Thực hiện chính sách bảo vệ môi trường trên địa bàn huyện đức phổ, tỉnh quảng ngãi - Pdf 51

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

CAO THỊ ÁNH NGUYỆT

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN ĐỨC PHỔ, TỈNH QUẢNG NGÃI

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

HÀ NỘI, năm 2018

1


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

CAO THỊ ÁNH NGUYỆT

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN ĐỨC PHỔ, TỈNH QUẢNG NGÃI

Chuyên ngành : Chính sách công
Mã số
: 834.04.02


mạnh, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn… Mặc dù, chính quyền cấp tỉnh cũng
như cấp huyện đã có những cố gắng nhất định trong công tác bảo vệ môi trường,
nhưng nhìn chung môi trường tại địa bàn các xã, thị trấn trong huyện hiện nay vẫn
còn nhiều vấn đề đáng quan tâm, đặc biệt là rác thải phát sinh ngày càng nhiều gây
ô nhiễm môi trường, có lúc, có nơi khiến nhân dân bức xúc. Một trong những
nguyên nhân quan trọng là quá trình thực hiện các chính sách, pháp luật về bảo vệ
môi trường trên địa bàn còn nhiều bất cập. Xuất phát từ những trăn trở đó, tác giả
3


lựa chọn đề tài: “Thực hiện chính sách bảo vệ môi trường trên địa bàn huyện Đức
Phổ, tỉnh Quảng Ngãi” làm luận văn thạc sỹ chính sách công, với mong muốn góp
phần nhỏ bé vào việc bảo vệ môi trường tại địa phương.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Bảo vệ môi trường luôn là vấn đề được cả xã hội quan tâm, đã có nhiều công
trình khoa học nghiên cứu về vấn đề này dưới nhiều góc độ chính trị, pháp luật,
kinh tế, môi trường, xã hội học, chính sách công… với quy mô rộng, hẹp khác nhau.
Khi nghiên cứu về vấn đề này, bước đầu tác giả đã tìm hiểu được những công trình
khoa học tiêu biểu liên quan đến nội dung đề tài như:
- Các công trình nghiên cứu về thực hiện chính sách bảo vệ môi trường:
Đã có một số luận văn thạc sỹ, chuyên ngành Chính sách công của Học viện
Khoa học xã hội đã thực hiện có nội dung về thực hiện chính sách bảo vệ môi
trường như: đã thực hiện có nội dung về thực hiện chính sách bảo vệ môi trường
như: Luận văn của Trần Thị Thùy Dung về “Thực hiện chính sách bảo vệ môi
trường từ thực tiễn thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi”; Luận văn của
Nguyễn Anh Dũng (2016) về “Chính sách môi trường từ thực tiễn tỉnh Bình
Phước”; Luận văn của Phạm Xuân Vinh (2016) về “Thực hiện chính sách bảo vệ
môi trường từ thực tiễn các Khu công nghiệp tỉnh Quảng Ngãi”; Luận văn của Lê
Trọng Dũng (2017) về “Thực hiện chính sách bảo vệ môi trường từ thực tiễn làng
nghề tại huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên”; Luận văn của Trần Diễm Loan (2017) về

trường cũng như chính sách bảo vệ môi trường trên các khía cạnh khác nhau, mức
độ khác nhau như: Luận văn thạc sỹ chuyên ngành kinh tế học (2012) “Quản lý nhà
nước về môi trường tại thành phố Đà Nẵng” của Nguyễn Lệ Quyên; Luận văn thạc
sỹ chuyên ngành khoa học môi trường của Trần Duy Khánh (2012), “Đánh giá hiện
trạng môi trường làng nghề và việc thực hiện chính sách pháp luật về BVMT làng
nghề tại một số tỉnh Bắc bộ”; Luận văn Thạc sĩ của tác giả Hồ Thị Ngọc Quyên tại
Đại học Đà Nẵng “Nghiên cứu thực trạng ô nhiễm môi trường và đề xuất các giải
pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường tại Làng nghề thủ công đá mỹ nghệ Non Nước,
quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng”; Bài viết của Nguyễn Hữu Chí “Về việc
thực hiện chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong vấn đề bảo vệ môi
trường” đã đánh giá kết quả thực hiện NQ 41 ngày 15 tháng 11 năm 2004, Bộ
5


