BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
NGUYỄN HẢI VIỆT
ĐÁNH GIÁ MỐI QUAN HỆ GIỮA HÀM LƯỢNG VÀ SỰ
TÍCH LŨY CỦA MỘT SỐ KIM LOẠI NẶNG TRONG
CÁC SINH VẬT HỌ HAI MẢNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ MÔI TRƯỜNG
Chuyên ngành: Quản lý Tài nguyên và Môi trường
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. TRẦN THANH CHI
Hà Nội - 2016
1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
NGUYỄN HẢI VIỆT
ĐÁNH GIÁ MỐI QUAN HỆ GIỮA HÀM LƯỢNG VÀ SỰ
TÍCH LŨY CỦA MỘT SỐ KIM LOẠI NẶNG TRONG
CÁC SINH VẬT HỌ HAI MẢNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ MÔI TRƯỜNG
Chuyên ngành: Quản lý Tài nguyên và Môi trường
1.3.2. Một số sinh vật họ hai mảnh tiêu biểu ................................................................ 18
1.3.3. Cách tiếp cận dùng sinh vật họ hai mảnh để đánh giá mối quan hệ giữa hàm
lượng và sự tích lũy của một số kim loại nặng.............................................................. 21
1.4. Một số nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam có liên quan ................................... 22
1.4.1. Một số nghiên cứu trên thế giới có liên quan ..................................................... 22
1.4.2. Một số nghiên cứu ở Việt Nam có liên quan ....................................................... 23
Chương 2 : Phạm vi đối tượng và phương pháp nghiên cứu........................................ 25
2.1. Địa điểm và đối tượng nghiên cứu ......................................................................... 25
2.1.1. Địa điểm lấy mẫu nghiên cứu ............................................................................. 25
Học viên: Nguyễn Hải Việt 2014B
i
Quản lý Tài nguyên và Môi trường
Viện Khoa học và Công nghệ môi trường – Đại học Bách khoa Hà Nội
2.1.2. Thời gian nghiên cứu .......................................................................................... 28
2.1.3. Đối tượng nghiên cứu ......................................................................................... 29
2.2. Phương pháp nghiên cứu. ...................................................................................... 29
2.2.1. Phương pháp hồi cứu. ......................................................................................... 29
2.2.2. Phương pháp xử lý số liệu................................................................................... 30
2.2.3. Phương pháp lấy mẫu và bảo quản mẫu ............................................................ 31
2.2.4. Phương pháp phân tích trong phòng thí nghiệm ................................................ 33
2.2.4.1. Phương pháp xử lý mẫu ................................................................................... 34
Chương 3 : Kết quả nghiên cứu và thảo luận ............................................................... 39
3.1. Diễn biến các kim loại trong môi trường nước mặt tại các điểm lấy mẫu trên
lưu vực sông Cầu........................................................................................................... 39
cứu ................................................................................................................................. 64
KẾT LUẬN .................................................................................................................... 68
KIẾN NGHỊ ................................................................................................................... 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................................ 70
Tài liệu tiếng Việt: ........................................................................................................ 70
Tài liệu tiếng Anh: ....................................................................................................... 71
Phụ lục 01. Danh sách nguồn thải tại 4 điểm lấy mẫu .............................................. 73
Phụ lục 02. Tiêu chuẩn đánh giá ô nhiễm KLN trong trầm tích ............................... 77
