đánh giá ảnh hưởng của mật độ và phân bón đến sinh trưởng, năng suất của giống lúa lai hai dòng thơm hq19 tại tiên du – bắc ninh - Pdf 31

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

---------

---------

NGUYỄN VĂN KHÂM

ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ VÀ PHÂN BÓN
ĐẾN SINH TRƯỞNG, NĂNG SUẤT
CỦA GIỐNG LÚA LAI HAI DÒNG THƠM HQ19
TẠI TIÊN DU – BẮC NINH

CHUYÊN NGÀNH

: KHOA HỌC CÂY TRỒNG

MÃ SỐ

: 60.62.01.10

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGUYỄN THANH TUẤN

HÀ NỘI – 2014



Hà Nội tháng năm 2014
Tác giả luận văn

NGUYỄN VĂN KHÂM

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page ii


MỤC LỤC
Lời cam đoan

i

Lời cảm ơn

ii

Mục lục

iii

Danh mục bảng

vi

MỞ ĐẦU

1


Tình hình sản xuất lúa lai ở Việt Nam

5

1.2.1

Tình hình sản xuất lúa lai của tỉnh Bắc Ninh.

6

1.2.2

Tình hình sản xuất lúa lai của huyện Tiên Du

8

1.3

Cơ sở thực tiễn của đề tài

9

1.4

Tình hình nghiên cứu và phát triển lúa lai trong và ngoài nước

10

1.4.1


Nhu cầu dinh dưỡng kali

23

1.6

Những kết quả nghiên cứu về mật độ cấy trên lúa

25

1.7

Một số kết quả nghiên cứu về việc sử dụng phân bón đối với lúa

29

Chương 2 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

35

2.1

Vật liệu nghiên cứu

35

2.2

Địa điểm và thời gian nghiên cứu

40

2.5.2

Đặc điểm nông sinh học

41

2.5.3

Mức độ nhiễm sâu bệnh

41

2.5.4

Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất

43

2.6

Phương pháp xử lý số liệu

43

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1

44


3.1.5

49

Ảnh hưởng của mật độ và liều lượng phân bón đến một số đặc
điểm nông sinh học của giống HQ19

3.1.6

50

Ảnh hưởng của mật độ và liều lượng phân bón đến tình hình phát
sinh phát triển sâu, bệnh trên giống HQ19 tại xã Cảnh Hưng.

3.1.7

52

Ảnh hưởng của mật độ cấy và liều lượng phân bón đến các yếu tố
cấu thành năng suất và năng của giống HQ19

3.2
3.2.1

54

Đặc điểm nông sinh học của giống HQ19 trong vụ Mùa năm
2013 tại xã Phú Lâm.



3.2.5

Ảnh hưởng của mật độ và liều lượng phân bón đến một số đặc
điểm nông sinh học của giống HQ19 trong vụ Mùa 2013 tại xã
Phú Lâm.

3.2.6

66

Ảnh hưởng của mật độ cấy và liều lượng phân bón đến mức độ
nhiễm sâu bệnh hại của giống HQ19

3.2.7

68

Ảnh hưởng của mật độ cấy và liều lượng phân bón đến các yếu tố
cấu thành năng suất và năng suất của tổ hợp lai HQ19

3.3

70

Kết quả thí nghiệm khảo nghiệm sản xuất lúa lai hai dòng HQ19
tại một số địa phương

3.3.1


TÀI LIỆU THAM KHẢO

81

PHỤ LỤC

85

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page v


DANH MỤC BẢNG
STT

Tên bảng

Trang

1.2

Diễn biến diện tích canh tác lúa lai qua các năm của huyện Tiên Du

8

1.3

Cơ cấu mùa vụ và năng suất lúa lai qua các năm tại Tiên Du



48

Ảnh hưởng của mật độ và lượng phân bón đến động thái ra lá của
giống HQ19 trong vụ Mùa 2013 tại Cảnh Hưng – Tiên Du.

