Quản lý rủi ro đạo đức trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại việt nam - Pdf 51

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TÀI CHÍNH

HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
------------------

TRẦN TRUNG DŨNG

QUẢN LÝ RỦI RO ĐẠO ĐỨC
TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT
NAM

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ


HÀ NỘI - 2018


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TÀI CHÍNH

HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
------------------

TRẦN TRUNG DŨNG

QUẢN LÝ RỦI RO ĐẠO ĐỨC
TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH

Trang


iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Viết tắt

Giải nghĩa

AMA

Phương pháp đo lường hiện đại

CRO

Bộ phận quản lý rủi ro

EAR

Thu nhập chịu rủi ro

FTP

Định giá điều chuyển vốn nội bộ

GAP

Khe hơ

IRB


QLRR

Quản lý rủi ro

ROA

Tỷ suất sinh lời tài sản

ROE

Tỷ suất sinh lời vốn chủ sơ hữu

RRLS

Rủi ro lãi suất

RRTD

Rủi ro tín dụng

RRTK

Rủi ro thanh khoản

TPS

Hệ thống thông tin xử lý giao dịch

VAR

tiêu lợi nhuận. Rủi ro đạo đức là một trong rất nhiều rủi ro mà Ngân hàng thương
mại có thể gặp phải. Rủi ro đạo đức xảy ra trong mọi hoạt động kinh doanh của
Ngân hàng thương mại, tác động đến khả năng tiếp cận vốn của các doanh nghiệp,
từ đó tác động tiêu cực đến tăng trương và phát triển của nền kinh tế.
Trong những năm qua, đóng góp của hệ thống Ngân hàng thương mại Việt
Nam vào quá trình đổi mới và thúc đẩy tăng trương kinh tế, đẩy nhanh quá trình
công nghiệp hoá - hiện đại hoá là rất lớn. Các Ngân hàng thương mại không chỉ tiếp
tục khẳng định là một kênh dẫn vốn quan trọng cho nền kinh tế, mà còn góp phần
ổn định sức mua đồng tiền.
Cùng với quá trình cải cách và đổi mới, số lượng các Ngân hàng thương mại
Việt Nam đã tăng nhanh, đã và đang từng bước chuyển dần hướng tới một hệ thống
tương thích của các nền kinh tế đang nổi và mới phát triển. Ngân hàng là ngành
kinh doanh đặc biệt, nhạy cảm, gắn chặt với tiền, và luôn đối mặt với nhiều rủi ro.
Trong các vấn đề rủi ro, dường như rủi ro đạo đức đang là nguy cơ ngày càng lớn
đối với ngân hàng.
Trong hoạt động của mình, các ngân hàng đều gặp vấn đề về quản trị và vấn
đề quan trọng nhất và khó kiểm soát nhất là chuyên môn và đạo đức của người làm


2

ngân hàng. Tại Việt Nam, đến thời điểm này có chuyên gia đã nhận định rằng: “Sự
an toàn của hệ thống hiện nay nằm ơ phạm trù đạo đức nhiều hơn là chuyên môn”.
Một chuyên gia từ Uỷ ban Giám sát tài chính quốc gia cũng đã nói: “Vấn đề rủi ro
đạo đức của khối ngân hàng đã đến mức cảnh báo”.
Ngân hàng hoạt động kinh doanh bằng đồng tiền của người khác, hoạt động
của ngân hàng liên quan trực tiếp đến tiền cho nên đạo đức của người làm ngân
hàng là phải có trách nhiệm bảo vệ đồng tiền của người dân gửi tại ngân hàng và
coi sự an toàn của đồng tiền đó trên cả mục tiêu lợi nhuận, tuyệt đối không được sử
dụng tiền đó một cách vô trách nhiệm. Mặc dù, rủi ro đạo đức “dễ hiểu” hơn là rủi