Chính trị (khóa IX); Bài viết của nhóm tác giả: Nguyễn Thế Tiến, Phùng Chí Sỹ,
Viện Kỹ thuật nhiệt đới và Bảo vệ môi trường và Huỳnh Thị Minh Hằng, Viện Môi
trường và Tài nguyên - Đại học Quốc gia Hồ Chí Minh: "Các vấn đề môi trường
trong quá trình đô thị hóa - công nghiệp hóa ở thành phố Đà Nẵng"; Bài viết của
Thạc sĩ Nguyễn Thị Nga trên Tạp chí Cộng sản (2015): “Bảo vệ môi trường tự nhiên
ở Việt Nam – Yêu cầu cấp thiết”.
Tóm lại, vấn đề bảo vệ môi trường nói chung và thực hiện chính sách bảo vệ
môi trường nói riêng đã có nhiều công trình nghiên cứu ở những khía cạnh khác
nhau và mức độ khác nhau. Các công trình nghiên cứu cơ bản đã khái quát được
các vấn đề lý luận liên quan đến thực hiện chính sách bảo vệ môi trường, đánh giá
được việc thực hiện các chính sách này ở những nội dụng cụ thể, địa phương cụ thể
gắn với điều kiện kinh tế, xã hội của địa phương. Trên cơ sở đó, các công trình
nghiên cứu cũng đã đề xuất các giải pháp, đưa ra các kiến nghị nhằm hoàn thiện,
thực hiện có hiệu quả hơn nữa các chính sách về bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, tác
giả nhận thấy chưa có công trình nào nghiên cứu về thực hiện chính sách bảo vệ
môi trường tại huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi, cũng như chưa có công trình

4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là việc thực hiện chính sách bảo vệ môi
trường.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Không gian nghiên cứu của luận văn là tại huyện Đức Phổ,
tỉnh Quảng Ngãi.
- Về thời gian: Thời gian nghiên cứu của luận văn là việc thực hiện chính sách
bảo vệ môi trường tại huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi từ năm 2011 đến nay.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Để nghiên cứu việc thực hiện chính sách bảo vệ môi trường, luận văn sử dụng
các cách tiếp cận:
- Tiếp cận chính sách công: Tiếp cận chính sách công giúp cho việc nghiên
cứu tình hình thực hiện chính sách bảo vệ môi trường được xem xét ở nhiều góc độ,
từ đó sẽ có những giải pháp hoàn thiện hơn nữa việc thực thi chính sách bảo vệ môi
7


trường tại địa phương hiện nay.
- Tiếp cận hệ thống: Hệ thống là một thể thống nhất và khách quan để mọi chủ
thể tồn tại và phát triển. Các hoạt động của hệ thống luôn thể hiện ở trạng thái cân
bằng và được điều chỉnh kịp thời khi chịu tác động. Do đó, khi đánh giá bất kỳ vấn
đề gì cũng cần xem xét tính một cách toàn diện, tổng thể.
Với cách tiếp cận này, luận văn đã xem xét tổng thể vấn đề nghiên cứu như
một hệ thống, vừa đánh giá phân tích các yếu tố riêng lẻ vừa đặt chúng trong một
tổng thể lớn hơn. Điều này, hàm ý nhấn mạnh rằng việc thực hiện tốt chính sách bảo
vệ môi trường là rất quan trọng, do đó luôn phải đảm bảo sự phát triển hài hòa giữa
phát triển kinh tế xã hội và bảo vệ môi trường của một địa phương. Tiếp cận hệ
thống trong nghiên cứu này sẽ dựa vào định hướng chính trị, năng lực thực tế của
chủ thể tham gia thực hiện chính sách, môi trường thực hiện chính sách,sự tồn tại