3.5

50

Một số đặc điểm nông sinh học của giống HQ19 trong vụ Mùa
2013 tại Cảnh Hưng – Tiên Du

3.6

51

Ảnh hưởng của mật độ và lượng phân bón đến tình hình phát
sinh phát triển sâu, bệnh trên giống HQ19 trong vụ Mùa 2013 tại
Cảnh Hưng – Tiên Du.

3.7

53

Ảnh hưởng của lượng phân bón đến năng suất và các yếu tố cấu
thành năng suất của giống HQ19 tại Cảnh Hưng – Tiên Du.

3.8


tăng trưởng chiều cao cây của giống HQ19 trong vụ Mùa 2013
tại Phú Lâm – Tiên Du.

3.12

62

Ảnh hưởng của mật độ và lượng phân bón đến động thái đẻ nhánh
của giống HQ19 trong vụ Mùa 2013 tại Phú Lâm – Tiên Du.

3.13

64

Ảnh hưởng của mật độ và lượng phân bón đến động thái ra lá của
giống HQ19 trong vụ Mùa 2013 tại Phú Lâm – Tiên Du

3.14

65

Một số đặc điểm nông sinh học của giống HQ19 trong vụ Mùa
2013 tại Phú Lâm – Tiên Du

3.15

67

Ảnh hưởng của mật độ và lượng phân bón đến tình hình phát
sinh phát triển sâu, bệnh trên giống HQ19 trong vụ Mùa 2013 tại

3.20

77

Hiệu quả kinh tế của mô hình khảo nghiệm giống HQ19 trong vụ
Mùa 2013 tại xã Lạc Vệ

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

78

Page vii


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cây lúa (Oryza sativa L) là nguồn cung cấp lương thực thiết yếu đảm
bảo sự sống cho hơn một nửa dân số thế giới, đặc biệt là trên 90% dân số châu
Á. Cây lúa góp phần đảm bảo cung cấp lương thực và tạo việc làm cho người
dân nông thôn tại các quốc gia đang phát triển châu Á, châu Phi và châu Mỹ
La Tinh. Theo dự báo của FAO, thế giới đang có nguy cơ thiếu hụt lương
thực do dân số tăng nhanh (khoảng 9 tỷ vào năm 2050). Tiêu thụ lương thực,
thực phẩm tại nhiều nước tăng, trong khi biến đổi khí hậu toàn cầu gây thiên
tai bất thường: nước biển dâng, sa mạc hóa, khô hạn, bão lụt, quá trình đô thị
hóa làm giảm đất lúa, nhiều nước phải dành đất để trồng cây nhiên liệu sinh
học vì nguồn nhiên liệu hóa thạch ngày càng khan hiếm, cạn kiệt. Chính vì
vậy, giữ vững an ninh lương thực là nhu cầu cấp thiết hàng đầu của thế giới
hiện tại và tương lai
Việt Nam là một nước nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, có truyền
thống canh tác lúa nước từ lâu đời và được coi là cái nôi của nền văn minh lúa

cần thiết. Ngoài các biện pháp như bố trí thời vụ, tuổi mạ, kỹ thuật làm đất,
tưới nước, phòng trừ sâu bệnh...thì xác định mật độ cấy và lượng phân bón
cũng là những biện pháp kỹ thuật quan trọng. Việc bố trí mật độ cấy hợp lý
nhằm tạo ra mật độ quần thể thích hợp, từ đó nâng cao được hiệu suất quang
hợp thuần và làm tăng số bông trên một đơn vị diện tích, quyết định trực tiếp
đến năng suất. Trong khi đó, phân bón là cơ sở quyết định năng suất cây trồng
nói chung và năng suất cây lúa nói riêng.
Vì vậy việc nghiên cứu hoàn thiện qui trình thâm canh lúa lai thương
phẩm giống lúa lai mới có năng suất và chất lượng tốt phù hợp với vùng sinh
thái của Bắc Ninh là hướng đi hết sức đúng đắn và cần thiết.
Xuất phát từ thực tế nêu trên chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “Đánh
giá ảnh hưởng của mật độ và phân bón đến sinh trưởng, năng suất giống
lúa lai hai dòng thơm HQ19 tại Tiên Du, Bắc Ninh”

