1
CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BN
MRI
PHCN
PT
SD
TB
TKHBS
AVN
n
TL
Bệnh nhân
Chụp cộng hưởng từ hạt nhân
Phục hồi chức năng
Phẫu thuật
Độ lệch chuẩn
Trung bình
Trật khớp háng bẩm sinh
Hoại tử vô mạch
Số lượng
Tỷ lệ
ĐẶT VẤN ĐỀ
Điều trị trật khớp háng bẩm sinh rất phức tạp, bao gồm nhiều giai
đoạn. Nếu phát hiện sớm trước 6 tháng tuổi trẻ được nắn chỉnh đeo nẹp
Parlik, trẻ 6 - 18 tháng tuổi có thể điều trị bằng nắn chỉnh kín hoặc nắn
chỉnh mở kết hợp bó bột. Bệnh nhân được phát hiện, điều trị muộn có
những nguy cơ và biến chứng nặng nề như: tái trật khớp, hoại tử chỏm
trật khớp háng bẩm sinh ở trẻ nhỏ.
Chương 1
TỔNG QUAN
1.1. Giải phẫu và sự phát triển của khớp háng, ổ cối, chỏm xương đùi
1.2. Nguyên nhân và chẩn đoán TKHBS
1.3. Tình hình điều trị TKHBS
1.3.1. Trên thế giới
1.3.1.1. Các phương pháp PT cắt xương điều trị loạn sản ổ cối
Trong thực tế góc ổ cối > 30 0 được coi là bất thường và có nguy
cơ gây trật khớp. Kleinberg và Lieberman đã nghiên cứu và có kết
luận tương tự.
Lựa chọn cắt xương chậu điều trị loạn sản ổ cối theo y văn được
chia thành các nhóm sau:
- Nhóm thứ nhất bao gồm cắt xương chậu chuyển hướng ổ cối, tăng
độ che phủ chỏm xương đùi.
Phẫu thuật cắt xương vô danh theo Salter, được thực hiện vào
những năm giữa thập kỷ 50 thế kỷ XIX.
Ưu điểm: không ảnh hưởng đến thể tích ổ cối, kỹ thuật đơn giản.
Nhược điểm: tương đối không ổn định, phải cố định xương bằng
đinh Kirshner bên trong, do đó cần PT lần thứ hai để tháo bỏ đinh.
- Nhóm thứ hai: tạo hình ổ cối bằng cách cắt xương chậu không
hoàn toàn trên phần sụn chữ “Y”, bao gồm kỹ thuật PT tạo hình ổ cối
được mô tả bởi Pemberton và Dega.
- Nhóm thứ ba: phẫu thuật tạo hình ổ cối với cách cắt xương trên
3
bao khớp, phần không che phủ chỏm xương đùi, sau khi cắt xương
chậu, chỏm xương đùi cùng ổ cối được di chuyển vào trong. Phẫu thuật
này tạo ra lớp sụn sợi để tăng khả năng che phủ cho chỏm xương đùi,
* Trẻ trên 18 tháng tuổi đến 36 tháng tuổi
4
Trong nhóm tuổi này, ổ cối thường bị thiểu sản ở phía trước. Phẫu
thuật thường được áp dụng là cắt xương vô danh theo Salter hoặc
Pemberton.
* Trẻ trên 3 năm tuổi, PT nắn chỉnh mở kèm theo cắt ngắn xương
đùi là cần thiết, có thể kết hợp PT tạo hình ổ cối ngay hoặc PT tạo hình
ổ cối sau đó khoảng 6 tuần, tùy thuộc vào sự ổn định khớp háng tại thời
điểm PT.
1.3.2. Tại Việt Nam
Năm 2001, Phan Văn Tiếp báo cáo luận văn chuyên khoa II về yếu
tố dịch tễ của trật khớp háng bẩm sinh.
Năm 2004, Nguyễn Ngọc Hưng báo cáo điều trị cho 76 bệnh nhân
trật khớp háng bẩm sinh .
