HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
DƯƠNG THỊ LUYẾN
ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ YẾU TỐ SINH THÁI
ĐẾN DIỄN BIẾN MẬT ĐỘ RẦY NÂU
(NILAPARVATALUGENS STAL) TRÊN LÚA
VÀ BIỆN PHÁP HÓA HỌC PHÒNG TRỪ
TẠI BÌNH LỤC - HÀ NAM NĂM 2015
Chuyên ngành:
Bảo vệ thực vật
Mã số:
60.62.01.12
Người hướng dẫn khoa học:
TS. Lê Ngọc Anh
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan!
Bản luận văn tốt nghiệp này được hoàn thành bằng sự nhận thức chính xác của
bản thân.
Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực, chưa được sử dụng
và công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác.
Hà Nội, ngày
tháng
Tác giả luận văn
Dương Thị Luyến
ii
năm 2016
MỤC LỤC
Lời cam đoan ................................................................................................................ i
Lời cảm ơn ................................................................................................................... ii
Mục lục ...................................................................................................................... iii
Danh mục chữ viết tắt....................................................................................................v
Danh mục bảng ........................................................................................................... vi
Danh mục hình .......................................................................................................... viii
Trích yếu luận văn ....................................................................................................... ix
Thesis abstract ............................................................................................................. xi
Phần 1. Mở đầu ...........................................................................................................1
1.1.
Tính cấp thiết của đề tài ...................................................................................1
1.2.
Lịch sử phát sinh gây hại của rầy nâu.............................................................10
2.3.2.
Nghiên cứu về ảnh hưởng của các yếu tố sinh thái đến sự phát sinh phát
triển của rầy nâu hại lúa .................................................................................11
Phần 3. Nội dung và phương pháp nghiên cứu ........................................................18
3.1.
Thời gian và địa điểm nghiên cứu ..................................................................18
3.2.
Đối tượng, vật liệu và dụng cụ nghiên cứu .....................................................18
3.3.
Nội dung nghiên cứu......................................................................................18
3.4.
Phương pháp nghiên cứu ...............................................................................19
iii
3.4.1.
4.1.1.
Thành phần nhóm rầy hại thân lúa, nhóm bắt mồi ở vụ xuân và vụ mùa
2015 tại Bình Lục, Hà Nam ...........................................................................25
4.1.2.
Ảnh hưởng của các yếu tố sinh thái đến diễn biến mật độ của rầy nâu
(Nilaparvata lugens Stal) hại lúa vụ xuân và vụ mùa 2015 tại Bình Lục,
Hà Nam .........................................................................................................32
4.1.3.
Vai trò khống chế quần thể rầy nâu của bọ xít mù xanh .................................41
4.1.4.
Đánh giá hiệu lực của một số loại thuốc hoá học phòng trừ rầy nâu
(Nilaparvata lugens Stal) vụ mùa 2015 tại Bình Lục, Hà Nam .......................48
4.2.
Thảo luận.......................................................................................................50
Phần 5. Kết luận và kiến nghị ...................................................................................53
5.1.
Kết luận .........................................................................................................53
5.2.