Phụ lục 3. Hình ảnh thiết bị phân tích kim loại nặng................................................ 78
Học viên: Nguyễn Hải Việt 2014B
iii
Quản lý Tài nguyên và Môi trường
Viện Khoa học và Công nghệ môi trường – Đại học Bách khoa Hà Nội
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 : Tính chất chung của một số kim loại............................................................. 5
Bảng 2.1: Danh mục điểm lấy mẫu trên sông Cầu ....................................................... 28
Bảng 2.2 : Bảng ký hiệu mẫu LVS Cầu ......................................................................... 28
Bảng 2.3 : Lịch lấy mẫu năm 2015 ............................................................................... 29
Bảng 2.4 : Chương trình phá mẫu bằng lò vi sóng ....................................................... 38
Bảng 3.1: Kết quả hàm lượng As trong nước tại các điểm lấy mẫu ............................. 39
Bảng 3.2: Kết quả hàm lượng Pb trong nước tại các điểm lấy mẫu ............................ 41
Bảng 3.3: Hàm lượng Cu (mg/L) tại các điểm lấy mẫu, LVS Cầu 2105 ...................... 43
Bảng 3.4 : Hàm lượng Cd (mg/L) tại các điểm lấy mẫu, LVS Cầu 2105 ..................... 43
Bảng 3.5: Hàm lượng As (mg/kg) trong trầm tích tại các điểm lấy mẫu...................... 45
Hình 1.4: Con Trai nước ngọt ....................................................................................... 19
Hình 1.5 : Con Hến nước ngọt ...................................................................................... 20
Hình 2.1 : Lưu vực sông Cầu ........................................................................................ 25
Hình 2.2. Sơ đồ vị trí khảo sát trên sông Cầu ............................................................... 27
Hình 2.3 : Lựa chọn Trùng trục và Hến........................................................................ 32
Hình 2.4 : Dụng cụ lấy mẫu Bathmet............................................................................ 32
Hình 2.5 : Thiết bị lấy mẫu trầm tích ............................................................................ 33
Hình 2.6: Quy trình phá mẫu As trong nước ................................................................ 34
Hình 2.7: Quy trình phá mẫu Cu, Cd, Pb trong nước .................................................. 35
Hình 2.8: Quy trình phá mẫu sinh vật họ hai mảnh ..................................................... 37
Hình 2.9: Quy trình xác định hàm ẩm .......................................................................... 38
Hình 3.1: Hàm lượng As(mg/L) các điểm năm 2015 .................................................... 40
Hình 3.2 : Diễn biến hàm lượng Pb(mg/L) các điểm lấy mẫu năm 2015 ..................... 42
Hình 3.3: Diễn biến hàm lượng As(mg/kg) trong trầm tích tại các điểm lấy mẫu ....... 45
Hình 3.4: Diễn biến hàm lượng Pb(mg/kg) trong trầm tích tại các điểm lấy mẫu ....... 48
Hình 3.5:Biểu đồ hàm lượng Cu (mg/kg) trong trầm tích tại các điểm lấy mẫu .......... 51
Hình 3.6:Biểu đồ diễn biến hàm lượng Cd (mg/kg) trong trầm tích năm 2015............ 52
Học viên: Nguyễn Hải Việt 2014B
v
Quản lý Tài nguyên và Môi trường
Viện Khoa học và Công nghệ môi trường – Đại học Bách khoa Hà Nội
Mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
Môi trường ngày nay đã trở thành vấn đề chung của toàn nhân loại, được
Quản lý Tài nguyên và Môi trường
Viện Khoa học và Công nghệ môi trường – Đại học Bách khoa Hà Nội
những hậu quả nghiêm trọng về môi trường. Ví dụ điển hình trong thời gian qua là
việc cá chết hàng loạt tại 4 tỉnh miền trung do công ty Formosa Hà Tĩnh xả thải ra
môi trường làm ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường, sức khỏe của người dân,
đánh bắt thủy hải sản, du lịch, … Chính vì vậy mà chúng ta phải quan tâm đặt biệt
đến phát triển kinh tế đi đôi với bảo vệ môi trường.