Năm 2012, Hoàng Hải Đức, Nguyễn Ngọc Hưng báo cáo điều trị
cho 292 trẻ bị trật khớp háng bẩm sinh theo phương pháp Salter.
Năm 2013, Nguyễn Ngọc Hưng giới thiệu kỹ thuật cắt xương chậu
Zigzag kết hợp ghép xương mác đồng loại điều trị cho 73 BN TKHBS.
Báo cáo đăng trên Open Journal of Orthopedics
1.4. Biến chứng và di chứng của phẫu thuật khớp háng
* Tái trật khớp
* Biến dạng cổ xương đùi
* Hoại tử chỏm xương đùi vô mạch
Hoại tử chỏm xương đùi có thể do các nguyên nhân như tổn thương
mạch máu ở đầu xương, sụn phát triển hoặc do áp lực tì đè tác động đến
sụn đầu xương.
Kalamchi và MacEwen đã đưa ra một phân loại hoại tử chỏm xương
đùi và các rối loạn tăng trưởng kết hợp ở 4 mức độ khác nhau.
Nghiên cứu thực hiện từ tháng 7/2011 đến 1/2015, gồm những BN
được chuẩn đoán xác định TKHBS và được chỉ định PT.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu tiến cứu
Đề tài được thiết kế bằng hai phương pháp:
- Nghiên cứu mô tả có phân tích.
- Nghiên cứu can thiệp lâm sàng theo dõi dọc.
2.2.2. Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
2.2.2.1. Cỡ mẫu nghiên cứu
Do nghiên cứu tiến hành theo phương pháp mô tả tiến cứu, toàn bộ
bệnh nhân thỏa mãn các tiêu chuẩn lựa chọn, được chẩn đoán và có chỉ
định PT trật khớp háng bẩm sinh tại khoa Chỉnh hình Nhi trong thời
gian nghiên cứu được đưa vào nhóm nghiên cứu
6
2.2.2.2. Phương pháp chọn mẫu
2.2.3. Nội dung nghiên cứu, thu thập số liệu và đánh giá kết quả
2.2.3.1. Khai thác tiền sử
2.2.3.2. Thu thập các chỉ số lâm sàng, khám lâm sàng trước và sau PT
2.2.3.3. Thông tin về cuộc phẫu thuật
2.2.3.4. Thu thập các chỉ số cận lâm sàng, xét nghiệm trước và sau PT
* X quang
- Bệnh nhân được đánh giá mức độ trật khớp háng theo phân độ
Tönnis.
- Đo góc ổ cối (Acetabular angle).
- Đánh giá tình trạng độ hoại tử chỏm xương đùi, theo phân độ
Kalamchi và Mac Ewen, với bốn mức độ.
- Đo góc cổ thân xương đùi
- Đo góc Wiberg
* Bước 3: Cắt xương chậu
Vị trí cắt xương: ngay trên gai chậu trước dưới (trên điểm bám
của nguyên ủy cơ thẳng đùi). Sử dụng khoan để tạo mốc cắt xương.
Sau khi phác thảo đường cắt, tiến hành dung cưa và đục nhỏ, sắc, đục
xương để nối các đường cắt xương với nhau (hình 2.12).
+ Đường 1: đường ngang, ngay trên gai chậu trước dưới, dài
khoảng 5 - 8mm.
+ Đường 2: tiếp theo đường 1, chéo xuống dưới tạo góc 90 0 – 1350
với đường 1, dài khoảng 5 - 7mm.
Giữa đường 1 và 2 sẽ tạo ra một cầu chặn xương mé ngoài.
+ Đường 3: chéo tạo góc 900 – 1350 với đường 2, dài khoảng 8 10mm. Vị trí đặt mảnh ghép.
+ Đường 4: tiếp theo đường 3 đi xuống dưới, dài khoảng 10mm.
+ Đường 5: tiếp theo đường 4 chéo vào trong, dài khoảng 6 - 8mm.