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 2


2. Mục đích và yêu cầu của đề tài
2.1. Mục đích
Xác định lượng phân bón và mật độ cấy phù hợp để giống lúa lai hai dòng
thơm HQ19 đạt năng suất cao trong vụ Mùa tại huyện Tiên Du, Bắc Ninh.
2.2. Yêu cầu
- Đánh giá được một số đặc điểm nông sinh học, đặc điểm hình thái,
mức độ nhiễm sâu bệnh của giống lúa lai HQ19 trong vụ Mùa tại huyện Tiên
Du, tỉnh Bắc Ninh.
- Nghiên cứu lượng phân bón và mật độ ảnh hưởng đến năng suất và các
yếu tố cấu thành năng suất và hiệu quả kinh tế của giống lúa lai HQ19 trong
vụ Mùa tại huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh.

từ 1962 đến 1970, tốc độ tăng là 2,4%, sang giai đoạn 1971-1980 là 1,76%;
1981-1990 là 2,34% nhưng đến năm 1991-1998 chỉ còn 0,98%, bằng khoảng
98% so với những năm 80 của thế kỷ trước (Nguyễn Văn Bộ và cs., 2003).
Hiện nay dân số thế giới gần 7 tỷ người, dự tính đến năm 2030 dân số thế
giới tăng 8 tỷ người trong đó diện tích đất nông nghiệp mất 15-35 triệu ha vì
vậy để nâng cao sản lượng lúa gạo thì nâng cao năng suất trên đơn vị diện tích
đất là con đường ngắn nhất giải quyết nhu cầu lương thực. Trong khi đó năng
suất lúa thuần gần như đã kịch trần, như vậy sử dụng lúa lai là con đường tốt
nhất đảm bảo an ninh lương thực.
Lúa lai có thể cho năng suất tăng hơn từ 20%-30% so với lúa thường và
đã được Trung Quốc là nước đầu tiên trên thế giới sử dụng ưu thế lai ở lúa
vào sản xuất đại trà. Nhờ mở rộng diện tích gieo cấy lúa lai nhanh chóng, nên
mặc dù diện tích lúa của Trung Quốc đã giảm đi một cách rõ rệt từ 36,5 triệu
ha năm 1975 xuống còn 30,5 triệu ha năm 2000 nhưng sản lượng lúa tăng lên
đáng kể theo các năm từ 128,726 triệu tấn (1975) lên 190,111 triệu tấn
(2000), trong đó đóng góp của lúa lai (tính đến năm 1990) đã làm tăng thêm
300 triệu tấn thóc, nhờ vậy mà Trung Quốc vẫn có thể nuôi hơn 1 tỷ người
(chiếm trên 22% dân số thế giới) và đạt được an ninh lương thực quốc gia
trong tình trạng diện tích đất trồng trọt ngày càng giảm (chiếm khoảng 7%

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 4


diện tích đất trồng thế giới). Chương trình lúa lai đã góp phần đẩy nhanh tốc
độ tăng năng suất từ 3,5 tấn/ha lên 6,2 tấn/ha trong khoảng thời gian 25 năm
(Nguyễn Văn Bộ và cs., 2003).
Theo FAO (2011), sản xuất lúa toàn cầu với diện tích 164,1 triệu ha và
được phân bố ở tất cả các châu lục gồm 121 quốc gia. Châu Âu có số nước