ĐNR
Đẻ nhánh rộ
KD 18
Khang dân 18
PHĐ
Phân hóa đòng
PTĐ
Phát triển đòng
v
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1. Diện tích lúa bị nhiễm rầy nâu, rầy lưng trắng ở Hà Nam từ năm 2004
đến năm 2014
2
Bảng 3.1. Hoạt chất, nồng độ và liều lượng các loại thuốc sử dụng phun cho
thí nghiệm
22
Bảng 4.7. Ảnh hưởng của 3 chân đất khác nhau đến diễn biến mật độ rầy nâu
(Nilaparvata lugens Stal) trên giống lúa NA2 ở vụ xuân 2015 tại
Bình Lục, Hà Nam
36
Bảng 4.8 Ảnh hưởng của 3 chân đất khác nhau đến diễn biến mật độ rầy nâu
(Nilaparvata lugens Stal) trên giống lúa NA2 ở vụ mùa 2015 tại
Bình Lục, Hà Nam
37
Bảng 4.9. Ảnh hưởng của 3 mức phân bón khác nhau đến diễn biến mật độ rầy
nâu (Nilaparvata lugens Stal) trên giống lúa NA2 ở vụ xuân 2015 tại
Bình Lục, Hà Nam
39
Bảng 4.10. Ảnh hưởng của 3 mức phân bón khác nhau đến diễn biến mật độ rầy
nâu (Nilaparvata lugens Stal) trên giống lúa NA2 vụ ở mùa 2015 tại
Bình Lục, Hà Nam
40
Bảng 4.11. Diễn biến mật độ rầy nâu (Nilaparvata lugens Stal) và bọ xít mù xanh
(Cyrtorhinus lividipennis Reuter) ở 3 chân đất khác nhau trên giống
lúa NA2 ở vụ xuân 2015 tại Bình Lục, Hà Nam
42
32
Hình 4.3. Mối tương quan giữa mật độ rầy nâu và bọ xít mù xanh ở chân đất cao
trên giống lúa NA2 ở vụ xuân 2015 tại Bình Lục, Hà Nam
43
Hình 4.4. Mối tương quan giữa mật độ rầy nâu và bọ xít mù xanh ở chân đất vàn
trên giống lúa NA2 ở vụ xuân 2015 tại Bình Lục, Hà Nam
44
Hình 4.5. Mối tương quan giữa mật độ rầy nâu và bọ xít mù xanh ở chân đất trũng
trên giống lúa NA2 ở vụ xuân 2015 tại Bình Lục, Hà Nam
44
Hình 4.6. Mối tương quan giữa mật độ rầy nâu và bọ xít mù xanh ở chân đất cao
trên giống lúa NA2 ở vụ mùa 2015 tại Bình Lục, Hà Nam
47
Hình 4.7. Mối tương quan giữa mật độ rầy nâu và bọ xít mù xanh ở chân đất vàn
trên giống lúa NA2 ở vụ mùa 2015 tại Bình Lục, Hà Nam
47
Hình 4.8. Mối tương quan giữa mật độ rầy nâu và bọ xít mù xanh ở chân đất trũng
trên giống lúa NA2 ở vụ mùa 2015 tại Bình Lục, Hà Nam
Điều tra thành phần nhóm rầy hại thân, nhóm bắt mồi của rầy và diễn biến mật
độ rầy nâu ở vụ xuân và vụ mùa 2015 tại Bình Lục, Hà Nam theo QCVN 01-166:
2014/BNNPTNT.Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về phương pháp điều tra phát hiện dịch
hại lúa. Đánh giá hiệu lực của một số loại thuốc hóa học trừ rầy ở vụ mùa năm 2015 tại
Bình Lục, Hà Nam. Thí nghiệm trong phòng hiệu lực của thuốc được hiệu đính theo
công thức Abbott, thí nghiệm ngoài đồng ruộng hiệu lực của thuốc được hiệu đính theo
công thức Henderson-Tilton.
Kết quả nghiên cứu:
1. Vụ xuân và vụ mùa 2015 tại Bình Lục, Hà Nam ghi nhận 2 loài rầy hại thân
lúa rầy lưng trắng và rầy nâu. Rầy lưng trắng xuất hiện nhiều vào tháng 4 và 8. Rầy nâu
xuất hiện nhiều vào tháng 5, 6 và 9. Vụ mùa mức phổ biến của 2 loài rầy nhiều hơn so
với vụ xuân và rầy nâu xuất hiện muộn hơn so với rầy lưng trắng.
2. Thành phần thiên địch trên lúa thu được 12 loài trong năm 2015 tại Bình Lục,
Hà Nam. Hầu hết các loài nhện sói vân đinh ba Lycosa pseudoannulata (Boesenberg et
Strand), bọ cánh cứng ngắn Paederus fuscipes Curtis, bọ 3 khoang Ophionea indica
(Thunberg) và bọ xít mù xanh Cyrtorhinus lividipennis Reuter có mức độ phổ biến
trung bình đến nhiều. Các loài khác có mức phổ biến ít. Đặc biệt bọ xít mù xanh
Cyrtorhinus lividipennis Reuter có mức độ phổ biến tăng dần về cuối vụ khi mà mức độ
phổ biến của rầy nâu và rầy lưng trắng nhiều.
ix
3. Trên 3 giống lúa KD18, Dưu527, NA2 được trồng ở vụ xuân và vụ mùa năm
2015 tại Bình Lục, Hà Nam ghi nhận vụ xuân rầy nâu trên giống KD18 có mật độ cao
nhất là (642,8 con/m2) và giống NA2 mật độ thấp nhất là (256,4 con/m2). Vụ mùa giống
KD18 vẫn là giống có mật độ cao nhất (1569,6 con/m2) và giống lúa NA2 có mật độ là
thấp nhất (446,8 con/m2).
