HOÀN THIỆN ĐÁNH GIÁ SINH VIÊN BẰNG PHƯƠNG PHÁP TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN THEO HƯỚNG TIẾP CẬN NĂNG LỰC ĐÁP ỨNG CHUẨN ĐẦU RA TẠI KHOA KINH TẾ CƠ SỞ - TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ KỸ THUẬT CÔNG NGHIỆP - Pdf 51

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HỌC VIỆN QUẢN LÝ GIÁO DỤC
-------o0o-------

BÀI TIỂU LUẬN CUỐI KHÓA
HOÀN THIỆN ĐÁNH GIÁ SINH VIÊN BẰNG PHƯƠNG PHÁP
TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN THEO HƯỚNG TIẾP CẬN NĂNG
LỰC ĐÁP ỨNG CHUẨN ĐẦU RA TẠI KHOA KINH TẾ CƠ SỞ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ KỸ THUẬT CÔNG NGHIỆP

HỌC VIÊN: PHẠM THỊ NGOAN
Giảng viên Khoa Kinh tế Cơ sở
Trường Đại học Kinh Tế Kỹ thuật Công nghiệp

HÀ NỘI, THÁNG 8/2017
1


1. PHẦN MỞ ĐẦU
Quá trình đổi mới giáo dục – đào tạo ở nước ta đã và đang đặt ra những yêu cầu
mới về nội dung và chương trình đào tạo ở các bậc học trong hệ thống giáo dục quốc
dân. Mặc dù vậy, chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011 – 2020 đã chỉ ra một số
tồn tại của lĩnh vực này như: “Nội dung chương trình, phương pháp dạy và học, công
tác thi, kiểm tra, đánh giá chậm được đổi mới. Nội dung chương trình còn nặng về lý
thuyết… nhà trường chưa gắn chặt với đời sống kinh tế, xã hội; chưa chuyển mạnh
sang đào tạo theo nhu cầu xã hội; chưa chú trọng giáo dục kỹ năng sống, phát huy tính
sáng tạo, năng lực thực hành của học sinh, sinh viên” (Chính phủ, 2011). Thực tế đã
cho thấy, công tác đánh giá sinh viên hết sức quan trọng và luôn được các trường quan
tâm hàng đầu. Phương pháp trắc nghiệm khách quan là một trong những dạng trắc
nghiệm viết, kỹ thuật trắc nghiệm này được dùng phổ biến để đo lường năng lực của
con người trong nhận thức, hoạt đông và cảm xúc. Phương pháp trắc nghiệm khách
quan đã được ứng dụng rộng rãi trong lĩnh vực như y học, tâm lý, giáo dục … ở nhiều

trường liên tục phát triển bền vững với những thành tích vẻ vang trong sự nghiệp đào
tạo, phát triển nguồn nhân lực cho đất nước.
a. Sứ mạng: Đào tạo nguồn nhân lực chuyên môn cao, có khả năng ứng dụng nghề
nghiệp sát với thực tiễn trong các lĩnh vực kinh tế, kỹ thuật, nghiên cứu khoa học và
chuyển giao công nghệ, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của ngành Công Thương và
cả nước.
b. Tầm nhìn phát triển: Đến năm 2020, Trường Đại học Kinh tế - Kỹ thuật Công
nghiệp trở thành một trường đại học hiện đại, có môi trường văn hóa thân thiện, đáp
ứng đầy đủ các tiêu chí về kiểm định chất lượng. Nhà trường tổ chức đào tạo, nghiên
cứu khoa học, chuyển giao công nghệ và cung ứng dịch vụ về lĩnh vực kinh tế, kỹ
thuật có chất lượng, uy tín trong và ngoài nước.
c. Giá trị cốt lõi:
- Tạo môi trường thuận lợi để mọi người yên tâm công tác lâu dài, phát huy tài năng,
tính sáng tạo.
- Mang lại cho người học môi trường học tập, nghiên cứu tiên tiến để nâng cao kiến
thức, phát triển kỹ năng, sáng kiến lập nghiệp, cạnh tranh được về việc làm và cơ hội
học tập trong môi trường quốc tế.
- Coi trọng chất lượng, hiệu quả, phát triển bền vững, đáp ứng nhu cầu xã hội.
2.1.2 Giới thiệu chung
- Tên khoa: Kinh tế cơ sở
- Trình độ đào tạo: Đại học, Cao đẳng.
- Loại hình đào tạo:
+ Đào tạo Chính quy
3