Nguyên như: Quảng Nam, Đak Lak. Ở một số vùng có trình độ thâm canh
cao, năng suất lúa lai đã đạt được 13 - 14 tấn/ha/vụ (Trương Đích, 2002;
Nguyễn Văn Hoan và Vũ Hồng Quảng, 2005).
Đặc biệt trong chiến lược tạo giống lúa lai có thời gian sinh trưởng
ngắn (90-100 ngày) không những giúp cho việc tăng vụ mà còn đảm bảo cho
việc trồng lúa trước và sau mưa lũ ở đồng bằng sông Cửu Long là một thành
công được nhiều nước trong khu vực quan tâm và đánh giá cao. Từ chỗ phải
nhập khẩu, đến nay Việt Nam đã tự sản xuất được một phần giống lúa lai và
trong những năm gần đây Việt Nam tự sản xuất khoảng 18% nhu cầu trong
năm 2009 và những năm tiếp theo phấn đấu sản xuất hạt lai nhiều hơn phục
vụ sản xuất.
Với những thành tựu đạt được trong phát triển sản xuất lúa lai thương
phẩm, Việt Nam được tổ chức FAO đánh giá rất cao coi là nước đứng thứ 3
sau thành công của Trung Quốc và Ấn Độ.
1.2.1 Tình hình sản xuất lúa lai của tỉnh Bắc Ninh.
Sản xuất lúa lai, lúa chất lượng luôn được sự quan tâm, chỉ đạo sát sao
của các cấp, các ngành từ tỉnh đến cơ sở. Trong những năm qua, UBND tỉnh,
huyện luôn có chính sách hỗ trợ nhằm khuyến khích nông dân mở rộng sản
xuất lúa lai. Sau 5 năm thực hiện chủ trương cải tạo cơ cấu giống lúa của Tỉnh
ủy, từ năm 2008 đến năm 2012, sản xuất lúa lai đã có những bước tiến rõ rệt.
Diện tích lúa lai tăng từ 9.964,8ha năm 2008 - năm đầu tiên thực hiện chủ
trương cải tạo cơ cấu giống lúa lên 22.302,1ha năm 2012, tăng 12.337,3ha so
với năm 2008 với tốc độ tăng trưởng bình quân năm là 17,48%. Trong đó, lúa
lai được gieo cấy chủ yếu trong vụ xuân, tỷ lệ diện tích lúa lai trong vụ xuân
đã tăng từ 14,5% năm 2008 lên 47,5% năm 2012, tăng 33%. Giống chủ lực là:

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 6



(tạ/ha)

(tấn)

2008

76.223,0

57,0

434.283,4

9.964,8

69,0

68.715,3

2009

74.821,0

59,5

444.820,7

15.004,8

73,6


2012

73.021,5

62,9

459,157,3

22.302,1

72,9

162.607,8

(Nguồn: Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Bắc Ninh, 2013)

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 7


Trong 5 năm qua, sản xuất lúa lai đã làm tăng 137.257 tấn lương thực
so với chỉ cấy lúa thuần, đưa sản lượng lương thực của tỉnh năm 2012 lên
459.157,3 tấn, tăng 38.747,6 tấn so với năm 2007 (tăng 9%) trong khi diện
tích lúa cả năm 2012 giảm 5.432,5 ha (giảm 7%) so với năm 2007.
1.2.2 Tình hình sản xuất lúa lai của huyện Tiên Du
Thông qua số liệu thống kê của Chi cục thống kê huyện Tiên Du cho
thấy: Nhìn chung trong 5 năm gần đây, từ 2009-2013, diện tích canh tác lúa
lai của huyện luôn đạt ở mức cao (đạt >30% tổng diện tích). Năm 2013,


Năm 2010

8.531

3.194

37,4

Năm 2011

8.489

3142

37,0

Năm 2012

8.425

3.649

43,3

Năm 2013

8.332

3.293

(ha)

Lúa lai

Lúa thuần

Năm 2009

2.073

70,8

65,6

481

61,8

58,1

Năm 2010

2.284

69,2

64,4

910


55,9

Năm 2013

2.579

72,4

67,5

714

57,8

52,1

Nguồn: Chi cục thống kê huyện Tiên Du (2013)