- Trên 3 chân đất (cao, vàn, trũng) trồng cùng giống NA2 ở vụ xuân và vụ mùa
năm 2015 tại Bình Lục, Hà Nam cho thấy: vụ xuân trên chân đất trũng có mật độ rầy
it is initially recommended to control of brown plant – hopper by economic efficiency
and environmental safety.
Meterials and Methods:
Investigation on rice stem hoppers and their natural enemies and theirs
population dynamics in winter spring and summer – autumn season 2015 in Binh Luc,
Ha Nam under QCVN 01-166: 2014/BNNPTNT. National technical regulations on
surveillance method of rice pests. Evaluation of the effectiveness of some insecticide on
brown plant- hopper in the lab and in the field Binh Luc, Ha Nam. Laboratory testing
was analysis under the Abbott formula, field experiments was analysis under the
Henderson-Tilton formula.
Results of study:
- Species composition of rice hopper in 2 rice season ( winter – spring season
and summer – autumn season) 2015 in Binh Luc, Ha Nam was recorded, induring
brown plant hoppers (Nilaparvata lugens Stal.) (BPH) and white black planthopper
Sogatella furcifera thorvath) (WBPH). In both 2 season during the of rice, season
WBPH oceurred in the first stage (March, April in winter spring season & August in
summer – autumn season) white BPH oceurred in the end of the season ( in May - Fune
and September).
12 species of predator of rice insect were recorded in 2 rice seasons in Binh Luc,
Ha Nam 2015 belonging to 12 orders, 2 insect families and 1 spidet family. Among of
them Paederus fuscipes Curt, Ophionea indica Thunbr, Cyrtorhinus lividipennis Reuter,
and Lycosa pseudoannulata Boes. et Str, were common species, appeared in whole
season.
xi
Population dynamic of BHP was highest recorded in KD18 (119,77 BHP/ m2) in
average in winter – spring season & 226,49 BHP/ m2 in sumer – autumn season) and
lowest in NA2 ( 49,40 & 97,26 BHP/m2, respctively).
và phát triển của cây lúa mà nguy hại hơn, chúng còn là tác nhân môi giới lây
truyền các loại virus rất nguy hiểm trên cây lúa, trong đó hiện nay là virus vàng
lùn, lùn xoắn lá.
Tại Hà Nam, diện tích nhiễm rầy nâu, rầy lưng trắng từ năm 2004 đến
năm 2014 được thống kê cụ thể ở bảng 1.1.
Qua bảng số liệu ở Hà Nam chúng tôi nhận thấy từ năm 2007 - 2010 rầy
nâu, rầy lưng trắng có xu hướng bùng phát lên về mật độ và diện tích phân bố.
Năm 2011 rầy có giảm nhưng từ năm 2012 – 2014 lại có xu hướng tăng lên. Mật
độ rầy năm 2012 – 2014 phổ biến ở 500 – 1.000 con/m2, cao 2.000 – 4.000
con/m2, cá biệt có ổ trên 6.000 con/m2 gây cháy chòm, ổ cục bộ.
Trong các năm 2007 – 2010 diện tích nhiễm rầy tăng gấp 3 – 6 lần so với
năm 2006, tăng gấp 10 – 12 lần so với các năm 2005, 2004. Thế nhưng năm 2014
diện tích nhiễm rầy còn tăng gấp 1,5 - 2 lần so với năm 2007.
