BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
-----------------
NGUYỄN THỊ MAI LINH
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM TỔ CHỨC THỰC HIỆN KẾ TOÁN
QUẢN TRỊ TẠI CÔNG TY DU LỊCH HẢI PHÒNG
LUẬN VĂN THẠC SỸ KỸ THUẬT
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS NGUYỄN VĂN NGHIẾN
HÀ NỘI - 2004
1
LỜI NÓI ĐẦU
Kế toán là một công cụ quản lý quan trọng. Để kế toán có thể phát huy
tốt nhất chức năng thông tin và kiểm tra của mình thì cần phải xây dựng một
hệ thống kế toán hoàn chỉnh, tức là:
- Hướng về các quá trình và sự kiện kinh tế đã xảy ra (hướng về quá
khứ).
- Giúp hoạch định, tổ chức, điều hành, kiểm soát và đưa ra được các
quyết định đúng đắn (hướng về tương lai).
Ở nước ta hiện nay, nhận thức và hiểu biết về kế toán quản trị vẫn còn
nhiều hạn chế và chưa hoàn toàn thống nhất cả về lý luận lẫn thực tiễn. Khái
niệm “kế toán” để nói về hệ thống kế toán doanh nghiệp từ trước đến nay chỉ
đề cập chủ yếu đến kế toán tài chính mặc dù hệ thống kế toán doanh nghiệp
ứng với điều kiện và môi trường hoạt động của Công ty du lịch Hải Phòng, từ
đó góp phần hoàn thiện tính đồng bộ của hệ thống kế toán và nâng cao hiệu
quả quản lý tại công ty
2. Đối tượng nghiên cứu:
Luận văn tập trung nghiên cứu tổ chức công tác kế toán quản trị tại Công
ty du lịch Hải Phòng
3. Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài chỉ giới hạn trong việc nghiên cứu hoàn thiện một số nội dung kế
toán quản trị tại Công ty du lịch Hải Phòng. Cụ thể:
- Thiết lập thông tin kế toán quản trị phục vụ cho việc lập kế hoạch tại
Công ty du lịch Hải Phòng, trong đó đặc biệt quan tâm nghiên cứu về kế
hoạch sản xuất kinh doanh hàng năm.
- Thiết lập thông tin kế toán quản trị phục vụ cho việc điều hành và kiểm
soát quá trình thực hiện kế hoạch, trong đó đặc biệt quan tâm nghiên cứu về
tình hình thực hiện dự toán chi phí và tình hình hoạt động của các trung tâm
trách nhiệm.
Häc viªn: NguyÔn ThÞ Mai Linh
§HBKHN
3
Luận văn chỉ mang tính chất ứng dụng và khả thi tại Công ty du lịch Hải
Phòng, không mang tính chất ứng dụng rộng.
4. Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn sử dụng các phương pháp của hạch toán kế toán, các phương
pháp, kỹ thuật nghiệp vụ cơ bản sử dụng trong kế toán quản trị, các phương pháp
phân tích thống kê, dự báo...
5. Nội dung đề tài:
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của đề tài được trình bày trong
sử, không đủ đáp ứng nhu cầu quản lý của nhà quản trị ở trong doanh nghiệp,
nhất là trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay
1.1.1.2. Phân hệ kế toán quản trị
Theo Luật kế toán số 03/2003/QH11 ngày 17/06/2003:
Kế toán quản trị là việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin
kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong
nội bộ đơn vị kế toán
Như vậy, kế toán quản trị, về bản chất là một bộ phận cấu thành không
thể tách rời của hệ thống kế toán, vì đều làm nhiệm vụ tổ chức hệ thống thông
tin kinh tế trong doanh nghiệp. Kế toán quản trị trực tiếp cung cấp thông tin
cho các nhà quản lý bên trong tổ chức kinh tế - người có trách nhiệm điều
Häc viªn: NguyÔn ThÞ Mai Linh
§HBKHN
5
hành và kiểm soát mọi hoạt động của tổ chức đó đồng thời việc ra quyết định
của họ có tác động đến sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp.
