm năng xuất khẩu các giống lúa nếp và lúa thơm
(Schiller et al., 2001).
Giống lúa Koshihikari là một giống lúa chất lượng cổ truyền ở Nhật thuộc loài
phụ japonica, diện tích gieo trồng giống này chiếm khoảng 30% tổng diện tích trồng
lúa ở nước này. Giống lúa Koshihikari có năng suất bình quân 5,5 - 6,0 tấn/ha, hạt dài
5,4 mm, hàm lượng amyloza khoảng 17-18%, độ hoá hồ thấp, không thơm, không
dính, chất lượng dinh dưỡng cao và có vị ngon đặc biệt. Ở Nhật ngoài giống lúa
Koshihikari còn trồng một số giống lúa chất lượng cải tiến khác (Chaudhary, 2001).
Nhiều giống lúa đặc sản đã được chọn lọc phục tráng và trở thành thương
hiệu riêng của các quốc gia.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 11
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 12
thể phức tạp phản ánh tính đa dạng di truyền cao của lúa vùng Tây Bắc. Sự đa dạng
di truyền tài nguyên lúa vùng Tây Bắc do sự đa dạng về địa lý sinh thái, sự đa dạng
về văn hoá dân tộc và tập quán canh tác tạo nên.
Kết quả nghiên cứu sự đa dạng về giống và bên trong giống của bộ giống lúa
tại huyện Đà Bắc, Hoà Bình của Nguyễn Thị Thanh Tuyết (2000) cho thấy: Lúa địa
phương chiếm trên 80% tổng số giống, tỷ lệ lúa Japonica chiếm 66,7%, cao hơn lúa
Indica (31,0%). Tại bản Tát lúa nương nhiều hơn lúa ruộng, số giống lúa nếp và lúa
tẻ ngang nhau, trong khi tại bản Cang lúa nương ít hơn lúa ruộng và lúa nếp nhiều
hơn lúa tẻ. Cũng theo tác giả các giống lúa địa phương có hệ số đa dạng cao hơn các
giống lúa cải tiến. Lúa ở bản Cang có sự đa dạng di truyền bên trong giống cao hơn
lúa ở bản Tát.
Nghiên cứu về nguồn gen lúa địa phương ở miền Bắc Việt Nam, Nguyễn Thị
Quỳnh (2004) kết luận như sau: Tài nguyên di truyền cây lúa địa phương ở miền
Bắc Việt Nam phong phú và đa dạng bao gồm: 40,8% lúa tẻ, 59,2% lúa nếp, 43,3%
lúa ruộng, 56,7% lúa nương, 6,0% lúa chiêm, 94,0% lúa mùa, 81,2% lúa japonica,
18,8% lúa indica. Trong lúa japonica có 62,9% là lúa nương, 61,0% lúa nếp.
Cũng theo tác giả các tính trạng có sự đa dạng cao nhất của lúa địa phương
miền Bắc Việt Nam là chiều dài hạt thóc và khối lượng 1000 hạt thóc. Các giống
lúa thuộc loài phụ Japonica có sự đa dạng hơn các giống lúa thuộc loài phụ Indica
về tính trạng râu đầu hạt, màu vỏ trấu và màu vỏ lụa hạt gạo. Lúa Japonica có tỷ lệ
bạc bụng ít hơn, nhiệt độ hoá hồ thấp hơn và tỷ lệ hạt to vừa và hạt to cao hơn lúa
Indica. Lúa nếp đa dạng hơn lúa tẻ về chiều dài hạt thóc, tỷ lệ D/R hạt và màu vỏ
lụa của hạt gạo. Chiều dài hạt thóc của lúa nương đa dạng hơn lúa ruộng, số giống
lúa nương có tỷ lệ hạt rất dài chiếm tỷ lệ 93,5%, cao hơn tỷ lệ tương ứng của lúa
ruộng 80,2%. Lúa nương đa dạng hơn lúa ruộng về màu vỏ trấu, màu vỏ lụa hạt
gạo, lúa nương ít bạc bụng hơn lúa ruộng.
Trong những năm qua, việc khai thác và phát triển các giống lúa đặc sản địa
Toàn bộ thời gian sinh trưởng sinh thực (phân hoá đòng) kéo dài 28-33 ngày.