1
Bảng 1.1. Diện tích lúa bị nhiễm rầy nâu, rầy lưng trắng ở Hà Nam
từ năm 2004 đến năm 2014
Vụ
Diện tích nhiễm vụ xuân (ha)
Diện tích nhiễm vụ mùa (ha)
Diện tích
Diện tích
Diện tích
756,9
2007
2008
2009
2010
2011
2012
2013
2014
10.315
19.280,9
13.182,5
13.782,7
10.251,6
14.673,8
16.130
21.882,8
364
1.100,8
400
1.000
0
1.419,5
1.523,2
4.400
21.506
1.2. MỤC ĐÍCH VÀ YÊU CẦU
Mục đích
- Trên cơ sở nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố sinh thái đến diễn
biến mật độ của rầy nâu hại lúa và biện pháp hóa học phòng trừ tại Bình Lục, Hà
Nam năm 2015 từ đó bước đầu đề xuất được biện pháp phòng trừ đạt hiệu quả
kinh tế, an toàn với môi trường.
Yêu cầu
- Xác định thành phần nhóm rầy hại thân lúa ở vụ xuân và vụ mùa 2015 tại
2
Bình Lục, Hà Nam.
- Xác định được thành phần nhóm bắt mồi của rầy nâu ở vụ xuân và vụ
mùa 2015 tại Bình Lục, Hà Nam.
- Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố sinh thái (giống lúa, phân bón,
chân đất) đến diễn biến mật độ của rầy nâu ở vụ xuân và vụ mùa 2015 tại Bình Lục,
Hà Nam.
- Đánh giá hiệu lực của một số loại thuốc hoá học để trừ rầy nâu tại Bình
Lục, Hà Nam vụ mùa năm 2015.
1.3. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
- Điều tra nhóm rầy hại thân giúp cho công tác điều tra, dự tính dự báo nắm
được mức độ phổ biến của nhóm rầy trên đồng ruộng. Qua đó để có biện pháp
phòng chống kịp thời khi mật độ vượt quá ngưỡng kinh tế.
- Những nghiên cứu về giống, chân đất, phân bón đến diễn biến mật độ
của rầy nâu trên đồng ruộng, làm cơ sở giúp đề xuất các biện pháp kỹ thuật
canh tác lúa nhằm giảm đến mức thấp nhất mật độ rầy trên đồng ruộng.
- Về mặt thực tiễn, đề tài đã nghiên cứu và đề xuất được một số loại thuốc
hóa học có hiệu lực cao trong phòng trừ rầy nâu, sử dụng giống lúa có biểu hiện
nhiễm rầy ít sẽ góp phần hạn chế sự gây hại của chúng, giảm thiểu việc sử dụng
Theo CABI (2007) Nilaparvata lugens được Stal đặt tên đầu tiên vào năm
1854 là Dephax lugens Stal. Rầy nâu Nilaparvata lugens có thể được coi là loài
sâu hại quan trọng nhất trên lúa ở châu Á. Chúng chích hút làm cây lúa bị héo,
yếu và gây nên triệu chứng cháy rầy.
Phân bố của rầy nâu rộng khắp các nước trồng lúa ở Châu Á, Australia
và một số đảo ở Thái Bình Dương. Trên thế giới phạm vi phân bố của rầy nâu rất
rộng (Dyck and Thomas, 1979).
4
Mochida (1970) cho rằng rầy nâu phân bố ở hầu hết các nước trồng lúa
nước ở Châu Á như Ấn Độ, Thái Lan, Campuchia, Lào, Bangladesh, Indonesia,
Srilanca, Philippines, Malaysia, Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc,
Việt Nam… Lúa nước là ký chủ chính của rầy nâu do đó thời gian không trồng
lúa hoặc để ruộng nghỉ không có lúa chét có thể làm giảm số lượng rầy cho vụ
tiếp theo. Cây dại thuộc họ hoà thảo và lúa chét là ký chủ phụ thích hợp cho rầy
sinh sống và đẻ trứng. Thí nghiệm của Viện Nghiên Cứu Lúa Quốc Tế (IRRI,
1979) cho biết: cỏ dại ở ruộng lúa có thể góp phần làm tăng số lượng rầy khi lúa
gần chín, là do đã tạo được môi trường có thảm cây rậm rạp.
Rầy nâu đã từng là loài dịch hại thứ yếu trên lúa trong những năm 1960 ở
nhiều khu vực nhiệt đới châu Á (Pathak and Dhaliwal, 1981).