vận dụng các lý thuyết về chính sách công, xem xét giữa lý thuyết và thực tiễn về
việc phân tích, đánh giá về chính sách bảo vệ môi trường tại huyện Đức Phổ, tỉnh
Quảng Ngãi từ đó nâng cao hiệu quả của chính sách trong những năm tiếp theo.
- Cung cấp thêm cơ sở khoa học cho ủy ban nhân dân tỉnh, huyện, các phòng,
ban, ngành, đoàn thể có liên quan trong quá trình thực hiện chính sách bảo vệ môi
trường để chính sách có thể mang lại hiệu quả trong việc phát triển kinh tế, xã hội,
bảo vệ môi trường tại địa phương trong thời gian đến.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của luận văn được chia làm
3 chương, cụ thể như sau:
- Chương 1. Cơ sở lý luận về thực hiện chính sách bảo vệ môi trường ở Việt
Nam.
- Chương 2. Thực trạng thực hiện chính sách bảo vệ môi trường tại huyện Đức
Phổ, tỉnh Quảng Ngãi.
- Chương 3. Các giải pháp tăng cường việc thực hiện chính sách bảo vệ môi
trường tại huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi.

9


10


CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG Ở VIỆT NAM
1.1. Một số khái niệm liên quan đến thực hiện chính sách bảo vệ môi trường
1.1.1. Môi trường và bảo vệ môi trường
Môi trường là khái niệm có nội hàm vô cùng rộng và được sử dụng trong
nhiều lĩnh vực khác nhau. Trong cuộc sống người ta dùng nhiều khái niệm môi

hành chính về môi trường đều có những chính sách môi trường riêng. Nó vừa cụ thể
hoá luật pháp và những chính sách của các cấp cao hơn, vừa tính tới đặc thù địa
phương. Việc ban hành chính sách của các cấp địa phương có vai trò quan trọng
trong đảm bảo sự thành công của các chính sách do cấp trung ương.
Theo quy định tại Luật Bảo vệ môi trường, các chính sách của Nhà nước về
bảo vệ môi trường được pháp luật quy định khá cụ thể như: Khuyến khích, tạo điều
kiện thuận lợi để mọi tổ chức, cộng đồng dân cư, hộ gia đình, cá nhân tham gia hoạt
động bảo vệ môi trường. Ðẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục, vận động, kết hợp áp
dụng các biện pháp hành chính, kinh tế và các biện pháp khác để xây dựng ý thức tự
giác, kỷ cương trong hoạt động bảo vệ môi trường. Sử dụng hợp lý, tiết kiệm tài
nguyên thiên nhiên, phát triển năng lượng sạch, năng lượng tái tạo; đẩy mạnh tái
chế, tái sử dụng và giảm thiểu chất thải. Ưu tiên giải quyết các vấn đề môi trường
bức xúc; tập trung xử lý các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng; phục hồi
môi trường ở các khu vực bị ô nhiễm, suy thoái; chú trọng bảo vệ môi trường đô thị,
khu dân cư. Ðầu tư cho việc bảo vệ môi trường là đầu tư cho sự phát triển; thực
hiện đa dạng hóa các nguồn vốn đầu tư cho bảo vệ môi trường và bố trí khoản chi
riêng cho sự nghiệp môi trường trong ngân sách nhà nước hằng năm. Việc ưu đãi về
đất đai, thuế, hỗ trợ tài chính cho các hoạt động bảo vệ môi trường và các sản phẩm
thân thiện với môi trường; kết hợp hài hoà giữa bảo vệ và sử dụng có hiệu quả các
thành phần môi trường cho phát triển. Tăng cường đào tạo nguồn nhân lực, khuyến
khích nghiên cứu, áp dụng và chuyển giao các thành tựu khoa học và công nghệ về
bảo vệ môi trường; hình thành và phát triển ngành công nghiệp môi trường. Mở
rộng và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế; thực hiện đầy đủ các cam kết quốc tế về
12