Giữa đường 4 và 5 sẽ tạo ra một cầu chặn
xương
Hình 2.12. Đường cắt xương chậu
BN Phạm Đỗ Minh A
Mã bệnh án 14198596
8
- Thực hiện ghép xương: Chuẩn bị mảnh ghép xương mác hình chêm:
Chiều dài khoảng 11 -15mm, chiều cao 13 - 15mm, chiều rộng 8 - 10mm
Mảnh xương được ghép vào giữa đường cắt số 3.
* Bước 4: Đóng trường mổ
2.2.4.5. Chăm sóc sau phẫu thuật
2.2.4.6. Quy trình bó bột và tập phục hồi sau bó bột
- Bó bột chậu lưng chân đùi ngay sau PT tại bàn mổ với tư thế khớp háng
- Thường xuyên
- Hoàn toàn
1
5
Tầm vận động
- Hạn chế ít, không có biến dạng cố định
4
- Nhiều hơn một nửa khoảng bình thường
3
- Ít hơn một nửa khoảng bình thường
2
Tiêu chuẩn 3.
- Ít hoặc không có
- Không có
1
1
Khập khiễng
Tiêu chuẩn 4.
2
0
Tiêu chuẩn 6.
- < 20
- Bình thường:
1
3
Hình dạng cổ
- Cổ xương đùi biến dạng một phần: to,
2
xương đùi
ngắn hoặc bẹt chỏm và cổ
Tiêu chuẩn 7.
- Biến dạng nặng >50% kích thước
- Liên tục
1
1
phương pháp thống kê y học với phần mềm SPSS 20.0.
2.4. Đạo đức của nghiên cứu
Nghiên cứu đã được sự thông qua của Trường Đại học Y Hà Nội và
sự chấp thuận của Bệnh viện Nhi Trung ương theo quyết định số
220B/BVNTW- VNCSKTE ngày 11/4/2013.
Chương 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng TKHBS
3.1.1. Đặc điểm đối tượng nghiên cứu
- Tuổi của đối tượng nghiên cứu (tháng)
Bảng 3.1. Tuổi phát hiện bệnh và tuổi PT (n = 61 BN)
Tuổi phát hiện
bệnh và PT
Tình trạng TKHBS
Lứa tuổi
n
Tỷ lệ (%)
10
Tuổi phát hiện
bệnh (TKHBS)
Tuổi PT
< 12 tháng
12 - < 24 tháng
Nhận xét:
Tuổi phát hiện bệnh ở nhóm 12 - < 24 tháng chiếm tỷ lệ cao nhất
68,9% (42/61).
Bệnh nhân được can thiệp PT ở thời điểm từ 18 - 24 tháng tuổi
chiếm tỷ lệ cao nhất 68,9%.
3.1.3. Đặc điểm lâm sàng
- Tình trạng TKHBS theo giới tính (n = 61 BN)
Biểu đồ 3.2. Trật khớp háng theo giới tính
Nhận xét:
Trong số 61 BN bị TKHBS, tỷ lệ BN nữ mắc cao nhất 88,5%, tỷ
lệ BN nam mắc 11,5%. Tỷ lệ nữ/nam = 7,7/1.
- Mức độ chênh lệch chiều dài chi (chỉ tính riêng ở các cháu bị chênh
lệch chiều dài chi dưới)
Bảng 3.6. Mức độ chênh lệch chiều dài chi (n
= 49)
11
Chênh lệch chiều dài chi trước
n
Tỷ lệ (%)
PT
1 - ≤ 1,5cm
6
12,2
> 1,5 - ≤ 2cm
31
+ Chiều dài trung bình (TB ± SD) = 12,3 ± 0,7mm, dài nhất
15mm, ngắn nhất 11mm.
+ Chiều cao trung bình (TB ± SD) = 13,5 ± 0,9mm, cao nhất
15mm, thấp nhất 13mm.
+ Chiều rộng trung bình (TB ± SD) = 9,2 ± 0,5mm, rộng nhất
10mm, hẹp nhất 8mm.