Các giống khác nhau có thời gian sinh trưởng sinh thực khác nhau, thời gian này
chênh nhau 2-3 ngày không làm thay đổi có ý nghĩa đối với thời gian sinh trưởng
của cây lúa (Nguyễn Văn Hoan, 2006).
Phân hoá đòng:
Bước 1: diễn ra ngay sau khi kết thúc phân hoá lá đòng. Ở bước này đỉnh
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 14
sinh trưởng sùi ra, bắt đầu bước vào quá trình phân hoá trục bông, thời gian hoàn
thành bước 1 khá nhanh (2 ngày ở hầu hết các giống).
Bước 2: tiếp sau là bước phân hoá nhánh nguyên thuỷ, thời gian kéo dài
3-4 ngày.
Bước 3: phân hoá gié cấp hai và phân hoá hoa, bông lúa non dài 1-2 mm
được phủ một lớp lông trắng, thời gian kéo dài 4-5 ngày.
Ba bước phân hoá đầu tiên này nếu gặp điều kiện thuận lợi thì bông lúa to,
nhiều gié cấp 1, cấp 2 và nhiều hạt. Thời gian qua ba bước đầu kéo dài 9-11 ngày,
đây là những ngày quan trọng đặt nền móng cho việc hình thành các bộ phận
“chứa” sản phẩm quang hợp để thu năng suất sau này. Những tác động bất lợi xảy
ra đúng lúc này sẽ gây ảnh hưởng xấu đến các quá trình sau.
Bước 4: bước phân hoá nhị đực, nhị cái diễn ra trong 5-7 ngày.
Bước 5: tiếp sau là bước hình thành tế bào mẹ hạt phấn, kéo dài 3 ngày.
Bước 6: sau khi hình thành, tế bào mẹ hạt phấn phân chia giảm nhiễm, quá
trình phân chia diễn ra nhanh trong 2 ngày, đây là thời điểm rất quan trọng của quá
trình phân hoá đòng.
Bước 7: là bước tích luỹ vật chất cho hạt phấn, thời gian qua bước 7 dài nhất
trong các bước phân hoá đòng (7-9 ngày).
Bước 8 diễn ra trong 2 ngày, là bước phân hoá cuối cùng, hạt phấn được tích
luỹ đầy đủ và chín, có thể nẩy mầm dễ dàng, đây cũng là thời gian cuối cùng của
quá trình tích luỹ vật chất vào hạt phấn, làm cho hạt mẩy, bao phấn đầy căng, khi
như ở nước ta tăng lên rõ rệt. Chỉ tính từ năm 1960 đến 1997, năng suất và sản lượng
lúa trên thế giới đã thay đổi theo tỷ lệ thuận với số lượng phân hóa học đã được sử
dụng để bón cho lúa. Trong những thập kỷ cuối thế kỷ 20 (từ 1960-1997), diện tích
trồng lúa toàn thế giới chỉ tăng có 23,6% nhưng năng suất lúa đã tăng 108% và sản
lượng lúa tăng lên là 242%. Ở nước ta, năng suất lúa đã tăng từ 12,1 tạ/ha/vụ trong
những năm 30 lên 31,7 tạ/ha/vụ trong những năm 90 của thế kỷ XX, tức là đã tăng 2,6
lần nhờ có phân hóa học.
Lúa là loại cây trồng có phản ứng tốt với phân hóa học nên khi sử dụng phân
hóa học sẽ cho hiệu quả cao. Các yếu tố dinh dưỡng đa lượng: đạm, lân và kali cần
thiết cho cây lúa trong toàn bộ đời sống.
A. Nhu cầu dinh dưỡng đạm của cây lúa:
Đạm đóng một vai trò quan trọng trong đời sống cây trồng nói chung, đặc biệt
là đối với cây lúa, đạm giữ một vị trí đặc biệt trong việc tăng năng suất.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 16
Đạm là thành phần của Protein, axit Nucleic Đạm là yếu tố không thể thiếu
trong quá trình phát triển của tế bào và các cơ quan rễ, thân, lá….