Như vậy, có thể khẳng định việc phát triển sản xuất lúa lai có vai trò và ý
nghĩa lớn trong việc nâng cao năng suất, sản lượng lúa, đảm bảo an ninh
lương thực, nhất là trong điều kiện diện tích đất canh tác ngày càng giảm như
hiện nay của tỉnh Bắc Ninh nói chung và của huyện Tiên Du nói riêng.
Tuy nhiên giống lúa lai phục vụ sản xuất hiện nay chủ yếu được nhập
khẩu, giá thóc giống cao, số lượng và chất lượng giống không ổn định. Do
đó việc nghiên cứu và hoàn thiện quy trình kỹ thuật sản xuất các giống lúa
lai trong nước nhằm nâng cao năng suất, sản lượng đồng thời giảm thiểu sự
phụ thuộc nước ngoài là vô cùng quan trọng nhất là trong điều kiện của tỉnh
Bắc Ninh.
1.3. Cơ sở thực tiễn của đề tài
Lúa lai không những cho năng suất cao và ổn định ở các vùng sinh thái

hiện đồng nhất, có năng suất cao, chất lượng tốt, chống chịu sâu bệnh khoẻ,
thích ứng rộng. Do kiểu hình chỉ biểu hiện đồng nhất ở thế hệ F1 nên khác với
lúa thường, lúa lai chỉ sử dụng hạt giống một lần mới cho ƯTL cao, không thể
gieo lại lần thứ hai vì ở thế hệ này các cá thể phân ly đa dạng (Nguyễn Thị
Trâm, 2002).
Việc tìm ra lúa lai là một thành tựu rực rỡ của loài người. Nhà khoa học
người Mỹ J.W Jone là người đầu tiên đề cậpđến ưu thế lai của các tính trạng
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 10


số lượng và năng suất của lúa (vào năm 1926). Tiếp sau đó, nhiều công trình
nghiên cứu đi sâu đề cập đến bản chất của ưu thế lai, cách khai thác ưu thế lai
với mục tiêu chọn ra các giống có những giống có ưu thế về năng suất, chất
lượng và khả năng chống chịu.
Việc nghiên cứu và mở rộng sản xuất hạt lai F1 và lúa lai thương phẩm
được đề xuất từ rất sớm, nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học
các nước trồng lúa Sampath.S, Mohathy H.K, (1954); Kawano, (1960);
Jenning, (1969); Swaminathan và cộng sự, (1972), các nhà khoa học viện
nghiên cứu lúa quốc tế IRRI như: Athwal và Virmani, (1972), các nhà khoa
học Nhật Bản Shinjio và Umura, (1996) và nhiều nhà khoa học ở các nước
khác. Tuy nhiên, các nhà khoa học chưa tìm ra phương pháp thích hợp để sản
xuất hạt lai nên họ đã không thành công.
Năm 1964, Yuan Long Ping và cộng sự đánh dấu sự bắt đầu nghiên cứu
lúa lai ở Trung Quốc. Tại đảo Hải Nam họ đã phát hiện được cây lúa dại bất
dục trong loài lúa dại Oryzae fatuaspontanea, sau đó họ đã chuyển được tính
bất dục đực hoang dại này vào lúa trồng và tạo ra những vật liệu di truyền
hoàn toàn mới giúp cho việc khai thác ưu thế lai thương phẩm. Quy trình sản
xuất lúa lai ba dòng được bắt đầu thử nghiệm. Năm 1973 lô hạt giống F1 đầu