1.1.2. Mối quan hệ giữa kế toán tài chính và kế toán quản trị
Để hiểu sâu hơn về bản chất của kế toán quản trị, phương cách tốt nhất là
nên xuất phát từ sự phân biệt kế toán quản trị với kế toán tài chính. Đây cũng
chính là một trong những yêu cầu cần thiết mang tính thời sự thu hút sự quan
tâm của các chuyên gia kế toán trong việc xác lập nội dung kế toán quản trị và
đưa vào vận dụng ở Việt Nam.
Trong các tài liệu về kế toán quản trị của nước ngoài, các tác giả có
nhiều ý kiến khác nhau khi phân biệt kế toán quản trị và kế toán tài chính
Đối với Việt Nam, trong hội thảo về xây dựng hệ thống kế toán quản trị
được tổ chức vào tháng 5/1996, các chuyên gia kế toán cũng đã bàn bạc, thảo
luận xung quanh việc phân biệt kế toán tài chính và kế toán quản trị.
doanh nghiệp
§HBKHN
6
báo cáo
Kỳ báo cáo
nghiệp
một thể thống nhất
Thường xuyên, tuỳ yêu cầu Định kỳ (quý, năm)
quản lý
- Đối tượng nghiên cứu đặc - Tài sản và sự biến động
trưng là chi phí
của tài sản trong mối quan
- Đồng thời nghiên cứu chi tiết hệ giữa hai mặt: vốn và
hơn về sự tuần hoàn của tài sản nguồn hình thành
Đối tượng
nghiên cứu
trong quá trình tái sản xuất cụ - Quá trình cung cấp, sản
thể ở từng giai đoạn: cung cấp, xuất và tiêu thụ của doanh
sản xuất và tiêu thụ nhằm xác nghiệp
định được chi phí, doanh thu và - Các quan hệ kinh tế lợi nhuận chi tiết theo từng đối pháp lý phát sinh trong
hướng về tương lai
quá khứ
Các nguyên
Do người quản lý quyết định, Tuân theo các nguyên tắc,
tắc cung cấp
hữu ích cho quản lý, không có chuẩn mực kế toán
thông tin
nguyên tắc chung
Häc viªn: NguyÔn ThÞ Mai Linh
§HBKHN
7
Mức độ
chính xác
Tính pháp lý
Chú trọng tính kịp thời, ít chú Tính chính xác cao hơn
trọng tính chính xác
Thông tin không có tính pháp Thông tin có tính pháp lý
lý
toán quản trị
1.2.1. Phương pháp nghiệp vụ của kế toán quản trị
Là một bộ phận của hệ thống kế toán, nên về nguyên tắc kế toán quản
trị cũng sử dụng các phương pháp cơ bản giống như kế toán tài chính, đó là:
phương pháp chứng từ, phương pháp đối ứng tài khoản, phương pháp tính giá
và phương pháp tổng hợp cân đối.
Nghiệp vụ kinh tế phát sinh
Hệ thống kế toán
Ghi chép
Phân loại
Tổng hợp
Cung cấp hệ thống dữ liệu
Lập báo cáo cho các
Lập kế hoạch hoạt
Kiểm soát kết
thành phần bên
động SXKD ngắn
quả hoạt
KẾ TOÁN TÀI CHÍNH
phụ thuộc vào yêu cầu quản lý cụ thể của đơn vị.