- Các tai biến, biến chứng do PT
Bảng 3.12. Tổng hợp các tai biến, biến chứng do PT
Tai biến trong mổ
Tổn thương động mạch đùi
Tổn thương thần kinh đùi
Tổn thương thần kinh đùi bì ngoài
Nhận xét:
n
0/73
0/73
4/73
Tỷ lệ (%)
0
0
5,5
- Tổn thương liên quan đến kỹ thuật PT: trong mổ không có
trường hợp nào bị tổn thương mạch máu và thần kinh. Chỉ có 4/73
trường hợp bị tổn thương dây thần kinh đùi bì ngoài.
3.2.2. Kết quả gần
3.2.3. Kết quả xa sau PT
Tất cả các BN đều được theo dõi đến thời điểm 12 tháng sau PT. Sau
TL
TL
TL
TL
n
n
n
n
(%)
(%)
(%)
(%)
a (1: 2; 3; 4)
Vận động hoàn
0 0 31 42,5 40 54,8 37 62,7
toàn (a)
< 0,01
Hạn chế ít, không
b (1: 2; 3; 4)
có biến dạng cố 66 90,4 20 27,4 22 30,1 14 23,7
< 0,01
định (b)
Nhiều hơn một
7 9,6 15 20,5 9 12,3 8 13,6 c (1: 3; 4) > 0,05
nửa khoảng bình
c (2: 1; 3; 4)
14
thường (c)
p
n
Tỷ lệ (%)
>25°
20
33,9
< 0,01
20°- 24°
18
30,5
< 0,01
< 20°
17
28,8
< 0,01
< 00
4
6,8
< 0,01
Tổng
59
100
Nhận xét:
Sau PT độ che phủ của ổ cối tốt với góc Wiberg > 200 chiếm tỷ
lệ 64,4%. Góc Wiberg < 20° chiếm tỷ lệ 28,8% sau PT ≥ 24 tháng.
Còn 4 trường hợp góc Wiber
5,5
0
0
0
0
0
0
Tổng
73
100
n
Sau PT
6 tháng
(2)
TL
n
(%)
6 94,
9
8
6 8,2
Sau PT
≥ 24
tháng(4)
TL
n
(%)
5 91,
4
5
1 1,7
0
0
1
1,7
0
0
2
3,4
e4 >0,05
Nhận xét:
Tỷ lệ hoại tử độ 1 trước PT là 5,5% so với sau PT 6 tháng là
5,5% và sau PT 12 tháng là 8,2%; không có sự thay đổi với p > 0,05. Tỷ
lệ này ở thời điểm 12 tháng so với thời điểm ≥ 24 tháng giảm từ 8,2%
xuống 1,7%; sự thay đổi có ý nghĩa thống kê với p < 0,05.
Sau PT > 24 tháng, tỷ lệ hoại tử độ 2,3,4 tăng lên do hoại tử
chỏm độ 1 chuyển sang nhưng sự thay đổi không có ý nghĩa thống kê
với p > 0,05.
3.2.3.9. Đánh giá hình dạng cổ xương đùi trước và sau PT
Bảng 3.20. Thay đổi hình dạng cổ xương đùi trước và sau PT theo
Trevor
Sau PT Sau PT ≥
Trước Sau PT 6
12 tháng 24 tháng
PT (1) tháng (2)
Hình dạng
(3)
(4)
p
cổ xương đùi
TL
TL
TL
TL
n
n
n
n
3.2.3.11. Đánh giá tình trạng góc ổ cối trước, sau PT
Bảng 3.22. Góc ổ cối trước và sau PT
Góc ổ cối
Thời điểm đánh giá
n
Trung bình
SD
Khoảng
Trước PT (1)
73
40,760
3,65
350-500
0
Ngay sau PT (2)
73
24,30
1,751
190-280
0
6 tháng sau PT (3)
73
22,37
1,53
190-260
12 tháng sau PT (4)
73
20,880
1,54
170-250
(15 - 17
điểm)
n
%
10 16,9
Trung bình
Xấu
(12 - 14
(< 11 điểm) Tổng
điểm)
n
%
n
%
6
10,2
4
6,8
59
≥ 24
tháng
Nhận xét: Đánh giá kết quả sau PT khi BN trên 5 tuổi; mức rất
tốt chiếm tỷ lệ cao nhất 66,1% (39/59 khớp háng); Tốt 16,9% (10/59
khớp háng); Trung bình 10,2% (6/59 khớp háng). Kết quả xấu chỉ có
6,8% (4/59 khớp háng) liên quan đến tái trật khớp háng, dáng đi, hoại tử
17
4.1.2. Các yếu tố liên quan đến TKHBS
4.1.3. Đặc điểm lâm sàng TKHBS
4.1.3.1. Tình trạng trật khớp háng theo giới tính
Kết quả nghiên cứu cho thấy: trong số 61 BN bị TKHBS, tỷ lệ BN
nữ chiếm 88,5% (54/61), tỷ lệ BN nam chỉ chiếm 11,5% (7/61), tỷ lệ
nữ/nam = 7,7/1 (biểu đồ 3.2).