Indonesia, theo Suprihetno B et al. (1994) nghiên cứu và phát triển lúa
lai bắt đầu từ năm 1983 và đánh giá sử dụng nhiều dòng CMS vào chương
trình chọn tạo lúa lai. Năm 1979, IRRI đã tiến hành nghiên cứu lúa lai một
cách hệ thống (Nguyễn Công Tạn và công sự, 2002).
Từ năm 1980-1985 đã có 17 quốc gia nghiên cứu và sản xuất lúa lai.
Diện tích gieo trồng lúa lai đạt tới 10% tổng diện tích lúa toàn thế giới chiếm
khoảng 20% tổng sản lượng.
Từ năm 1970-1980, Ấn Độ đã nghiên cứu về lúa lai và được tiến hành ở
các trường đại học, các viện nghiên cứu. Đến năm 1989, chương trình nghiên
cứu lúa lai mới được phát triển. Năm 1990-1997, Ấn Độ đã công nhận 16
giống lúa quốc gia và đưa vào sản xuất đại trà như các giống APHR1, MGR1
và KRH1. Trong các thí nghiệm đồng ruộng, các tổ hợp lai này cho năng suất
cao hơn các giống lúa thuần từ 16-40% (Nguyễn Công Tạn và công sự, 2002).
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 12


Bên cạnh việc phát triển lúa lai ba dòng, một số kết quả trong nghiên
cứu lúa lai hai dòng đã được công bố. Năm 1973, Shi Ming Song đã phát hiện
được dòng bất dục đực di truyền nhân mẫn cảm với quang chu kỳ (PGMS) từ
quần thể Nông Ken 58S (Virmani S.S., 1996; Zhou C.S., 2000).
Năng suất lúa lai hai dòng tại Trung quốc đã vượt lúa lai 3 dòng bình
quân 10%. Do vậy chiến lược phát triển lúa lai tại Trung quốc trong những
năm đầu thế kỷ XXI là phát triển hệ thống lúa lai hai dòng đặc biệt là lai giữa
các loài phụ.
Lúa lai hai dòng ở Trung quốc được đưa vào sản xuất đại trà từ năm
1995. Thời gian đầu tốc độ mở rộng diện tích còn chậm do chưa tìm được các
tổ hợp có ưu thế lai cao. Thành công của Trung tâm nghiên cứu và phát triển
lúa lai quốc gia Trung quốc trong việc tạo ra các tổ hợp siêu lúa lai đã giúp

Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội, Viện Cây Lương thực và cây thực phẩm,
Viện Bảo vệ thực vật, Viện Nghiên cứu lúa Đồng bằng sông Cửu Long, Viện
Nông hoá thổ nhưỡng và Trung tâm Khảo kiểm nghiệm giống cây trồng Trung
ương. Đây cũng là năm đề tài cấp nhà nước về lúa lai được hình thành trong 3
năm 1992- 1995, tại Viện KHKTNN Việt Nam đã bước đầu đạt được những
kết quả trong công tác thu thập và tạo nguồn vật liệu cho chọn giống lúa lai.
Viện đã chọn lọc và duy trì 9 dòng CMS có độ bất dục ổn định, có đặc tính nở
hoa thuận lợi và có tiềm năng năng suất cao. Trong đó có 4 dòng được nhập nội
từ Trung Quốc (Z97A, BoA, TeA, Kim23A), đây là các dòng mẹ của các tổ
hợp lai Shan ưu 63 (Tạp giao 1), San ưu Quế 99 (tạp giao 5), Kim ưu Quế 99,
Bắc ưu 64 (tạp giao 4), Đặc ưu 63 (Nguyễn Công Tạn và công sự, 2002).
Năm 1994, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quyết định thành
lập Trung tâm Nghiên cứu lúa lai thuộc Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp
Việt Nam thì công tác nghiên cứu lúa lai được định hướng rõ ràng. Các dòng
bất dục đực tế bào chất, dòng duy trì và dòng phục hồi nhập nội từ Trung
Quốc và IRRI đã được đánh giá đầy đủ và nhiều thực nghiệm sản xuất hạt lai
F1 được triển khai ở các địa phương (Nguyễn Công Tạn và công sự, 2002,
Nguyễn Thị Gấm, 1996).
Đối với lúa lai ba dòng, các nhà nghiên cứu đã thu thập và đánh giá sự
thích ứng của 77 dòng mẹ bất dục đực CMS, 77 dòng duy trì tương ứng và rất
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 14