1.2.1.4. Phương pháp tổng hợp cân đối
Kế toán quản trị sử dụng hệ thống báo cáo kế toán quản trị giúp cho nhà
quản lý thấy được những gì đã, đang và sẽ diễn ra trong hoạt động của doanh
nghiệp gắn liền với từng bộ phận, từng chức năng nhất định
1.2.2. Các kỹ thuật nghiệp vụ cơ bản của kế toán quản trị
Có thể nói kế toán quản trị là một chuyên ngành - hay là một môn học
được tổng hoà và tích hợp bởi kiến thức của tất cả các môn học, bởi lẽ trong
quá trình hình thành và phát triển của mình, kế toán quản trị có sự giao thoa
với rất nhiều ngành học khác. Vì vậy, ngoài những kiến thức kinh tế cần thiết
Häc viªn: NguyÔn ThÞ Mai Linh
§HBKHN
10
về thống kê, quản trị doanh nghiệp, kinh tế vi mô, Marketing... và đặc biệt
hơn hết là kiến thức về phân tích hoạt động kinh doanh, thì các nhân viên kế
toán quản trị cần phải biết sử dụng các kỹ thuật nghiệp vụ cơ bản sau đây như
là những cẩm nang để có thể nghiên cứu và làm việc có hiệu quả trong lĩnh
vực kế toán quản trị
1.2.2.1. Thiết kế thông tin dưới dạng so sánh được
Thông tin sẽ vô dụng nếu thiếu các tiêu chuẩn để so sánh với nó. Vì vậy,
để làm cho thông tin thành dạng có ích đối với nhà quản trị thì với các số liệu
thu thập được, các kế toán viên quản trị cần phải có khả năng phân tích và
thiết kế chúng thành dạng so sánh được
1.2.2.2. Phân loại chi phí đáp ứng mục tiêu quản lý cụ thể
Hầu hết các quyết định quản trị đều có liên quan đến chi phí sản xuất
kinh doanh. Vì vậy, các kế toán viên quản trị phải có khả năng phân loại chi
phí sao cho hữu ích và thích hợp với nhu cầu quản trị
doanh.
Thông thường có 2 loại dự toán ngân sách chủ yếu:
Dự toán ngân sách ngắn hạn: còn được gọi là dự toán ngân sách chủ đạo
(Master Budget), đây là dự toán ngân sách được lập cho kỳ kế hoạch là một
năm và được chia ra thành từng thời kỳ ngắn hơn là từng quý, từng tháng phù
hợp với kỳ kế toán của doanh nghiệp nhằm thuận tiện cho việc đánh giá giữa
kết quả thực hiện và kế hoạch. Dự toán này thường liên quan đến các hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp như mua hàng, bán hàng, sản xuất, thu,
chi…Đặc điểm cơ bản của dự toán này là được lập hàng năm trước khi niên
độ kế toán kết thúc, nó định hướng cho hoạt động của doanh nghiệp trong
năm kế hoạch tiếp theo
Dự toán ngân sách dài hạn: còn được gọi là dự toán vốn (Capital
Budget), đây là dự toán được lập liên quan đến tài sản cố định. Dự toán này là
việc sắp xếp các nguồn lực về tiền để thu được số lợi nhuận dự kiến trong
tương lai nhiều năm. Đặc điểm cơ bản của dự toán này là: lợi nhuận dự kiến
khá lớn, mức độ rủi ro tương đối cao và thời gian kể từ lúc đưa vốn vào hoạt
Häc viªn: NguyÔn ThÞ Mai Linh
§HBKHN
12
động đến thời điểm thu được lợi nhuận dự kiến tương đối dài. Dự toán vốn
liên quan đến việc ra quyết định đầu tư dài hạn nên cần phải có một sự phân
tích, thẩm định hiệu quả tài chính dự án đầu tư một cách khoa học.
1.3.1.2. Các mô hình lập dự toán
Việc lập dự toán dựa trên cơ sở các mô hình thông tin như sau:
• Mô hình thông tin 1 xuống
Quản lý cấp cao
13
Quản lý cấp cao
Quản lý cấp trung gian
Quản lý cấp trung gian
Quản lý cấp
Quản lý
Quản lý
Quản lý
cơ sở
cấp cơ sở
cấp cơ sở
cấp cơ sở
Theo mô hình này việc lập dự toán theo trình tự như sau:
- Các chỉ tiêu dự toán được ước tính từ ban quản lý cao nhất trong đơn vị
mang tính dự thảo, được phân bổ xuống các đơn vị trung gian. Trên cơ sở đó
cấp trung gian phân bổ cho các đơn vị cấp cơ sở
- Các bộ phận quản lý cấp cơ sở căn cứ vào các chỉ tiêu dự thảo, căn cứ
có thể kéo dài nếu tổ chức quá trình lập dự toán thực hiện không được tốt, sẽ
không cung cấp thông tin kịp thời cho kỳ kế hoạch.