Kết quả nghiên cứu trên của chúng tôi cũng tương tự như các
nghiên cứu trong và ngoài nước: Ulici A và cộng sự (2016) tỷ lệ nữ/nam
18
là 7/1. Woodacre T (2016) cho thấy tỷ lệ mắc TKHBS ở nữ cao hơn ở
nam, tỷ lệ nữ /nam là 7,2/1. Nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Hưng
(2013), tỷ lệ nữ giới là 86,3% (63/73); 13,7% (10/73) là nam; tỷ lệ
nữ/nam là 6,3/1.
4.1.3.2. Tình trạng trật khớp háng bên trái,bên phải và hai bên
Kết quả nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ trật khớp háng trái cao nhất
52,4% (biểu đồ 3.4).
Kết quả này cũng tương tự như nhiều nghiên cứu trong và ngoài
nước như: Trong nghiên cứu của Bhatti A và cộng sự (2014), có 31,57%
bị cả hai bên; 28,94% khớp háng phải; 39,47% khớp háng trái. Phan
Văn Tiếp (2001) cho thấy tỷ lệ trật khớp háng trái là 50,0%; bên phải là
16,7%; cả hai bên là 33,3%.
4.1.3.3. Tình trạng đau khớp háng
4.1.3.4. Tình trạng chênh lệch chiều dài chi dưới
Kết quả của chúng tôi, mức chênh lệch chiều dài hai chân từ trên 1,5cm
- ≤ 2cm là 63,4% và chênh lệch chiều dài chi hơn 2cm là 24,4% (bảng 3.6).
Kết quả này hoàn toàn phù hợp với thực tế bệnh cảnh lâm sàng
TKHBS.
4.1.3.5. Nghiệm pháp Galeazzi
góc ổ cối trung bình còn 13°. Tại Việt Nam, Nguyễn Ngọc Hưng
(2013), kết quả góc ổ cối đã được cải thiện rõ rệt: trước PT là 42,95°;
lần khám cuối, sau PT là 19,15°.
4.2.3. Các biến chứng sau can thiệp
4.2.3.1. Hoại tử chỏm xương đùi vô mạch (AVN)
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy, tỷ lệ hoại tử độ 1 trước
PT là 5,5% và sau PT 6 tháng là 5,5% và sau PT 12 tháng là 8,2% với
p > 0,05. Sau PT trên 24 tháng, tỷ lệ hoại tử độ 2,3,4 tăng lên do hoại tử
chỏm độ 1 chuyển sang nhưng sự thay đổi không có ý nghĩa thống kê
với p > 0,05 (bảng 3.19).
Trước năm 1960, theo Esteve Rafael tỷ lệ hoại tử chỏm xương đùi
vô mạch là 70% sau nắn chỉnh kín, tỷ lệ thấp nhất là 5% sau khi điều trị
nắn chỉnh kín và 0% sau khi phẫu thuật nắn chỉnh mở.
Aydin A và cộng sự (2012) thực hiện kỹ thuật cắt xương chậu tạo
hình ổ cối theo Pemberton trên 86 BN loạn sản ổ cối từ 12 - 36 tháng
tuổi. Kết quả, hoại tử chỏm xương đùi độ I là 9,9%; độ II là 7,7% và độ
III là 1,1%.