Trong những năm gần đây, tình trạng ô nhiễm các kim loại nặng là vấn đề
đáng quan tâm, đặc biệt ở các khu vực phát triển nhanh về công nghiệp. Một số kim
loại nặng dạng vết có thể gây độc tức thời hoặc ảnh hưởng lâu dài đến đời sống sinh
vật và sức khỏe con người ngay ở nồng độ thường như Pb, Cd, Hg, As, … Các chất
ô nhiễm sẽ thường tích lũy vào trầm tích đáy sông, hồ, cửa biển, … bởi sự lắng
đọng của các hạt lơ lửng. Sự tích tụ các chất ô nhiễm sẽ ảnh hưởng tới đời sống của
các sinh vật thủy sinh, gây ảnh hưởng tới sức khỏe con người. Trước tình hình ô
nhiễm môi trường và độc tính của các chất ô nhiễm tới sức khỏe cộng đồng, cần
phải đẩy mạnh công tác quan trắc, phân tích, đo đạc để phát hiện sớm những vấn đề
về môi trường và ô nhiễm để cảnh báo, để có các biện pháp bảo vệ và cải thiện môi
trường, giúp các nhà quản lý môi trường sớm hoạch định chính sách về môi trường,
... Hiê ̣n nay, ở nước ta đã hình thành ma ̣ng lưới quan trắ c môi trường ở mô ̣t số
bô ̣/ngành và điạ phương. Các tổ chức, đơn vi ̣cùng thực hiê ̣n công tác quan trắ c môi
trường nói chung, môi trường nước mă ̣t nói riêng trên nhiề u khu vực trong cả nước.
Sự tích lũy kim loại nặng trong mô của các sinh vật hai mảnh vỏ thường được sử
dụng để đánh giá mức độ ô nhiễm nơi sinh vật đó sống. Chính vì vậy mà tác giả đã
lựa chọn đề tài “Đánh giá mối quan hệ giữa hàm lượng và sự tích lũy của một số
kim loại nặng trong các sinh vật họ hai mảnh”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Quan trắc, phân tích hàm lượng kim loại nặng (As, Cd, Cu, Pb) trong môi
Mở đầu
-
Chương 1: Tổng quan
-
Chương 2: Phạm vi đối tượng và phương pháp nghiên cứu.
-
Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận.
-
Kết luận
Học viên: Nguyễn Hải Việt 2014B
3
Quản lý Tài nguyên và Môi trường
Viện Khoa học và Công nghệ môi trường – Đại học Bách khoa Hà Nội
Chương 1. Tổng quan
Trong những năm gần đây, ở Việt Nam việc đô thị hoá, sự gia tăng dân số và
sự phát triển mạnh mẽ các ngành xây dựng, giao thông, công nghiệp, nông nghiệp,
Quản lý Tài nguyên và Môi trường
Viện Khoa học và Công nghệ môi trường – Đại học Bách khoa Hà Nội
Commented [V1]: Bổ xung nêu lý do lựa chọn đối tượng
nghiên cứu. Chỉnh lại đánh số mục. VD: I.1,I.2 …
Nguyên.
1.1 Kim loại nặng
1.1.1 Khái niệm và tính chất của kim loại nặng.
Kim loại nặng là những kim loại có khối lượng riêng lớn hơn 5g/cm3 và
thông thường chỉ những kim loại hoặc các á kim liên quan đến sự ô nhiễm và độc
hại. Tuy nhiên chúng cũng bao gồm những nguyên tố kim loại cần thiết cho một số
sinh vật ở nồng độ thấp. Kim loại nặng được được chia làm 3 loại: các kim loại độc
(Hg, Cr, Pb, Zn, Cu, Ni, Cd, Co, Sn, …), những kim loại quý (Pd, Pt, Au, Ag, Ru,
…), các kim loại phóng xạ (U, Th, Ra, Am, …).
Bảng 1.1 : Tính chất chung của một số kim loại
Tính chất chung
Stt
Nguyên tố
Số
Phân loại
Mầu sắc
nguyên
4
Đồng (Cu)
xám
Khối lượng
nguyên tử
33
74,9216
82
207,2
48
112,411
29
63,543
Màu xanh
Kim loại
lam hoặc
độc sẽ xuất hiện. Do vậy, người ta bị ngộ độc không những với hàm lượng cao của
kim loại nặng mà cả khi với hàm lượng thấp và thời gian kéo dài sẽ đạt đến hàm
lượng gây độc. Tính độc hại của các kim loại nặng được thể hiện qua:
- Một số kim loại nặng có thể bị chuyển từ độc thấp sang dạng độc cao hơn
trong một vài điều kiện môi trường, ví dụ thủy ngân.