ra trong những năm của cuộc khủng hoảng mà còn kéo dài nhiều năm sau đó vì chi
phí tổn thất của những cuộc khủng hoảng tài chính ngân hàng là rất lớn. Đơn cử là
trong cuộc khủng hoảng tiết kiệm và cho vay tại Mỹ (S&L), người gửi tiền và
người trả thuế bị tổn thất 150 tỷ đô la và chính phủ phải bỏ ra khoảng 350 tỷ đô la
trong vòng 30 năm nhằm khắc phục hậu quả. Vấn đề là trong các cuộc khủng hoảng
rộng khắp như vậy, nguồn tiền của các chính phủ bỏ ra lại chủ yếu là nguồn từ thu
thuế của những người trả thuế, nhằm phục vụ cho những thất bại thị trường do rủi
ro đạo đức gây ra.
Như vậy, nhằm bảo đảm cho một hệ thống tài chính ngân hàng hoạt động
ổn định, bền vững, đồng thời với việc giảm thiểu nguy cơ sụp đổ hệ thống này và
giảm thiểu tổn thất tài chính nếu sự sụp đổ cuối cùng vẫn xảy ra, cần phải xây
dựng một mạng lưới an toàn tài chính nhằm đưa rủi ro đạo đức vào trong tầm
kiểm soát. Mạng lưới này bao gồm kết hợp sự quản lý của các cấp quản lý vĩ mô
và quản lý của từng định chế tài chính tham gia vào thị trường này. Các biện pháp
từ cấp quản lý vĩ mô bao gồm thiết lập hệ thống giám sát, các quy định của chính
phủ một cách chặt chẽ và nghiêm túc, một cơ chế bảo hiểm tiền gửi lành mạnh,
một sự can thiệp phù hợp và đúng lúc của ngân hàng trung ương như người cho
vay cuối cùng... Kết hợp với các biện pháp này là các biện pháp quản lý tại mỗi
NHTM như điều kiện cấp tín dụng và thực hiện đầu tư, yêu cầu về bảo đảm tiền
vay, quy định về thẩm định xét duyệt cho vay và giám sát vốn vay, các yêu cầu
quản lý thông tin.
Xuất phát từ nhận thức quan trọng về lý luận và thực tiễn đó, tôi quyết định
chọn đề tài “Quản lý rủi ro đạo đức trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng
thương mại Việt Nam” cho luận án tiến sỹ kinh tế, với mong muốn hoàn thiện lý
luận chuyên môn của bản thân, tiếp cận nghiên cứu thực trạng quản lý rủi ro đạo
đức và đề xuất một số giải pháp nhằm quản lý rủi ro đạo đức tại các Ngân hàng


4




5

ro tiềm ẩn, trong đó nhấn mạnh yếu tố đạo đức và rủi ro đạo đức của con người
trong kinh tế, đặc biệt trong lĩnh vực ngân hàng.
(6) ErlendNier and Ursel Baumann 1, (2003), “Market discipline, disclosure
and moral hazard in banking” Cordella, Tito and Eduardo Levy Yeyati, (1998):
“Public Disclosure and Bank Failures”, CEPR Discussion Paper No. 1886 [82]
Trong tài liệu “Kỷ luật thị trường, tiết lộ và nguy hiểm về mặt đạo đức trong ngân
hàng” của tác giả ErlendNier và Ursel Baumann 1, (2003) và tài liệu “Tiết lộ công
khai và thất bại ngân hàng” của tác giả Cordella, Tito và Eduardo Levy Yeyati,
(1998) đã nghiên cứu về hoạt động của các Ngân hàng thương mại, những rủi ro
trong hoạt động kinh doanh của các Ngân hàng thương mại, những nguy cơ và tổn
thất khi rủi ro đạo đức xảy ra đối với các Ngân hàng thương mại.
(7) J.P.Niinimaki (2007), “Does collateral fuel moral hazard in banking?”
Discussion Paper, No 181, Helsinki center of economic research, August 2007,
ISSn 1795-0562. [91] Bài thảo luận, số 181 tại trung tâm nghiên cứu kinh tế
Helsinki, tháng 8 năm 2007, ISSN tác giả J.P.Niinimaki (2007) với bài viết “Tài sản
thế chấp có gây nguy hiểm về mặt đạo đức trong ngân hàng không?” đã đề cập đến
những quy định về tài sản bảo đảm, những rủi ro xảy ra đối với các Ngân hàng
thương mại khi bảo đảm tiền vay bằng hình thức thế chấp tài sản, tác giả phân tích
sâu yếu tố đạo đức và những nguy hiểm, những tổn thất đối với các Ngân hàng
thương mại và những khuyến nghị nhằm phòng ngừa rủi ro đạo đức.
(8) Lewis, Holden (18 April 2007). “Moral hazard’ helps shape mortagemortages/
20070418_subprime_mortage_morality_a1.Asp?caret=3c).Bankrate.com. [94] Tác
giả Lewis, Holden (18 tháng 4 năm 2007) với bài viết “Nguy hiểm về đạo đức”
giúp định hình mortagemortages / 2007 đã đề cập đến rủi ro đạo đức và những tổn
thất khôn lường khi xảy ra rủi ro đạo đức trong hoạt động ngân hàng.
2.2. Tình hình nghiên cứu ở trong nước