bảo vệ môi trường; khuyến khích tổ chức, cá nhân tham gia thực hiện hợp tác quốc
tế về bảo vệ môi trường. Phát triển kết cấu hạ tầng bảo vệ môi trường; tăng cường,
nâng cao năng lực quốc gia về bảo vệ môi trường theo hướng chính quy, hiện đại.
Nhà nước ta đã ban hành một hệ thống các chính sách, văn bản quy phạm

môi trường trên thực tế. Chính sách bảo vệ môi trường là một nội dung của Chính
sách công, do đó các bước tổ chức thực hiện chính sách bảo vệ môi trường về cơ
bản tương tự với Chính sách công, tuy nhiên có một số đặc trưng riêng, cụ thể:
Bước 1. Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách bảo vệ môi trường.
Đây là bước đầu tiên và có ý quan trọng quyết định thành bại của việc thực
hiện chính sách bảo vệ môi trường. Hệ thống chủ thể thực hiện chính sách bảo vệ
môi trường theo thẩm quyền được phân công xây dựng kế hoạch triển khai thực
hiện chính sách với các nội dung như:
+ Kế hoạch tổ chức nhân sự bao gồm: bộ phận điều hành, bộ phận thực thi,
giám sát…;
+ Kế hoạch xây dựng các phương án về vật chất, tiền bạc… cho việc thực hiện
chính sách;
+ Kế hoạch cho từng giai đoạn cụ thể với mục tiêu cụ thể của quá trình thực
hiện chính sách bảo vệ môi trường;
+ Kế hoạch về các nội dung khen thưởng và chế tài cho các cá nhân, tổ chức
thực hiện chính sách;
+ Kế hoạch đánh giá, lấy ý kiến của những đối tượng chịu tác động của việc
thực hiện chính sách ở từng giai đoạn và sau khi chính sách được thực hiện;
Kế hoạch thực hiện chính sách bảo vệ môi trường phải được xây dựng dựa vào
những quy định thống nhất của Nhà nước về bảo vệ môi trường, phù hợp với mục
tiêu, nội dung của chính sách và mang tính khả thi. Bên cạnh đó, kế hoạch phải
được ban hành bởi cá nhân, cơ quan đúng thẩm quyền quy định và được xây dựng
đảm bảo dân chủ, cầu thị.
Bước 2. Phổ biến, tuyên truyền chính sách bảo vệ môi trường.
Tuyên truyền, phổ biến pháp luật là bước giúp quảng bá, truyền thông kế
hoạch thực hiện chính sách nói riêng và chính sách bảo vệ môi trường nói chung.
Việc tuyên truyền hiệu quả mới thu hút được sự tham gia đông đảo của người dân
14