- Sự tích tụ và khuếch đại sinh học của các kim loại này qua chuỗi thức ăn có
thể làm tổn hại các hoạt động sinh lý bình thường và sau cùng gây nguy hiểm cho
sức khỏe của con người.
- Tính độc của các nguyên tố này có thể ở một nồng độ rất thấp khoảng 0.110 mg/l (theo Alkorta và cộng sự, 2004).
Ở nghiên cứu này tác giả đánh giá 4 kim loại chính là As, Pb, Cd và Cu để
phân tích, đánh giá hàm lượng và sự tích lũy của chúng trong môi trường nước mặt
lục địa, trầm tích sông và sinh vật họ hai mảnh.
1.1.2. Một số kim loại và á kim điển hình
Commented [V2]: Chỉnh lại tên mục cho logic
1.1.2.1. Asen (As)
Asen hay còn gọi là thạch tín, một nguyên tố hóa học có ký hiệu As và số
nguyên tử 33. Asen lần đầu tiên được Albertus Magnus(Đức) viết về nó vào năm
1250. Khối lượng nguyên tử của nó bằng 74,92. Vị trí của nó trong bảng tuần hoàn
được đề cập ở bảng mé bên phải.
Asen là một á kim gây ngộ độc khét tiếng và có nhiều dạng thù hình: màu
Học viên: Nguyễn Hải Việt 2014B
6
Quản lý Tài nguyên và Môi trường
Chì là một nguyên tố hóa học trong bảng tuần hoàn hóa học viết tắt
Học viên: Nguyễn Hải Việt 2014B
7
Quản lý Tài nguyên và Môi trường
Viện Khoa học và Công nghệ môi trường – Đại học Bách khoa Hà Nội
là Pb (Latin: Plumbum) và có số nguyên tử là 82. Chì có hóa trị phổ biến là II, có
khi là IV. Chì là một kim loại mềm, nặng, độc hại và có thể tạo hình. Chì có màu
trắng xanh khi mới cắt nhưng bắt đầu xỉn màu thành xám khí tiếp xúc với không
khí. Chì dùng trong xây dựng, ắc quy chì, đạn và là một phần của nhiều hợp kim.
Chì có số nguyên tố cao nhất trong các nguyên tố bền.
Chì kim loại có tồn tại trong tự nhiên nhưng ít gặp. Chì thường được tìm thấy
ở dạng quặng cùng với kẽm, bạc, đồng (phổ biến nhất) và được thu hồi cùng với các
kim loại này. Khoáng chì chủ yếu là galena (PbS), trong đó chì chiếm 86,6% khối
lượng. Các dạng khoáng chứa chì khác như cerussite (PbCO3) và anglesite (PbSO4).
Chì là một kim loại độc có thể gây tổn hại cho hệ thần kinh, đặc biệt là ở trẻ
em và có thể gây ra các chứng rối loạn não và máu. Ngộ độc chì chủ yếu từ đường
thức ăn hoặc nước uống có nhiễm chì nhưng cũng có thể xảy ra sau khi vô tình nuốt
phải các loại đất hoặc bụi nhiễm chì hoặc sơn gốc chì. Tiếp xúc lâu ngày với chì
hoặc các muối của nó hoặc các chất ôxy hóa mạnh như PbO 2 có thể gây bệnh thận
và các cơn đau bất thường giống như đau bụng. Đối với phụ nữ mang thai, khi tiếp
xúc với chì ở mức cao có thể bị sẩy thai. Tiếp xúc lâu dài và liên tục với chì làm
giảm khả năng sinh sản ở nam giới. Thuốc giải hoặc điều trị nhiễm độc chì
là dimercaprol và succimer.
Chì trong không khí có thể bị hít vào hoặc ăn sau khi nó lắng đọng. Nó bị
bụi sinh ra khi tái chế phế thải sắt và thép.
Theo nhiều nhà chuyên gia, thì hút thuốc cũng là nguyên nhân đáng kể gây
nhiễm Cadimi. Sự hấp thụ hợp chất Cadimi tùy thuộc vào độ hòa tan của chúng.