nhiều dòng phục hồi từ Viện nghiên cứu lúa quốc tế (IRRI), Trung Quốc, Ấn
Độ. Các Viện, trường đã nghiên cứu và duy trì được các nguồn này. Những
dòng CMS, dòng bố tốt được sử dụng lai tạo ra các tổ hợp lúa lai mới thực
hiện ở Việt Nam, được sử dụng ngoài sản xuất: IR58025A, IRR58025B.
Những dòng CMS có độ bất dục ổn định được sử dụng lai tạo giống mới:

CL64S/VN292, CL64S/BM9820, phục vụ cho công tác chọn tạo giống. Phân
lập từ vật liệu phân ly nhập nội chọn tạo ra các dòng TGMS: CL64S, P47S,
7S, AMS27S, 11S, 534S (AMS29S), 827S (AMS30S) đưa vào lai tạo giống
lúa lai 2 dòng (Nguyễn Trí Hoàn, 2007, Nguyễn Thị Trâm và công sự, 1996,
1998, Hà Văn Nhân, 2000).
Thông qua nuôi cây bao phấn, Viện cây lương thực và cây thực phẩm
đã chọn được các dòng TGMS như: CNSH1, CNSH2, TGMSH20, TGMSH7;
Viện Di truyền nông nghiệp chọn được 2 dòng TGMSCN1 và TGMSCN2. Từ
nguồn vật liệu phân ly nhập nội đã phân lập được các dòng TGMS: CL64S,
T47S, 7S, AMS27S, 11S, 534S, 827S để đưa vào lai tạo giống lúa lai hai
dòng (Nguyễn Công Tạn và cộng sự, 2002).
Trong kết quả lai tạo bố mẹ có gen tương hợp rộng. Dòng Peiai 64S có
gen tương hợp rộng WCG được lai với các dòng TGMS (T1S-96, 7S, 21S,
827S, 534S). Kết quả cũng lai tạo được 7 dòng bố tốt có gen tương hợp rộng.
Đây là những vật liệu rất cần thiết cho phát triển lúa lai Indica/Japonica hay
còn gọi là lúa lai siêu cao sản trong những năm sắp tới. Ở Viện Di truyền
Nông nghiệp trong giai đoạn 2001- 2005 đã lai tạo được 4 dòng TGMS mới là
D101S, D102S, D103S và TGMS 18-2 (Trần Duy Quý, 2002).
Bước đầu sử dụng dòng Peiai 64S có gen tương hợp rộng để lai với các
dòng TGMS hoặc giống lúa thường, chọn ra các dòng TGMS có gen tương
hợp rộng phục vụ công tác chọn tạo giống lúa lai siêu cao sản trong những
năm tới. Đồng thời với việc chọn tạo các dòng TGMS, các cơ quan nghiên cứu
cũng chọn được hơn 200 dòng R và dòng bố mới trong đó có 22 dòng kháng
được rầy nâu, bệnh bạc lá và đạo ôn (Nguyễn Trí Hoàn, 2007).
Hiện nay các nhà khoa học Việt Nam đã chọn tạo được khoảng 20 dòng
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 16



2001

480.000

60,9

300.000

66,0

180.000

52,5

2002

500.000

60,6

300.000

65,0

200.000

53,9

2003


60,5

353.000

65,0

200.000

52,5

2006

572.700

62,3

342.700

67,1

230.000

55,2

2007

620.000

61,0


67,3

305.655

55,3

2010

605.642

64,1

374.342

68,5

231.200

56,9

2011

595.000

64,0

395.190

70,0



Page 17


Trích đoạn Phương pháp nghiên cứu Mức độ nhiễm sâu bệnh Vũ Hữu Yêm (1998), Phân bón và cách bón phân, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status