• Mô hình thông tin 1 lên, 1 xuống:
Quản lý cấp cao
Quản lý cấp trung gian
Quản lý cấp
cơ sở
Quản lý cấp
cơ sở
Quản lý cấp trung gian
Quản lý cấp
cơ sở
Quản lý cấp
cơ sở
Theo mô hình này, dự toán được lập từ cấp quản lý cấp thấp đến cấp
quản lý cao nhất. Các bộ phận quản lý cấp cơ sở căn cứ vào khả năng điều
kiện của mình để lập các chỉ tiêu dự toán và được trình lên cấp quản lý cao
hơn (bộ phận cấp trung gian). Trên cơ sở tổng hợp các chỉ tiêu dự toán ở các
cấp cơ sở, cấp trung gian tổng hợp các chỉ tiêu dự toán ở bộ phận mình để
trình lên bộ phận quản lý cấp cao. Bộ phận quản lý cấp cao tổng hợp các chỉ
Häc viªn: NguyÔn ThÞ Mai Linh
§HBKHN
Dự toán bảng
cân đối tài sản
Sơ đồ 1.2: Hệ thống dự toán ngân sách hàng năm trong doanh nghiệp
thương mại
Häc viªn: NguyÔn ThÞ Mai Linh
§HBKHN
20
Biểu 1.2: Các chỉ tiêu đo lường thành quả hoạt động của các trung tâm trách nhiệm
Về hiệu năng hoạt động
định
mức
Chênh lệch số lượng sản phẩm sản xuất = Số
lượng sản phẩm sản xuất thực tế - Số lượng sản
phẩm sản xuất dự toán
Sai biệt chi phí = Chi phí thực tế - Chi phí định mức
Phân tích biến động chi phí, xác định các nguyên nhân chủ quan,
khách quan tác động đến tình hình thực hiện định mức chi phí
P
tự do
Được đánh giá thông qua việc so sánh giữa đầu
TTC
TTCP
Về hiệu quả hoạt động
doanh thu
Các chỉ tiêu đo lường thành quả
lợi nhuận
Trung tâm
Trung tâm
Trung tâm chi phí
Trung tâm
trách nhiệm
Được đo lường giống như trung tâm lợi nhuận
đầu tư
Trung tâm
21
So sánh lợi nhuận đạt được với tài sản hay giá trị đã đầu tư vào
trung tâm. Cụ thể sử dụng các chỉ tiêu sau:
hàng
và chi
phí
quản
lý
doanh
nghiệp
Dự toán chi
phí sản
xuất chung
Dự toán giá vốn
hàng bán
Dự toán tiền
Dự toán báo cáo
kết quả kinh doanh
Dự toán bảng
cân đối tài sản
Sơ đồ 1.3: Hệ thống dự toán ngân sách hàng năm trong doanh nghiệp
sản xuất - dịch vụ
Từ hai sơ đồ trên ta thấy:
Dự toán tiêu thụ là dự toán chủ yếu của toàn hệ thống và đó chính là dự
toán cần lập đầu tiên. Dự toán tiêu thụ là nền tảng để lập các dự toán khác của
doanh nghiệp, vì vậy đòi hỏi các doanh nghiệp phải tìm hiểu nhu cầu, thị hiếu
của người tiêu dùng, kết hợp với năng lực của mình để lên kế hoạch và lập dự
toán tiêu thụ cho sát với tình hình thị trường.
Dự toán tiêu thụ là căn cứ để ra quyết định về sản lượng sản xuất trong
trong toàn tổ chức. Các cấp quản lý khác nhau được quyền ra quyết định liên
quan đến phạm vi trách nhiệm của họ
Mục đích của kế toán trách nhiệm là đo lường, qua đó đánh giá trách
nhiệm quản lý và kết quả hoạt động của từng bộ phận trong việc thực hiện
Häc viªn: NguyÔn ThÞ Mai Linh
§HBKHN
18
mục tiêu chung của toàn doanh nghiệp. Việc đánh giá này thường dựa trên hai
tiêu chí là hiệu quả (effectiveness) và hiệu năng (efficiency).