Nhưng theo Dyck and Thomas (1979) thì tại các nước lại có những ghi
nhận khác nhau. Người ta đã ghi nhận ở Ấn Độ rầy nâu phát sinh gây hại rải rác ở
vùng Kerala từ năm 1958 và sau đó đã lan sang một số tiểu bang khác như ở
Tamil Nadu. Nó gây ra thiệt hại nghiêm trọng cho cây trồng ở mùa thu và mùa
đông đã có một ổ dịch trong một huyện của Tây Bengal vào năm 1975, và trong
đó có một số trường hợp các cây trồng đã bị phá hủy. Trong thời cổ đại của Hàn
Quốc, trong số 167 tài liệu tham khảo có 36 tài liệu chứng minh về sự phá hoại
của côn trùng là do rầy. Từ năm 1912 có khoảng 10 đợt dịch xảy ra. Một số thiệt
giống mới lại là giống mẫn cảm với rầy nâu hơn là những giống truyền thống
Việc bón nhiều phân đạm sẽ làm mật độ rầy nâu tăng lên, bởi lẽ khi bón
nhiều phân đạm đã làm cây lúa chống chịu với rầy nâu kém hơn và làm tăng sức
sống, cũng như khả năng đẻ 0 lúa có nhiều đạm. Khi được nuôi thí nghiệm trên
cây có mức đạm cao thì rầy đẻ trứng nhiều, ăn nhiều và gây hại nhiều. Lượng
đạm sử dụng tăng thì mật độ rầy có xu hướng sinh trưởng phát triển tăng cao (Lu
and Heong, 2009).
Mô hình trồng trọt đã chỉ ra rằng việc tăng số lượng mùa vụ trên một khu
đất cố định có thể làm gia tăng những vấn đề về rầy nâu trong năm, hoặc so le
các lần trồng sẽ góp phần vào sự bùng phát rầy nâu.
Mật độ của rầy nâu ở Sarawak có thể thấp bởi vì chỉ có một vụ lúa được trồng
mỗi năm vì có thể có một thời gian nghỉ giữa mùa thu hoạch (Dyck et al., 1979).
Nước tưới là yếu tố không thể thiếu cho cây lúa nhưng khi tưới quá nhiều
và thường xuyên sẽ góp phần tăng mật độ của rầy nâu (Dyck et al., 1979).
Yếu tố khí hậu khác nhau có ảnh hưởng rõ rệt đến sự phát sinh phát triển của rầy
nâu. Các yếu tố bao gồm nhiệt độ, lượng mưa và độ ẩm…. Nhiệt độ là một trong
những yếu tố khí hậu có ảnh hưởng lớn nhất tới sự phát dục, biến động quần thể
và phát dịch của rầy nâu. Nhiệt độ trong phạm vi 25-30ºC là thích hợp nhất đối
với sự phát dục của trứng và rầy non, nếu nhiệt độ cao hơn 33-35ºC thì không
thích hợp với rầy (Bae and Pathak, 1970). Theo Ho and Liu (1969) cho rằng
nhiệt độ thấp trong khoảng từ 15-18ºC là không thích hợp cho sự phát triển của
rầy. Các tác giả như Fukuda (1934), Alam (1971) cho hay nhiệt độ cao góp phần
tăng số lượng rầy.
6
Nhiệt độ từ 25- 300c là thích hợp nhất cho trứng rầy phát triển. Rầy nâu có
chu kỳ sống ngắn trong điều kiện nhiệt độ cao (Dyck et al., 1979).
Pha trứng của rầy nâu phát sinh nhanh nhất ở điều kiện nhiệt độ 25 –
kém do vậy nếu thời gian sử lý không chính xác sẽ không đạt hiệu quả như mong
muốn. Tính kháng thuốc cũng được một số tác giả tiến hành nghiên cứu kết quả
7
cho thấy hiện tượng kháng thuốc xảy ra với nhóm thuốc lân hữu cơ và
Carbamate. Cùng một hoạt chất nhưng các dạng thuốc khác nhau cũng gây sự tái
phát khác nhau, thuốc Carbofuran khi phun lên cây gây ra hiện tượng tái phát
mạnh hơn dạng hạt bón vào đất (Heinrichs, 1979).