(12) Xuân Anh (2015), Cảnh báo rủi ro đạo đức cán bộ ngân hàng, Báo Sài
Gòn đầu tư, ngày 09/07/2015 [3], trong bài báo này tác giả nghiên cứu về những
hoạt động kinh doanh của các Ngân hàng thương mại, những rủi ro đạo đức trong
hoạt động kinh doanh của các Ngân hàng thương mại, các nguyên nhân và biện
pháp phòng ngừa
(13) Vân Giang (2016), Rủi ro đạo đức: dễ mắc, khó gỡ, Báo Việt ngày
11/11/2016 [14], trong bài viết này tác giả nghiên cứu khá chi tiết về rủi ro đạo đức
và những tổn thất do rủi ro đạo đức gây ra đối với các Ngân hàng thương mại, từ


7

việc phân tích những nguyên nhân, tác giả nhận định những nguy cơ xảy ra rủi ro
đạo đức trong hoạt động kinh doanh ngân hàng.
(14) ThS Vũ Thị Thanh Hà (2012), Mối quan hệ giữa rủi ro đạo đức trong
hoạt động ngân hàng và tự do hóa tài chính, Tạp chí ngân hàng số 12 tháng 6/2012
[16]. Từ những nghiên cứu về tự do hóa tài chính, những nguyên nhân dấn đến rủi
ro đạo đức trong bối cảnh tự do hóa tài chính và những hệ lụy của rủi ro đạo đức
gây ra.
(15) Các giáo trình sử dụng trong giảng dạy tại các trường đại học, cao đẳng
như: PGS. TS. Đinh Xuân Hạng, ThS Nguyễn Văn Lộc (chủ biên) (2012), “Giáo
trình Quản trị tín dụng Ngân hàng thương mại”, Nhà xuất bản Tài chính. 2012
[17]; Phan Thị Thu Hà (2009). Quản trị Ngân hàng thương mại, NXB Giao thông
vận tải, Hà Nội [15]; Peter Rose, Giáo trình quản trị Ngân hàng thương mại, NXB
Tài Chính, năm 2004 [51]; PGS.TS Nguyễn Đăng Đờn (2009), Quản trị NHTM
hiện đại, Nhà xuất bản Phương đông [12]; TS Nguyễn Minh Kiều, Giáo trình
nghiệp vụ Ngân hàng thương mại, NXB Thống Kê, năm 2006 [23]; Tiền tệ - Ngân
hàng và Thị trường Tài chính (1993) của Frederic S.Mishkin (NXB Khoa học và kỹ
thuật)… đều đề cập tới quy trình và phương pháp quản trị rủi ro trong hoạt động hệ
thống ngân hàng.

Vì vậy, đề tài “Quản lý rủi ro đạo đức trong hoạt động kinh doanh của
Ngân hàng thương mại Việt Nam” được phát triển nhằm bổ sung phần nghiên cứu
về cơ sơ lí luận và vận dụng trong điều kiện thực tiễn quản lý rủi ro đạo đức tại các
Ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn 2011 - 2017, từ đó đề xuất các giải
pháp tăng cường quản lý rủi ro đạo đức tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam
đến năm 2030.
3. Mục đích nghiên cứu
Đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường quản lý rủi ro đạo đức tại các Ngân
hàng thương mại Việt Nam.
Với mục đích nghiên cứu như vậy, luận án đặt ra những câu hỏi cần phải trả
lời, đó là:
- Thế nào là rủi ro đạo đức? thế nào là quản lý rủi ro đạo đức? nội dung, ý
nghĩa, mô hình và quy trình quản lý rủi ro đạo đức như thế nào?
- Thực trạng quản lý rủi ro đạo đức của các Ngân hàng thương mại Việt Nam
ra sao?
- Giải pháp nào để tăng cường quản lý rủi ro đạo đức của các Ngân hàng
thương mại Việt Nam trong thời gian tới?