Hiệu quả: có được khi đạt được mục tiêu đặt ra mà chưa kể đến việc sử
dụng tài nguyên như thế nào, nó được tính toán bằng việc so sánh giữa kết
quả đạt được với mục tiêu đề ra cho trung tâm trách nhiệm đó
Hiệu năng: là tỷ lệ giữa kết quả thực tế đạt được so với nguồn tài nguyên
thực tế mà trung tâm trách nhiệm đã sử dụng để tạo ra kết quả đó
1.3.2.2. Kế toán các trung tâm trách nhiệm
Từ các vấn đề khái quát trên, có thể xác định các nội dung cơ bản để
thực hiện hệ thống kế toán trách nhiệm bao gồm những vấn đề cụ thể sau:
• Xác định các trung tâm trách nhiệm:
Trung tâm trách nhiệm là một bộ phận phụ thuộc trong tổ chức mà người
quản lý ở đó có quyền và trách nhiệm đối với kết quả tài chính của các hoạt
động thuộc phạm vi mình quản lý
"Đầu ra" của một trung tâm trách nhiệm sẽ là hàng hoá hay dịch vụ mà
nó cung cấp, và như vậy nó sẽ cần "đầu vào" bao gồm các yếu tố nguyên liệu,
nhân công để thực hiện "đầu ra".
Căn cứ vào sự khác biệt trong việc lượng hoá đầu vào và đầu ra của các
trung tâm trách nhiệm cũng như mức độ trách nhiệm của người quản lý trung
Ví dụ: bộ phận tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp là một trung tâm
doanh thu, trong đó trưởng phòng chỉ chủ động và chịu trách nhiệm về doanh
thu mà không chịu trách nhiệm về giá thành sản xuất
Trung tâm lợi nhuận: là trung tâm trách nhiệm mà người quản lý trung
tâm phải chịu trách nhiệm về lợi nhuận phát sinh trong đơn vị mình, vì vậy
đặc điểm của trung tâm lợi nhuận là đầu ra và đầu vào đều có thể lượng hoá
được bằng tiền
Trung tâm đầu tư: là trung tâm trách nhiệm không những lượng hoá
được bằng tiền đầu vào và đầu ra mà cả lượng tài sản đầu tư vào trung tâm
nữa. Nói cách khác, ngoài chi phí và doanh thu, trung tâm còn tính đến lượng
tài sản được sử dụng trong bộ phận. Như vậy, đối với trung tâm đầu tư, giám
Häc viªn: NguyÔn ThÞ Mai Linh
§HBKHN
20
đốc trung tâm quyết định và chịu trách nhiệm không chỉ về lợi nhuận mà cả
về việc mua sắm tài sản phục vụ cho sản xuất kinh doanh của trung tâm nữa.
• Xác định các chỉ tiêu đo lường thành quả hoạt động của các trung
tâm trách nhiệm:
Thành quả của mỗi trung tâm trách nhiệm được tổng hợp định kỳ trên
một báo cáo thành quả. Báo cáo thành quả sẽ phản ánh kết quả tài chính chủ
yếu theo thực tế và theo dự toán, đồng thời chỉ ra các chênh lệch giữa kết quả
thực tế so với dự toán theo từng chỉ tiêu được chuyển tải trong báo cáo phù
hợp với từng loại trung tâm trách nhiệm.
Hoạt động của các trung tâm trách nhiệm thường được xem xét trên cả
hai mặt, đó là hiệu quả và hiệu năng, và việc đánh giá hai tiêu chí này sẽ được
thực hiện trên cả hai mặt định tính và định lượng. Trong đó, việc đánh giá về
mặt định tính sẽ được thực hiện thông qua các bảng điều tra khảo sát thăm dò
22
Biểu 1.3: Khái quát về trách nhiệm của các trung tâm đối với mục tiêu chung
Trung
Trách nhiệm đối với mục tiêu chung
tâm trách
nhiệm
- Hoàn thành kế hoạch sản xuất
Trung
- Hoàn thành định mức và dự toán chi phí
tâm
- Kiểm soát chi phí trong mối quan hệ với doanh thu ước tính,
chi
góp phần gia tăng lợi nhuận
phí
- Xác định các nguyên nhân chủ quan, khách quan tác động đến
tình hình thực hiện các định mức và dự toán chi phí
- Hoàn thành dự toán về tiêu thụ sản phẩm
Trung