Tốc độ phát triển của quần thể rầy nâu gắn liền với sự sử dụng thuốc hoá
học cũng như cách sử dụng thuốc hoá học (Riley, 1988).
Có nhiều trường hợp, khi sử dụng thuốc trừ sâu là nguyên nhân dẫn đến
phục hồi quần thể dịch hại bao gồm có cả rầy nâu (Chilliah and Heinrich, 1984;
Gao et al., 1988; Phạm Hồng Hiển, 2009).
Chelliah and Heinrichs (1984) đã xác định sự phục hồi quần thể của rầy
nâu trên ruộng lúa ảnh hưởng bởi việc sử dụng các thuốc trừ sâu như,
decamethrin, methyl parathion, và diazinon. Áp dụng methyl parathion và
decamethrin đã giúp cho lúa phát triển tốt hơn, đó chính là nguyên nhân làm tăng
sự phát triển của quần thể rầy nâu. Hơn nữa, ở những công thức áp dụng thuốc đã
làm rút ngắn thời gian phát dục của rầy non, thời gian phát dục của trưởng thành
dài hơn, kết quả là vòng đời rầy nâu ngắn lại, tuy nhiên việc làm này đã dấn đến
thời gian đẻ trứng của trưởng thành dài hơn so với không xử lý thuốc, đây là
nguyên nhân dẫn đến sự phục hồi quần thể rầy nhanh và cao hơn ở những công
thức xử lý thuốc.
Sự bùng phát rầy nâu không theo chu kỳ và xảy ra trên diện tích rộng. Sau
những năm 1960, rầy nâu bùng phát vào những năm 1975, 1990, 1997 và 2005
tại hầu hết các nước trồng lúa Châu Á (Song et al., 2008). Để dự báo trước sự
bùng phát của rầy nâu thực sự rất khó khăn, và người nông dân khó có thể ngăn
chặn kịp thời sự bùng phát của rầy nâu (Phạm Hồng Hiển, 2009).
Theo kết quả nghiên cứu trên thế giới đã cho thấy mức độ kháng thuốc của
rầy nâu đã tăng đặc biệt là ở các nơi có sử dụng nhiều thuốc hóa học để trừ rầy
nâu. Nó đã kháng cả thuốc trừ sâu thế hệ cũ và mới (Catindig et al., 2009).
Nước đầu tiên nghiên cứu về tính kháng thuốc của rầy nâu là Nhật Bản và
sau 20 năm sử dụng ben zen hexa – chloride thì tính kháng thuốc của rầy nâu đã
tăng tới 9 lần (Heinrichs, 1979).
Tại Trung Quốc đã cấm sử dụng Benzen hex- chloride nên đã sử dụng các
thuốc có nguồn gốc lân hữu cơ, làm cho tính kháng thuốc của rầy nâu đối với
nhóm thuốc này tăng lên rất nhanh. Cho tới thập kỷ 80 của thế kỷ 20, nghiên cứu
của các tác giả ở Trung Quốc cho hay sau 7 năm sử dụng giá trị LD50 của thuốc
Benzen hex- chloride đã tăng 22 lần (Toru Nagata, 2002).
Thiên địch có ảnh hưởng rất lớn đến rầy nâu. Số lượng rầy nâu thay đổi
phụ thuộc vào những nhân tố thiên địch và môi trường, sâu hại có rất nhiều các
loài thiên địch có lợi. Các loài có lợi thường kiểm soát côn trùng gây hại. Nếu
không có những loài có lợi thì mật độ sẽ nhân lên nhanh và gây hại nặng đến
năng suất lúa.
9
Tuy nhiên, sâu hại có khả năng sinh sản cao để bù đắp tỷ lệ tử vong mà nó
phải đối mặt trong tự nhiên.
Ví dụ, một rầy nâu cái đẻ nhiều con, nhưng vì có thiên địch nên mật độ
rầy sống sót không cao sau một thế hệ. Nó không thể kìm hãm được 98 - 99%
tỷ lệ tử vong của rầy nâu.Nếu được như vậy thì điều này là điều đang được
mong đợi.