9

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Xuất phát từ sự cần thiết của vấn đề cần nghiên cứu, trên cơ sơ yêu cầu và
với khả năng nghiên cứu, luận án lựa chọn đối tượng nghiên cứu chính là “Rủi ro
đạo đức”, “Quản lý rủi ro đạo đức” và “Quản lý rủi ro đạo đức tại các Ngân hàng
thương mại Việt Nam”.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Luận án tập trung nghiên cứu quản lý rủi ro đạo đức tiếp cận
theo các chuẩn mực quốc tế.

Phương pháp phỏng vấn: Phỏng vấn, xin ý kiến các chuyên gia, các cán bộ
nghiệp vụ và cán bộ quản lý tại một số chi nhánh của các Ngân hàng thương mại
Việt Nam (trực tiếp, qua thư điện tử) để có thêm các thông tin cần thiết, hữu ích
phục vụ cho quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận án.
Phương pháp khảo sát bằng bảng hỏi: Phát phiếu khảo sát thực trạng quản
lý rủi ro đạo đức tại trụ sơ và chi nhánh của các Ngân hàng thương mại Việt Nam
như: Hà Nội, Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh… để có thêm thông tin cho việc
đánh giá kiểm soát rủi ro đạo đức tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam. Các
Ngân hàng thương mại được NCS chọn khảo sát đảm bảo tính đại diện: Có chi
nhánh thành phố lớn, chi nhánh khu vực nông thôn, chi nhánh có tỷ lệ nợ xấu cao,
chi nhánh có tỷ lệ nợ xấu thấp. Do các mô hình lượng hóa, các công thức đo lường
vốn, đo lường, đánh giá rủi ro đã được đề cập và thừa nhận tính chính xác và khoa
học ơ các công trình nghiên cứu liên quan trước đó. Vì vậy, khi đề cập đến việc đo
lường, đánh giá, lượng hóa rủi ro, NCS không đi sâu vào nghiên cứu các kỹ thuật
tính toán mà sẽ kế thừa kết quả nghiên cứu các công trình liên quan.
Phương pháp, so sánh, phân tích, tổng hợp: Trên cơ sơ số liệu các báo cáo
thống kê của các Ngân hàng thương mại Việt Nam, NCS tiến hành tổng hợp, so
sánh, phân tích, nhằm đánh giá thực trạng rủi ro đạo đức và quản lý rủi ro đạo đức
tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2011 - 2017.
Phương pháp suy luận logic: Từ những cơ sơ lý luận và cơ sơ thực tiễn,
đặc biệt từ những tồn tại, yếu kém và nguyên nhân tại các Ngân hàng thương
mại Việt Nam về quản lý rủi ro đạo đức, NCS suy luận logic để đề xuất các giải
pháp và kiến nghị nhằm tăng cường quản lý rủi ro đạo đức tại các Ngân hàng
thương mại Việt Nam.


11

6. Đóng góp mới của luận án
- Về mặt lý luận:

*

Đổi mới mô hình tổ chức quản lý ngân hàng

*

Xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ gắn liền với quản lý rủi ro


12

Ba giải pháp mới này dựa trên cơ sơ khoa học lý luận và thực tiễn đầy đủ, có
tác động mạnh đến việc tăng cường quản lý rủi ro đạo đức cả trên phương diện vĩ
mô (Ngân hàng Nhà nước) và vi mô (Ngân hàng thương mại), nên có tính khả thi
cao so với các công trình về đề tài này đã công bố.
7. Kết cấu luận án
Ngoài phần mơ đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, kết
cấu của luận án gồm 3 chương:
Chương 1: Quản lý rủi ro đạo đức trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng
thương mại
Chương 2: Thực trạng quản lý rủi ro đạo đức trong hoạt động kinh doanh
của Ngân hàng thương mại Việt Nam
Chương 3: Giải pháp tăng cường quản lý rủi ro đạo đức trong hoạt động
kinh doanh của Ngân hàng thương mại Việt Nam


13

Chương 1
QUẢN LÝ RỦI RO ĐẠO ĐỨC TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH



14

khấu và thực hiện các dịch vụ cho Khách hàng trong nền Kinh tế
quốc dân.
1.1.1.2. Các hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại
Vai trò to lớn của ngân hàng đối với sự phát triển kinh tế xã hội xuất phát từ
chính đặc trưng của hoạt động kinh doanh ngân hàng. NHTM giống như các tổ
chức kinh doanh khác là hoạt động vì mục đích lợi nhuận song lại ơ lĩnh vực kinh
doanh đặc biệt: kinh doanh tiền tệ, một lĩnh vực cực kỳ nhạy cảm trong nền kinh tế
và có tác động tới mọi hoạt động khác. Do nhu cầu tất yếu của nền kinh tế thị
trường, các ngân hàng không ngừng tăng cường mơ rộng các danh mục các sản
phẩm nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của khách hàng, sử dụng nguồn
vốn có hiệu quả và thu lợi nhuận cao. Tuy nhiên, về cơ bản chúng ta có thể sắp xếp
các hoạt động đó vào một trong ba nhóm sau:
- Hoạt động huy động vốn
- Hoạt động sử dụng vốn
- Hoạt động cung cấp các dịch vụ tài chính
Ba hoạt động này có mối quan hệ chặt chẽ, hỗ trợ lẫn nhau và có vai trò quan
trọng quyết định đến sự thành công trong kinh doanh của ngân hàng.
Hoạt động huy động vốn
Một đặc trưng quan trọng trong hoạt động kinh doanh của NHTM tạo nên sự
khác biệt so với các doanh nghiệp kinh doanh trong các lĩnh vực phi tài chính là
hoạt động huy động vốn, một nghiệp vụ kinh doanh hết sức quan trọng của NHTM.
NHTM sử dụng uy tín và điều kiện sẵn có của mình để tiến hành huy động vốn.
Hoạt động này tạo nguồn vốn cho NHTM, vì thế đóng vai trò quan trọng, ảnh
hương tới chất lượng hoạt động của ngân hàng. Mặc dù bị giới hạn về mức huy
động vốn, song nếu các NHTM sử dụng tốt nguồn vốn này thì không những nguồn
lợi của ngân hàng được tăng lên mà còn tạo cho ngân hàng uy tín ngày càng cao.

toán hộ khách hàng về các khoản tiền mua bán dịch vụ thông qua việc thu hộ, chi
hộ khách hàng bằng hình thức séc, ủy nhiệm thu, ủy nhiệm chi, thư tín dụng…
- Dịch vụ bảo lãnh: Là nghiệp vụ mà Ngân hàng sẽ thực hiện nghĩa vụ tài
chính thay cho khách hàng của mình nếu khách hàng không thực hiện hoặc thực
hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết của họ đối với đối tác.
- Dịch vụ kinh doanh ngoại hối: Tiến hành đồng thời mua một loại tiền tệ
này và bán một loại tiền tệ khác.


16

- Dịch vụ chứng khoán: Ngân hàng làm đại lý phát hành và bán chứng khoán
(cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ …) cho khách hàng.
- Dịch vụ ngân hàng điện tử: Hiểu theo nghĩa trực quan đó là một loại dịch
vụ ngân hàng được khách hàng thực hiện nhưng không phải đến quầy giao dịch gặp
nhân viên ngân hàng. Hiểu theo nghĩa rộng hơn đây là sự kết hợp giữa một số hoạt
động dịch vụ ngân hàng truyền thống với công nghệ thông tin và điện tử viễn thông.
E-Banking là một dạng của thương mại điện tử (electronic commerce hay ecommerce) ứng dụng trong hoạt động kinh doanh ngân hàng. Cũng có thể hiểu cụ
thể hơn, E-Banking là một hệ thống phần mềm tin học cho phép khách hàng có thể
tìm hiểu thông tin hay thực hiện một số giao dịch ngân hàng thông qua phương tiện
điện tử (công nghệ thông tin, điện tử, kỹ thuật số, từ tính, truyền dẫn không dây,
quang học, điện từ hoặc công nghệ tương tự).
Như vậy, NHTM là một doanh nghiệp đặc biệt kinh doanh trên lĩnh vực
tiền tệ, thông qua nghiệp vụ huy động vốn để cho vay, đầu tư và thực hiện các
nghiệp vụ tài chính khác. Thông qua các nghiệp vụ, NHTM đã chứng tỏ được sự
cần thiết của hệ thống ngân hàng trong phát triển nền kinh tế thị trường, là đòn
bẩy của nền kinh tế.
1.1.1.3. Đặc điểm kinh doanh của Ngân hàng thương mại
Hoạt động NHTM là hình thức kinh doanh kiếm lời, theo đuổi mục tiêu lợi
nhuận là chủ yếu. Ngân hàng thực hiện hai hình thức hoạt động là kinh doanh tiền


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status