Trong số các nguyên tố đa lượng thiết yếu thì đạm được xem là yếu tố quan
trọng nhất cho quá trình sinh trưởng và hình thành năng suất lúa, đạm luôn là yếu tố
hạn chế năng suất hàng đầu trên tất cả các loại đất. De Datta, 1981 kết luận rằng lúa
cần đạm trong suốt quá trình sinh trưởng sinh dưỡng để tích lũy chất khô và đẻ
nhánh, điều này xác định số lượng bông. Đạm góp phần tạo nên số hạt trong giai
đoạn phân hóa đòng, tăng kích thước hạt bằng giảm số lượng hoa thoái hóa và tăng
kích thước vỏ trấu trong suốt giai đoạn làm đòng. Đạm góp phần tích lũy
hydratcacbon trong thân lá ở giai đoạn trước trỗ và trong hạt ở giai đoạn vào chắc vì
chúng phụ thuộc nhiều vào tiềm năng quang hợp. Theo Nguyễn Như Hà (2006):
lượng đạm cần thiết để tạo ra 1 tấn thóc là 17 - 35 kg N, trung bình cần 22,2 kg N
Quang hợp của cây lúa trong giai đoạn vào chắc chiếm khoảng 60 – 100%
hàm lượng hydratcacbon trong hạt. Theo Yoshida, 1981 phần còn lại là do từ các bộ
cây ưa NH
4
+
và cây ưa NO
3
-
.
Lúa là cây ưa NH
4
+
điển hình.
Trong thời kỳ đầu sinh trưởng của cây lúa có khuynh hướng hút NH
4
+
, lúa
còn hút cả NO
3
-
.
Ở ruộng khô lúa hút cả hai dạng đạm NH
4
+
và NO
3
-
, còn trong ruộng nước
thì lúa chuyên hút NH
4
+
.
kali không phải là chất tạo thành bất kỳ một chất hữu cơ nào của cây lúa nhưng nó
rất quan trọng cho hơn 40 Enzym hoạt động. Kali đóng vai trò trong hoạt động sinh
lý của cây như đóng mở khí khổng, tăng khả năng chống chịu bệnh và giúp lúa đẻ
nhánh thuận lợi, tăng kích thước hạt, tăng khối lượng hạt. Thiếu kali cây lúa sẽ còi
cọc, đẻ nhánh kém hơn, lá ngắn và có màu xanh tối, bông nhỏ và dài. Đối với chất
lượng hạt lúa, nếu thiếu kali hạt giống sẽ không bình thường, dị dạng cao, phôi và
rìa hạt bị đen, tỷ lệ nảy mầm của hạt kém, sức sống của hạt giảm nhanh trong quá
trình bảo quản
1.4.2. Một số nghiên cứu về lượng đạm bón cho lúa trên thế giới và ở Việt Nam
1.4.2.1. Một số nghiên cứu về lượng đạm bón cho lúa trên thế giới
Nhiều thí nghiệm về hiệu lực, lượng phân đạm sử dụng trong mối quan hệ
với các yếu tố khác đã được tiến hành. Ở vùng ôn đới như Yanco – Australia và
Yunnan – Trung Quốc, năng suất lúa có thể đạt 13 – 15 tấn/ha và yêu cầu lượng
N hút là 250 kg N/ha (Ying et al., 1998).
Trong ruộng lúa nhiệt đới, để đạt năng suất hạt 9 – 10 tấn/ha, lúa cần hút
được 180 – 200 kg N/ha (Cassman et al., 1993). Muốn lúa hấp thu được 200 – 250
kg N/ha cần bón 150 – 200 kg N/ha vì lúa còn hút được đạm từ đất. Liểu lượng N
bón còn phụ thuộc vào giống, giống lai yêu cầu lượng đạm bón cao hơn giống thuần
(Yoshida, 1983).
Theo Yoshida (1985) nếu bón đạm với liều lượng cao thì hiệu suất cao nhất
là lúc lúa đẻ nhánh và sau đó giảm dần. Với liều lượng bón thấp thì bón vào lúc lúa
đẻ nhánh và 10 ngày trước trỗ cho hiệu quả cao.
Tác giả Yoshida (1789) cho rằng ở các nước nhiệt đới, lượng các chất dinh
dưỡng N, P, K cần để tạo ra 1 tấn thóc khô trung bình là 20,5 kg N + 55 kg P
2
O
5
+
44 kg K
2