Kết quả sau PT cho thấy biến chứng hoại tử chỏm xương đùi trong
nhóm BN của chúng tôi thấp hơn của các tác giả trên. Kết quả này có
được là do chúng tôi không cắt xương đùi, đồng thời dùng mảnh xương
ghép đồng loại tạo hình ổ cối do đó làm hạn chế mức thấp nhất tình trạng
tổn thương mạch máu, mô mềm quanh khớp háng.
4.2.3.2. Biến dạng cổ xương đùi
Kết quả nghiên cứu cho thấy, hình dạng cổ xương đùi biến dạng
một phần trước PT là 6,8% so với 6,8% sau PT 6 tháng; 9,6% sau PT 12
tháng và 13,6% sau PT ≥ 24 tháng, sự thay đổi không có ý nghĩa thống
kê với p > 0,05 (bảng 3.20). Không có trường hợp nào biến dạng nặng
phần chỏm, cổ xương đùi trước và sau PT.
Các tác giả Trevor D, Johns DL, Fixsen JA (1975) cho thấy, trong
4.2.3.4. Tổn thương thần kinh đùi bì ngoài
Chúng tôi có 4/73 trường hợp tê bì mặt trước ngoài
đùi, đây là do tổn thương nhánh thần kinh đùi bì ngoài.
Nghiên cứu của tác giả Calver PT, khám lại cho 25 BN, phát hiện
vài trường hợp bị tê bì mặt ngoài đùi, vùng thần kinh đùi bì ngoài chi
phối. Đồng thời tác giả cũng tìm hiểu thấy trong số bệnh nhân TKHBS
do Chiari (1974); Benson and Evans (1976) điều trị có đến một nửa số
BN có tổn thương dây thần kinh đùi bì ngoài.
21
Như vậy, tổn thương nhánh dây thần kinh đùi bì ngoài trong nhóm
nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn của các tác giả khác. Lý do, chúng
tôi không phải lấy mảnh xương chậu tự thân, đường mổ của chúng tôi
ngắn, bắt đầu từ dưới gai chậu trước trên khoảng 1 - 2cm do đó đã giảm
tối đa nguy cơ gây tổn thương dây thần kinh đùi bì ngoài.
4.2.4. Tổng hợp kết quả PT
Kết quả sau PT của chúng tôi phân loại theo Trevor cho thấy: mức
xuất sắc chiếm tỷ lệ cao nhất 66,1% (39/59 khớp); mức tốt 16,9%
(10/59 số khớp); mức trung bình chỉ chiếm 10,2% (6/59 số khớp) và
mức xấu là 6,8% (4/59 số khớp) (bảng 3.25).
- Kết quả của chúng tôi tương tự như nghiên cứu của nhiều tác giả trong
và ngoài nước: Ertürk C (2011) phẫu thuật cho 38 BN với 49 khớp háng, kết
quả đánh giá theo Trevor cho thấy: mức rất tốt là 75.6%; tốt 16.3%; trung
bình 6.1% và kém là 2.0%. Eyre-Brook AL tiến hành PT cắt xương chậu tạo
hình ổ cối theo Pemberton cho 37 khớp háng tuổi từ 18 tháng - 13 tuổi. Kết
quả đánh giá theo Trevor: có 28/37 khớp rất tốt; 5/37 khớp tốt; 1/37 khớp
trung bình và 3/37 khớp kém.
Nguyễn Ngọc Hưng (2013) cho thấy kết quả 66,0% tốt; 27,4%
khá; 1,9% trung bình và 4,7% kém.
sau PT và tiếp tục cải thiện về sau. Ngay sau PT, góc ổ cối trung bình
đạt 24,30. Các chỉ số ổ cối đã được duy trì trong giai đoạn hậu phẫu và
qua các giai đoạn tiếp theo, sau hai năm, góc ổ cối trung bình đạt 18,60.