Cadimi tích tụ phần lớn ở thận và có thời gian bán hủy sinh học dài, từ 10 - 35 năm.
Cadmium được biết gây tổn hại đối thận và xương ở liều lượng cao. Nghiên
cứu 1021 người đàn ông và phụ nữ bị nhiễm độc Cd ở Thụy Điển cho thấy nhiễm
độc kim loại này có liên quan đến gia tăng nguy cơ gãy xương ở độ tuổi trên 50.
Bệnh itai-itai là bệnh do sự ngộ độc Cd trầm trọng. Tất cả những bệnh nhân với
bệnh này điều bị tổn hại thận, xương đau nhức trở nên giòn và dễ gãy (Nogawa và
cộng sự, 1999).
IARC đã xếp Cadimi và hợp chất của nó vào nhóm 2A. Phần lớn Cadimi
thâm nhập vào cơ thể người được đào thải qua thận. Một phần nhỏ được liên kết
mạnh với protein của cơ thể thành metallothionein có ở thận, phần còn lại được giữ
trong cơ thể và dần dần được tích lũy theo thời gian. Khi lượng Cd2 được tích trừ đủ
lớn, nó sẽ thế chỗ Zn 2+ ở các enzym quan trọng và gây rối loạn tiêu hóa. Lượng đưa
vào cơ thể hàng tuần có thể chịu đựng được (PTWI) được ấn định là 7 µg/kg thể
trọng.
1.1.2.4. Đồng (Cu)
Đồng là nguyên tố hóa học trong bảng tuần hoàn nguyên tố có ký hiệu Cu và
Học viên: Nguyễn Hải Việt 2014B
9
Quản lý Tài nguyên và Môi trường
Viện Khoa học và Công nghệ môi trường – Đại học Bách khoa Hà Nội
số nguyên tử bằng 29. Đồng là kim loại dẻo có độ dẫn điện và dẫn nhiệt cao. Đồng
10
Quản lý Tài nguyên và Môi trường
Viện Khoa học và Công nghệ môi trường – Đại học Bách khoa Hà Nội
enzym. Đồng tham gia tạo sắc tố hô hấp hemoglobin. Các nghiên cứu y học cho
thấy khi nồng độ đồng cao hơn mức cho phép một số người có dấu hiệu mắc bệnh
do đồng lắng đọng trong gan, thận, não như bệnh về thần kinh schizophrenia.
Ngược lại, khi nồng độ đồng quá thấp, cơ thể phát triển không bình thường, đặc biệt
là với trẻ em. (Roberts, 1999)[30].
Mọi hợp chất của đồng đều là những chất độc, khoảng 30g CuSO4 có khả
năng gây chết người. Nồng độ an toàn của đồng trong nước uống đối với con người
dao động theo từng nguồn, khoảng 1,5 2mg/l. Lượng đồng đi vào cơ thể người
theo đường thức ăn mỗi ngày khoảng 2 4mg/l.
1.1.3. Các dạng tồn tại của kim loại nặng trong nước
Theo GS.TS Lâm Minh Triết [10], các dạng tồn tại của kim loại trong nước:
-
Các kim loại hòa tan: là những cấu tử kim loại hòa tan trong mẫu khi chưa
axit hóa, có khả năng lọt qua giấy lọc có kích thước 0,45μm.
-
Kim loại dạng huyền phù: là những cấu tử kim loại hòa tan trong mẫu khi
chưa axit hóa và có thể giữ lại trên giấy lọc có kích thước 0,45μm.
-
cacbonat và một quần thể các vi khuẩn (Trần Nghi, 2003)[6].
Trầm tích là một trong những đối tượng thường được nghiên cứu để đánh giá
và xác định mức độ cũng như nguồn gây ô nhiễm kim loại nặng đối với môi trường
nước bởi hàm lượng kim loại trong trầm tích thường lớn hơn nhiều so với lớp nước
phía trên và có mối quan hệ chặt chẽ với hàm lượng của các ion kim loại tan trong
nước. Các kim loại trong nước có thể tích lũy đi vào trầm tích và ngược lại kim loại
trong trầm tích ở dạng di động có khả năng hòa tan ngược lại vào nước. Chính vì lí
do đó nên trầm tích được xem là một chỉ thị quan trọng dùng để nghiên cứu và đánh
giá sự ô nhiễm môi trường.