+ Đào tạo liên thông: Cao đẳng - Đại học;
+ Đào tạo cùng lúc hai chương trình.
+ Đào tạo chất lượng cao.
Khoa Kinh tế cơ sở - Trường Đại học Kinh tế - Kỹ thuật Công nghiệp tiền thân

dụng phương pháp dạy và học tích cực; đề xuất xây dựng kế hoạch bổ sung, bảo trì
thiết bị dạy- học, thực hành;
• Tổ chức biên soạn chương trình, giáo trình môn học do Hiệu trưởng giao;
• Triển khai nhiều hoạt động ngoại khóa nhằm giúp sinh viên hiểu biết thêm
thực tế và nắm được các kỹ năng cần thiết sau khi ra trường.
• Nghiên cứu khoa học:
• Thông báo và triển khai nhiệm vụ khoa học công nghệ của Bộ và các cơ quan
nhà nước khác;
• Đẩy mạnh và nâng cao chất lượng công tác nghiên cứu khoa học của Khoa;
• Triển khai thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học các cấp theo quy định của
trường.
2) Quản lý nguồn nhân lực:
• Quản lý giảng viên, cán bộ và sinh viên thuộc khoa theo phân cấp của Hiệu
trưởng;
• Xây dựng kế hoạch nhân sự của Khoa, tham gia vào công tác tuyển dụng, đảm
bảo nhân sự được tuyển dụng phù hợp với yêu cầu của Khoa;
• Lập kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, phát triển đội
ngũ giảng viên kế cận;
• Phối hợp đánh giá công tác giảng dạy, nghiên cứu khoa học của giảng viên
nhằm đảm bảo chất lượng đội ngũ giảng dạy;
• Xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện công tác giáo dục chính trị, tư tưởng,
đạo đức, lối sống cho đội ngũ giảng viên, cán bộ và sinh viên; tổ chức đào tạo, bồi
dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho giảng viên và cán bộ của Khoa;
• Quản lý cơ sở vật chất, thiết bị của Khoa;
• Quan hệ với các đơn vị và cá nhân ngoài Trường theo đúng quy định hiện
hành của pháp luật nhằm phục vụ thực hiện các chức năng nhiệm vụ của Khoa.
2.1.4 Quy mô và năng lực quản lý
Với một tập thể giáo viên có chuyên môn vững vàng; nhiều Thầy, Cô có kinh
nghiệm giảng dạy, tâm huyết với nghề, hết lòng vì học sinh thân yêu; toàn thể giáo
5

thảo đổi mới phương pháp dạy học, tăng cường những chuyến đi thực tiễn, tiếp cận,
cộng tác với các doanh nghiệp, ngân hàng, tổ chức tín dụng.
- Chuẩn hoá đội ngũ cán bộ giảng dạy cũng như nghiên cứu khoa học, nhằm tạo
ra sự đột phá về đổi mới phương pháp và nâng cao chất lượng ở tất cả các chương
trình đào tạo. Trên cơ sở đó, mở rộng quan hệ hợp tác về đào tạo và nghiên cứu khoa
học với các trường đại học trong và ngoài nước cũng như với các tổ chức quốc tế.
6