Sự cân bằng tự nhiên giữa côn trùng và thiên địch thường bị gián đoạn bởi
việc sử dụng bừa bãi thuốc trừ sâu hóa học. Mặc dù là thuốc trừ sâu rất cần thiết
trong một số trường hợp, nhưng mà phải được sử dụng khôn ngoan để bảo vệ
thiên địch (Shepard et al., 1987).
tục trong phạm vi cả nước, khi thì cục bộ trên diện tích nhỏ, khi thì bùng phát
thành dịch trên diện rộng (Phạm Văn Lầm, 2009).
Dịch rầy nâu đầu tiên ghi nhận ở đồng bằng sông Cửu Long vào năm
1931, ở đồng bằng sông Hồng vào năm 1958. Những đợt dịch lớn do rầy nâu gây
ra đã ghi nhận vào các năm 1981 - 1982, 1986 - 1987, 1992 - 1993 ở vùng đồng
bằng sông Hồng và vào các năm 1969, 1971 - 1974, 1977 - 1978, 1988 - 1991,
1996 - 1997, 2005 - 2007 ở vùng Nam Trung Bộ, đồng bằng sông Cửu Long
(Nguyễn Văn Đĩnh và cs., 2011).
Theo báo cáo về sâu bệnh hại lúa và cách phòng trừ của Sở NN Hà Nam
Ninh (1988) thì trong vụ chiêm xuân rầy nâu thường phát sinh và gây hại nặng ở
vùng đồng chiêm trũng hơn vùng ven biển. Trên địa bàn huyện hoặc HTX cũng
vậy: những cánh đồng trũng cấy sớm rầy nâu bao giờ cũng di chuyển đến sớm,
sinh sản nhanh và hại nặng hơn ở ngững cánh đồng vàn hoặc cao hạn. Nhìn
chung tốc độ tích lũy số lượng của rầy (hệ số nhân giữa các lứa) vụ chiêm xuân
thường cao hơn vụ mùa. Vì trong vụ chiêm xuân có mùa đông rét. Lạnh kéo dài
thì sự tích lũy số lượng cũng thường cao hơn năm ấm nhưng ít khi phát sinh
thành dịch, vì số lượng đầu vụ thấp. Vụ mùa mưa nhiều ngay từ đầu vụ từ tháng
7-10 xen kẽ giữa thời kỳ nắng gắt, 7-10 ngày lại có trận mưa rào, ẩm độ cao thì
rầy cũng dễ phát triển thành dịch vào cuối vụ.
2.3.2. Nghiên cứu về ảnh hưởng của các yếu tố sinh thái đến sự phát sinh phát
triển của rầy nâu hại lúa
Theo tác giả Trần Huy Thọ và Nguyễn Công Thuật (1989) ở miền Bắc
Việt Nam vào vụ lúa đông xuân có mùa đông lạnh làm hạn chế sự phát sinh phát
triển của rầy nâu, mật độ rầy nâu ở đầu vụ bao giờ cũng thấp. Vụ mùa nhiệt độ
cao các lứa rầy nâu sẽ phát triển sớm hơn. Trong điều kiện nước ta mỗi một vụ
lúa quần thể rầy nâu cao vào giai đoạn lúa trỗ bông, ngậm sữa và thường gây
cháy rầy ở giai đoạn này.
Điều kiện khí hậu có vai trò lớn trong phát sinh và phát triển rầy nâu.
Nhiệt độ ở lớp không khí gần sát mặt nước ruộng thấp hơn nhiệt độ ở lớp không
khí phía trên cao trong ruộng lúa. Ẩm độ tương đối của không khí đạt cao nhất ở
Đây là 2 thời kỳ đỉnh cao mật độ quần thể của rầy nâu ở vùng đồng bằng sông
Hồng. Tại đồng bằng song Cửu Long, điều kiện nhiệt độ và ẩm độ tương đối của
không khí hoàn toàn thuận lợi cho rầy nâu phát sinh, phát triển quanh năm. Mưa
to làm trôi rầy, nhất là rầy cám. Mưa nhỏ giúp rầy nâu phát triển nhanh (Phạm
Văn Lầm, 2009).
Điều kiện nhiệt độ 24-25oc, ẩm độ 90 %, nắng mưa xen kẽ thuận lợi cho
sự phát triển của rầy nâu (Bộ môn côn trùng, 2004).
12