1.2.2. Các dạng tồn tại của kim loại trong trầm tích
Theo Tessier [41], kim loại trong mẫu trầm tích và mẫu đất tồn tại ở 5 dạng
chủ yếu sau:
-
Dạng trao đổi: Kim loại trong dạng này liên kết với các hạt keo trong trầm
tích (sét, hydrat của oxit sắt, oxit mangan, axit humic) bằng lực hấp phụ yếu.
Sự thay đổi lực ion của nước sẽ ảnh hưởng đến khả năng hấp phụ hoặc giải
hấp các kim loại này dẫn đến sự giải phóng hoặc tích lũy kim loại tại bề mặt
tiếp xúc của nước và trầm tích. Chính vì vậy, kim loại trong trầm tích ở dạng
này rất linh động có thể dễ dàng giải phóng ngược trở lại môi trường nước.
-
Dạng liên kết với cácbonat: Các kim loại tồn tại ở dạng kết tủa muối
cacbonat. Các kim loại tồn tại ở dạng này rất nhạy cảm với sự thay đổi của
pH, khi pH giảm các kim loại ở dạng này sẽ được giải phóng.
-
Dạng liên kết với Fe-Mn oxit: Ở dạng liên kết này kim loại được hấp phụ
Hình 1.1 : Sơ đồ phát tán kim loại nặng vào môi trường nước và trầm tích [15], [33]
Nguồn tự nhiên gồm các kim loại nằm trong thành phần của đất đá xâm nhập
vào môi trường nước và trầm tích thông qua các quá trình tự nhiên như: phong hóa,
xói mòn, rửa trôi.
Học viên: Nguyễn Hải Việt 2014B
13
Quản lý Tài nguyên và Môi trường
Viện Khoa học và Công nghệ môi trường – Đại học Bách khoa Hà Nội
Nguồn nhân tạo là các nguồn ô nhiễm từ các hoạt động sinh hoạt và sản xuất
của con người như: nước thải sinh hoạt, nông nghiệp, công nghiệp, y tế. Các kim
loại này sau khi đi vào nước sẽ tích lũy vào trầm tích cũng như các sinh vật thủy
sinh.
1.2.4. Cơ chế và các yếu tố ảnh hưởng đến sự tích lũy kim loại vào trầm tích
Các kim loại tích lũy vào trầm tích có thể xuất phát từ nguồn tự nhiên hoặc
nhân tạo. Sự tích lũy của các kim loại vào trầm tích có thể xảy ra theo 3 cơ chế sau:
-
Sự hấp phụ hóa lý từ nước. Sự hấp phụ hóa lý các kim loại trực tiếp từ nước
được thực hiện nhờ các quá trình hấp phụ các kim loại lên trên bề mặt của
các hạt keo, các quá trình trao đổi ion, các phản ứng tạo phức của các kim
loại nặng với các hợp chất hữu cơ hoặc do các phản ứng hóa học xảy ra làm
thay đổi trạng thái oxi hóa của các nguyên tố hay tạo thành các hợp chất ít
Commented [V3]: Đưa lên trước phần sinh vật hai mảnh
theo ý kiến cô Hà và hội đồng
Commented [V4]: Đưa xuống theo ý kiến hội đồng cho
logic, bổ xung tài liệu tham khảo
Viện Khoa học và Công nghệ môi trường – Đại học Bách khoa Hà Nội
(Bivalvia)[7].
Phần thân mềm gồm 3 phần: nang nội tạng, chân và màng áo. Đầu thoái hoá
nên còn gọi là lớp không đầu (Acephala). Hai vỏ được dính với nhau nhờ bản lề mặt
lưng. Giữa vỏ và bộ phận thân mềm có hai bó cơ ngang liên hệ để điều tiết sự đóng
mở vở gọi là cơ khép vỏ trước và cơ khép vỏ sau. Giữa màng áo và khoang nội tạng
có một khoảng trống gọi là xoang màng áo. Trong xong màng áo có mang dạng
hình tấm, nên gọi là mang tấm (Lamelli branchia). Chân ở mặt bụng của bộ phận
thân mềm, thường dẹp hai bên dạng lưỡi rìu, nên còn gọi là lớp chân rìu
(Pelecypoda).