4.6.1.2. Cố định mảnh ghép vững chắc
Kỹ thuật cắt xương chậu Zigzag của Nguyễn Ngọc Hưng với tạo chặn
xương mé trong của đường cắt xương chậu nên không cần kết xương bằng
đinh Kisrchner và không có trường hợp nào bị trượt mảnh ghép
Trong một số trường hợp sử dụng mảnh ghép tự thân là xương cánh
chậu có thể thấy mảnh ghép bị xẹp gây mất vững thất bại của việc tạo
hình ổ cối.
4.6.1.3. Yếu tố thẩm mỹ, chức năng
Trong nghiên cứu, chúng tôi áp dụng đường mổ “bikini”, qua đó
cắt xương chậu Zigzag cải tiến kỹ thuật của Salter làm sâu, rộng ổ cối
kết hợp ghép xương mác đồng loại đối với tất cả BN. Do vậy, không
cần lấy xương cánh chậu nên đường mổ ngắn hơn, sẹo mổ dài 4 - 8cm,
vùng xương cánh chậu không bị khuyết lõm, đẹp hơn về mặt thẩm mỹ
cả mặt trước và mặt sau.
Kỹ thuật của chúng tôi không bộc lộ bản ngoài xương chậu, không
làm tổn thương cơ mông nhỡ nên tỷ lệ nghiệm pháp Trendelenburg
dương tính thấp 5,5% (4/73).
4.6.1.4. Lợi ích về kinh tế
Với sự cải tiến cắt xương chậu Zigzag, ghép xương không cần cố
định bên trong, do đó, sẽ tránh được cuộc mổ lấy bỏ đinh Kirschner,
ngoài việc giảm chi phí điều trị còn tiết kiệm thời gian, giảm căng
thẳng cho BN mang lại lợi ích sức khỏe cho bản thân
người bệnh, cho gia đình và xã hội.
4.6.2. Khó khăn của kỹ thuật cắt xương Zigzag
- Thời gian PT trung bình của chúng tôi là 90,5 phút (bảng 3.11), so
với thời gian PT thực hiện kỹ thuật Salter cổ điển là 80,0 phút, thời gian
- Kết quả chụp X quang: trật khớp háng trái, chiếm tỷ lệ cao nhất 52,4%,
trật khớp háng phải 27,9% và trật khớp háng hai bên 19,7%.
- Trật khớp háng độ III theo phân độ Tönnis chiếm 28,8%, trật
24
khớp háng độ IV theo phân độ Tönnis chiếm 71,2%.
- Góc thân cổ xương đùi trung bình là 145,80.
- Kết quả chụp MRI: góc nghiêng ổ cối trung bình là 22,10.
- Kết quả chụp CT scan: góc nghiêng trước cổ xương đùi trung
bình là 34,9 0.
2. Kết quả PT cắt xương Zigzag cải tiến kỹ thuật của Salter có ghép
xương đồng loại trong điều trị trật khớp háng bẩm sinh ở trẻ nhỏ
- Mức “vận động hoàn toàn” trước PT là 0%, sau PT là 62,7%. Tỷ
lệ “Không khập khiễng” tăng từ 0% trước PT lên 89,8% sau PT. Tình
trạng “không hạn chế chức năng” tăng có ý nghĩa thống kê từ 0% trước
PT lên 62,7% sau PT.
- Góc Wiberg: sau PT độ che phủ của ổ cối tốt với góc Wiberg >
200 chiếm tỷ lệ 64,4%.
- Góc ổ cối trước PT trung bình là 40,80; ngay sau PT là 24,30; sau
PT ≥ 24 tháng là 18,60.
- Tỷ lệ nhiễm khuẩn sau PT là 0%, không có tổn thương mạch máu,
thần kinh.
- Hoại tử chỏm xương đùi từ độ 1 - 4 là 8,5 %,
- Tái trật khớp là 6,8%.
- Không có trường hợp nào trượt mảnh ghép, thời gian liền xương
trong khoảng ba tháng.
- Kết quả sau PT, đánh giá khi trẻ > 5 tuổi đạt ở mức rất tốt chiếm
tỷ lệ cao nhất 66,1%; mức tốt là 16,9%; mức trung bình là 10,2%, kết
quả xấu chỉ có 6,8%.