2.2. Hoàn thiện đánh giá sinh viên theo phương pháp trắc nghiệm khách quan
theo hướng tiếp cận năng lực đáp ứng chuẩn đầu ra tại Khoa Kinh tế cơ sở Trường Đại học Kinh tế Kỹ thuật công nghiệp.
2.2.1 Thực trạng đánh giá sinh viên theo phương pháp trắc nghiệm khách quan tại
Khoa Kinh tế cơ sở - Trường Đại học Kinh tế Kỹ thuật công nghiệp, Đại học
Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp.
2.2.1.1. Quy trình tiến hành kiểm tra đánh giá
Những cơ sở để xây dựng quy trình kiểm tra đánh giá: Trước khi đi vào các vấn đề
mang tính chất cụ thể Khoa Kinh tế cơ sở nêu ra 5 quy tắc chung
- Đánh giá là một quá trình tiến hành có hệ thống để xác định phạm vi đạt được của
các mục tiêu đã được đề ra. Vì vậy điều tiên quyết là phải xác định rõ mục tiêu đánh
giá là gì?
- Quy trình và công cụ đánh giá phải được chọn theo mục tiêu đánh giá.
- Để đánh giá cần phải có nhiều công cụ và biện pháp tiến hành đồng thời để có giá trị
tổng hợp.
- Biết những hạn chế của từng công cụ đánh giá để sử dụng cho đúng.
- Đánh giá chỉ là phương tiện để đi đến mục đích chứ bản thân nó không phải là mục
đích. Mục đích của đánh giá là để có những quyết định đúng đắn về quá trình dạy học.
Đánh giá là quá trình thu thập thông tin để đi đến ba loại quyết định cụ thể sau
đây:
- Quyết định để cải tiến, hoàn thiện nội dung đào tạo: Quyết định xem tài liệu, phương
pháp, phương tiện nào thích hợp và có cần thay đổi gì không? - Quyết định có liên

- Đề xuất tất cả các mục tiêu, xét các thứ tự ưu tiên cho các mục tiêu.
- Không nên nhằm quá nhiều mục tiêu trong một lần kiểm tra.
- Các mục tiêu này có giá trị như thế nào đối với sinh viên, giáo viên, cán bộ lãnh đạo?
Kết quả nào là chủ yếu?
* Về các môn sử dụng hình thức đánh giá bằng trắc nghiệm trực quan gồm các môn:
- Kinh tế vi mô
- Kinh tế vĩ mô
- Kinh tế quốc tế
- Thống kê doanh nghiệp
* Về nội dung kiểm tra: Nội dung kiểm tra này gồm mấy chủ đề và các yêu cầu cần đạt
của từng chủ đề là gì? Tầm quan trọng của từng chủ đề và các trọng số tương ứng. Tất
8


cả các thông tin này có thể tổng hợp trong bảng đặc trưng của nội dung kiểm tra trong
ví dụ minh hoạ dưới đây.
Nội dung
cần kiểm tra

Trọng số

A
B
C
D
E
F
Tổng số

Yêu cầu về nhận thức và thực hành

4
2
5
5
8
3
21

2
2
6
10

Cách xác định trọng số cho từng chủ đề và cho các yêu cầu về nhận thức thực
hành: Đây là vấn đề phức tạp và phải căn cứ vào mục tiêu đào tạo và quan niệm về
người học (là theo thầy giáo định hướng, hay tự định hướng) và cần đạt được sự thống
nhất trong quan niệm này giữa các giáo viên cùng dạy môn học hay cùng các chủ đề
đó. Chỉ khi có sự thống nhất này thì cách dạy và kiểm tra mới phù hợp với mục tiêu và
nội dung đặt ra cho kiểm tra, rõ ràng đối với giáo viên và sinh viên, cuộc kiểm tra mới
có sự công bằng về nội dung ra đề kiểm tra.
Vì vậy vấn đề thống nhất về trọng số là sự thống nhất về quan niệm của các
giáo viên yêu cầu đối với sinh viên của mình. Tuy nhiên để có cơ sở ban đầu cho việc
thống nhất này, Khoa Kinh tế cơ sở đề xuất một căn cứ để xác định trọng số dựa trên
sự trao đổi với một số giáo viên.
b, Cách xác định trọng số cho từng chủ đề.
+ Căn cứ vào từng chủ đề để so sánh và tuỳ theo tầm quan trọng của nó đối với
các chủ đề khác (để hiểu và vận dụng chủ đề khác).
+ Chủ đề này có cần thiết và được sử dụng hàng ngày trong cuộc sống và công
việc sau này của sinh viên hay không?
+ Kế hoạch thời gian cho chủ đề này.