Hình 1.2: Cấu tạo cơ thể lớp hai mảnh vỏ [7]
Hệ thống tiêu hoá bao gồm có mang, xúc biện, miệng, thực quản, dạ dày,
Học viên: Nguyễn Hải Việt 2014B
15
Quản lý Tài nguyên và Môi trường
Viện Khoa học và Công nghệ môi trường – Đại học Bách khoa Hà Nội
Học viên: Nguyễn Hải Việt 2014B
16
Quản lý Tài nguyên và Môi trường
Viện Khoa học và Công nghệ môi trường – Đại học Bách khoa Hà Nội
trưởng thành do chân bị thoái hoá nên chỉ còn hạch não và hạch nội tạng, cơ quan
cảm giác không phát triển.
Hệ cơ: Hệ cơ của động vật hai vỏ hết sức đơn giản chỉ có cơ khép vỏ và cơ
co rút chân. Cơ khép vỏ bao gồm có cơ khép vỏ trước và sau, tuy nhiên ở các loài
sống bám như Hầu cơ khép vỏ trước bị thoái hoá chỉ còn cơ khép vỏ sau.
1.3.1.2. Phương thức dinh dưỡng
- Thức ăn: Thức ăn của động vật hai mảnh vỏ thay đổi theo giai đoạn phát
triển của cơ thể. Giai đoạn ấu trùng khi đã phát triển thành ấu trùng đĩa bơi, các chất
dinh dưỡng trong cơ thể đã bị tiêu hao hết, cơ quan tiêu hoá đã dần được hình thành
và nó phải bắt mồi để dinh dưỡng. Trong sinh sản nhân tạo, thức ăn của ấu trùng là
một vấn đề cần chú trọng. Giai đoạn trưởng thành, chúng chỉ có khả năng chọn lựa
thức ăn về mặt vật lý nghĩa là theo cở lớn nhỏ. Cơ quan bắt mồi của nó (mang, xúc
biện) không có khả năng chọn lựa các chủng loại thức ăn. Tất cả các loại mà vừa
miệng nó là nó nuốt hết, do đó trong dạ dày ta thường thấy có nhiều vật không tiêu
hoá được.
- Phương thức bắt mồi: Hầu hết các loài động vật hai mảnh vỏ bắt mồi bị động
theo hình thức lọc thức ăn nhiều lần.
+ Lần1: Tại màng áo, khi 2 vỏ mở ra nước và thức ăn ở ngoài vào cơ thể.
Những thức ăn cỡ lớn bị rơi xuống màng áo sau đó được các xúc tu màng áo
đưa ra ngoài, còn thức ăn cỡ nhỏ được đưa tới mang. Tại mang thức ăn được
hữu của Việt Nam và loài thường gặp là L. grayi.
Hình 1.3 : Trùng trục
Loài Trùng trục này có vỏ hẹp, dài, hình mũi giáo, chiều dài gấp 4 - 5 lần
chiều rộng; đuôi vỏ thon dần; mặt vỏ có nhiều nốt sần xếp thành hình chữ chi ở lớp
đầu và đỉnh vỏ, xen lẫn các gờ lưng bụng chạy dọc ở khoảng giữa vỏ; cạnh lưng vỏ
thẳng ngang. Các nốt sần và gờ lưng bụng mất dần đi ở con lớn. Lưu li màu trắng
ngà hay ngà vàng. Sống chính yếu ở sông vùng bình nguyên và trung du Việt Nam.
Thịt được dùng làm thực phẩm như trai, hến.
1.3.2.2. Trai nước ngọt
Học viên: Nguyễn Hải Việt 2014B
18
Quản lý Tài nguyên và Môi trường