6. Đánh giá: Đòi hỏi có những hành động về so sánh, phê phán, chọn lọc, quyết
định, đánh giá trên cơ sở các tiêu chí và tính hợp lý. Phải có khả năng tổng hợp để
đánh giá.
Hệ thống phân loại này nhằm cung cấp một hệ thống chi tiết và hợp lý trong
lĩnh vực nhận thức để xây dựng và phân tích các câu hỏi kiểm tra đánh giá theo một
thứ bậc các mục tiêu mong muốn trong giáo dục. Tuy nhiên dù hệ thống phân loại này
sử dụng cho vấn đề gì, các mục tiêu vẫn phải được xác định trước khi chúng được
phân loại và người soạn thảo bộ đề kiểm tra phải nghi nhớ các mục tiêu đó trong khi
viết các câu hỏi. Nguyên tắc phân loại này cũng như bảng đặc trưng kiểm tra có thể
còn có ích cho việc định rõ lại các mục tiêu dạy học đã được thống nhất bằng cách đưa
ra một dãy hành vi có thể được đưa vào trong các mục đích giảng dạy.
10


2.2.3. Quy trình đánh giá sinh viên theo phương pháp trắc nghiệm khách quan tại
Khoa Kinh tế cơ sở - Trường Đại học Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp trong thời
gian tới.
Sơ đồ quá trình xây dựng bộ đề thi trắc nghiệm: Để ứng dụng trắc nghiệm khách
quan đánh giá năng lực nhận thức của người học một việc vô cùng quan trọng là
cần phải xây dựng bộ đề thi trắc nghiệm có chất lượng, có thể mô tả qua lưu đồ
(Flowchart) sau:
Bắt đầu
Xây dựng ngân
hàng câu hỏi, bộ đề
Tổ chức kiểm tra
đánh giá người học

Hoàn thiện câu
hỏi, bộ đề


:Loại bỏ những câu không đạt yêu cầu.
: Đối với những câu, đề đạt yêu cầu, tiến hành hoàn thiện để trở về bước  tiếp tục
kiểm tra, đánh giá.
Quan lưu đồ trên ta thấy quá trình xây dựng và triển khai đánh giá bằng trắc nghiệm
khách quan cần có thời gian chuẩn bị và thực hiện, nó chỉ chấm dứt khi người dạy
nhận thấy hình thức này không còn phù hợp với học phần đang giảng dạy.
2.4. Kết quả đánh giá sinh viên theo phương pháp trắc nghiệm khách quan tại
Khoa Kinh tế cơ sở - Trường Đại học Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp.
2.4.1 Một số ưu nhược điểm của trắc nghiệm khách quan
a.Ưu điểm
- Có thể đo được khả năng tư duy khác nhau. Với việc phối hợp của nhiều
phương án trả lời để chọn cho mỗi câu hỏi giáo viên có thể dùng loại trắc nghiệm để
kiểm tra, đánh giá những mục tiêu giảng dạy, học tập khác nhau như:
+ Xác định mối tương quan nhân quả, nhận biết các điều sai lầm.
+ Ghép các kết quả, hay điều quan sát với nhau, định nghĩa các thành ngữ.
+ Tìm nguyên nhân của một số sự kiện, nhận biết một số điểm tương đồng hay
dị biệt giữa hai hay nhiều vật. + Xác định nguyên lý hay ý niệm tổng quát từ các sự
kiện, xác định thứ tự, hay cách sắp đặt giữa nhiều vật
+ Xét đoán nhiều vấn đề đang được tranh luận dưới nhiều quan điểm.
- Độ tin cậy cao hơn. Yếu tố đoán mò may rủi giảm đi so với loại trắc nghiệm
khách quan khác khi số phương án chọn lựa tăng lên.
- Sinh viên phải xét đoán và phân biệt rõ ràng khi trả lời câu hỏi. Tính chất
tuyệt đối cho loại đúng sai nhường chỗ cho tính chất tương đối khi sinh viên phải chọn
lựa đúng nhất hay hợp lý nhất trong số các phương án trả lời đã cho.
12


- Tính chất giá trị lớn hơn. Loại trắc nghiệm này có độ giá trị cao hơn nhờ tính
chất có thể dùng do những mức tư duykhác nhau. Với một bài trắc nghiệm có nhiều
câu trả lời cho sẵn để lựa chọn, người ta có thể đo được khả năng nhớ, những biểu hiện



tài, Khoa Kinh tế cơ sở - Trường Đại học Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp đã thu được
một số kết quả sau:
- Đã tìm hiểu vai trò của việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập của sinh viên, chức
năng của hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan trong việc kiểm tra đánh giá kết
quả học tập của sinh viên.
- Xây dựng được quy trình soạn thảo hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan góp
phần đa dạng hóa hình thức kiểm tra đánh giá kết quả học tập của sinh viên, nhằm
không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo.
- Xây dựng hoàn thiện bộ ngân hàng đề thi trắc nghiệm các môn: Kinh tế vi mô, Kinh
tế vĩ mô, Thống kê doanh nghiệp và đang tiếp tục phát triển cho một số môn học khác.
- Phát triển nhiều hình thức đánh giá theo phương pháp trắc nghiệm khách quan như:
2.3.1. Loại điền vào chỗ trống hay cần câu trả lời ngắn: Trắc nghiệm điền khuyết hay trắc
nghiệm có câu trả lời ngắn thực ra chỉ là một, chúng chỉ khác nhau về dạng thức vấn đề được
đặt ra. Nếu được trình bày dưới dạng câu hỏi thì được gọi là câu trả lời ngắn. Nếu được trình
bày dưới dạng một câu phát biểu chưa đầy đủ thì được gọi là loại điền khuyết. Nói chung đây
là loại trắc nghiệm khách quan có câu trả lời tự do
Loại câu trắc nghiệm Đúng – Sai có thể là những phát biểu được đánh giá là đúng hay sai,
hoặc chúng có thể câu hỏi trực tiếp để được trả lời là có hoặc không. Đôi khi chúng có thể
nhóm lại dưới cùng một câu dẫn. Các phương pháp trả lời là thích hợp để gợi nhớ lại kiến
thức và một khối lượng kiến thức lớn có thể được kiểm tra một cách nhanh chóng, cho điểm
một cách khách quan.
Loại trắc nghiệm gồm có hai dãy thông tin gọi là các câu dẫn và các câu đáp. Chúng cần được
sinh viên lựa chọn và nghép lại với nhau thành từng cặp thông tin ở hai dãy sao cho phù hợp
về nội dung và cấu trúc. Loai trắc nghiệm này được xem là thích hợp nhất trong việc đánh giá
khả năng nhận biết về các hệ thức hay lập các mối tương quan với nhau, giảm được yếu tố
đoán mò.
Loại câu hỏi nhiều câu trả lời để lựa chọn, MCQ. Loại này gồm một câu phát biểu căn bản gọi
là câu dẫn, đi với nhiều câu trả lời để sinh viên chọn lựa khi làm bài. Các câu trả lời cho mỗi

công bằng trong đánh giá.
2.5.2 Ban lãnh đạo khoa Kinh tế cơ sở cần chỉ đạo phát triển chương trình đào tạo
theo định hướng phát triển năng lực đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục, lựa chọn
các môn phù hợp sử dụng hình thức đánh giá bằng phương pháp trắc nghiệm
khách quan.
Khoa huy động được toàn bộ giảng viên, cán bộ quản lý tham gia phát triển chương
trình đào tạo, đổi mới chương trình đào tạo cử nhân khối kinh tế của nhà trường. Toàn
bộ chương trình cử nhân của nhà trường được tiến hành phát triển theo quy trình sau
đây:
- Khảo sát thị trường lao động, nhà tuyển dụng, cựu sinh viên, kết hợp với nghiên
cứu chuẩn nghề nghiệp giáo viên để xác định hồ sơ nghề nghiệp của sinh viên tốt
nghiệp.
15


- Dựa trên hồ sơ nghề nghiệp và chuẩn nghề nghiệp giáo viên các cấp, các chuyên
gia phát triển chương trình xác định hồ sơ năng lực của sinh viên tốt nghiệp bao gồm
năng lực chung và năng lực nghề nghiệp cốt lõi.
- Dựa trên năng lực chung, năng lực cốt lõi, các chuyên gia phát triển chương trình
xác định các năng lực thành phần, mô tả năng lực thành phần và các công cụ để đo,
đánh giá.
- Dựa trên các năng lực thành phần đó xác định modul kiến thức( sẽ có 1 năng lực
thành phần được tạo bởi từ nhiều modul kiến thức), từ các modul kiến thức, các
chuyên gia phát triển chương trình tổ hợp các môn học.
- Nhóm chuyên gia lập ma trận các môn học, đối sánh với chương trình hiện hành,
loại bỏ những môn học không đáp ứng chuẩn năng lực ra khỏi chương tình đào tạo.
2.5.3. Chỉ đạo giảng viên thiết kế đề cương môn học theo tiếp cận năng lực trong
đào tạo theo học chế tín chỉ trong đó mô tả các tiêu chí, phương pháp, hình thức
đánh giá thường xuyên, đánh giá giữa kỳ và đánh giá tổng kết trong đó chú trọng
phương pháp trắc nghiệm khách quan.

mỗi đợt kiểm tra.
(i) Tổ chức kiểm tra dưới nhiều hình thức khác nhau: trắc nghiệm trên giấy, trắc
nghiệm trên máy, trắc nghiệm vấn đáp vv..
(ii) Phân tích và xử lý thông tin: các thông tin định tính về thái độ và năng lực học tập
thu được qua quan sát, trả lời miệng, trình diễn,... được phân tích theo nhiều mức độ
với tiêu chí rõ ràng và được lưu trữ thông qua sổ theo dõi hàng ngày;
(iii) Xác nhận kết quả học tập: xác nhận sinh viên đạt hay không mục tiêu từng môđun, học phần dựa vào các kết quả định lượng và định tính với chứng cứ cụ thể, rõ
ràng; phân tích, giải thích sự tiến bộ học tập vừa căn cứ vào kết quả đánh giá quá trình
và kết quả đánh giá tổng kết, vừa căn cứ vào thái độ học tập và hoàn cảnh gia đình cụ
thể.
(iv) Ra quyết định cải thiện kịp thời hoạt động dạy của giảng viên, hoạt động học của
sinh viên trên lớp học.

17


3. KẾT LUẬN
Trong giáo ducc̣ – đào tạo, đánh giá đươcc̣ hiểu là quá trì nh hình thành những
nhâṇ định, phán đoán về kết quả đào tạo, dưạ vào sựphân tích những thông tin thu
đươcc̣ đối chiếu vớ i mucc̣ tiêu , tiêu chuẩn đãđềra , nhằm đề xuất những quyết điṇ h
thích hợp để cải thiện thực trạng , điều chỉnh, nâng cao chất lươṇ g và hiêụ quả đào
tạo. Qua cách hiểu đó , có thể nhận thấy đánh giá trong giáo dục – đào tạo không chỉ
ghi nhận thực trạng mà còn đề xuất những quyết định làm thay đổi giáo dục – đào tạo
theo chiều hướng mong muốn của xãhôị. Đánh giá kết quả học tập của sinh viên theo
tiếp cận năng lực được xem là quá trình thu thập, chỉnh lí, xử lí thông tin một cách hệ
thống những kết quả học tập ở các giai đoạn khác nhau đối chiếu với mục tiêu dạy học
ở từng giai đoạn và đối chiếu với CĐR của CTGD để đánh giá sự tiến bộ của người
học trong từng giai đoạn, đánh giá mức độ đạt CĐR của người học và cuối cùng là
đánh giá chất lượng của quá trình đào tạo (với cách hiểu chất lượng là sự trùng khớp
với mục tiêu). Vì vậy Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8, Ban chấp hành Trung ương khóa



Văn

Hảo,

Thang

cấp

độ



duy

Bloom.

Truy

cập

từ

https://www.google.com.vn/webhp?sourceid=chr ome-instant&ion=1&espv=2&es_th
=1&ie=UTF-8#
7. Nguyễn Phụng Hoàng, Võ Ngọc Lan (1996), Phương pháp trắc nghiệm khách quan
trong kiểm tra và đánh giá thành quả học tập, NXB Giáo dục.
8.Trần Bá Hoành (1995), Đánh giá trong giáo dục, Hà Nội.
9. Cấn Thị Thanh Hương, Trương Thị Phương Thảo (2009), “Đổi mới phương thức tổ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status