của từng người và nhóm người trong thực hiện chính sách bảo vệ môi trường.
Phối hợp thực hiện chính sách được thực hiện sau khi có sự phân công. Phối
hợp là sự kết nối, thể hiện mối quan hệ giữa những người hay nhóm người với nhau
trong thực hiện chính sách. Sự phối hợp chặt chẽ, hợp lý sẽ đem lại hiệu quả tích
cực trong công việc, ngược lại nếu không có sự phối hợp chặt chẽ sẽ ảnh hưởng rất
lớn đến hoạt động thực hiện chính sách bảo vệ môi trường.
Bước 4. Duy trì chính sách bảo vệ môi trường.
Duy trì chính sách bảo vệ môi trường là việc làm quan trọng giúp quá trình
thực hiện chính sách đạt được mục tiêu đã đề ra. Bước này phải được đảm bảo để
tránh tình trạng thực hiện chính sách theo phong trào, không đảm bảo tính toàn vẹn
của chính sách. Để duy trì được chính sách bảo vệ môi trường đòi hỏi sự tham gia
của nhiều chủ thể, song quan trọng nhất chính là những người trực tiếp thực hiện
chính sách bảo vệ môi trường theo nhiệm vụ đã phân công, trong đó những cá nhân,
tổ chức càng trực tiếp càng quan trọng. Bên cạnh đó cũng phải kể đến vai trò duy trì
chính sách của người dân, bởi lẽ nguyên do chủ yếu khiến cho tình trạng môi
trường bị ô nhiễm xuất phát từ hoạt động sản xuất và sinh sống của người dân.
Bước 5. Điều chỉnh chính sách bảo vệ môi trường.
Xã hội luôn biến đổi, các mối quan hệ xã hội cũng vì thế mà thay đổi theo
nhiều chiều hướng khác nhau. Quy mô của sản xuất, kinh doanh và các hoạt động
sống khác có xu hướng gia tăng theo thời gian, khiến cho tình trạng ô nhiễm môi
trường trở nên trầm trọng, các nội dung chính sách như mục tiêu, công cụ, giải
pháp… để thực hiện chính sách bảo vệ môi trường cũng vì thế có những biến đổi
khác đi so với thời điểm bắt đầu thực hiện chính sách. Chính vì thế, cần thiết có sự
điều chỉnh của chính sách để phù hợp hơn với những thay đổi của xã hội. Việc điều
chỉnh chính sách phải diễn ra kịp thời với những quan sát nhạy bén nhằm đảm bảo
thực hiện chính sách bảo vệ môi trường đi đúng hướng và đúng tiến độ đã đề ra.
Bước 6. Theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chính sách bảo vệ môi
trường.

lấy trọng tâm là các cá nhân, tổ chức công quyền được giao nhiệm vụ thực hiện
chính sách bảo vệ môi trường. Bên cạnh đó, cũng cần kể tới các bên liên quan khác.
Theo đó chủ thể thực hiện chính sách bảo vệ môi trường gồm:
17


Thứ nhất, chủ thể thực hiện chính sách bảo vệ môi trường trọng tâm là hệ
thống các cơ quan quản lý nhà nước có chức năng thực hiện chính sách về bảo vệ
môi trường. Các cơ quan này từ trung ương đến địa phương bao gồm: Chính phủ,
Bộ Tài nguyên và Môi trường, các bộ, cơ quan ngang bộ, Uỷ ban nhân dân các cấp
được quy định cụ thể tại chương XIV Luật bảo vệ môi trường 2014, Ban quản lý
các khu công nghiệp, Sở Tài nguyên và môi trường, Cảnh sát môi trường là cơ quan
tham mưu, giúp việc UBND Tỉnh, thành phố trong việc thực hiện trách nhiệm bảo
vệ môi trường. Cụ thể thẩm quyền của các chủ thể như sau:
- Chính phủ thống nhất quản lý, chỉ đạo điều hành thực hiện Chương trình, Kế
hoạch bảo vệ môi trường trong cả nước.
- Bộ Tài nguyên và Môi trường chịu trách nhiệm trước Chính phủ về các lĩnh
vực: môi trường, tài nguyên nước, đất đai; tài nguyên khoáng sản…và có nhiệm vụ
trình Chính phủ dự án luật, dự thảo nghị quyết của Quốc hội, dự án pháp lệnh, dự
thảo nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, dự thảo nghị quyết, nghị định của
Chính phủ và quyết định của Thủ tướng Chính phủ theo chương trình, kế hoạch xây
dựng pháp luật về BVMT; phê duyệt chiến lược, quy hoạch, chương trình phát triển
các ngành, lĩnh vực về BVMT; chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra và tổ chức thực hiện
các văn bản quy phạm pháp luật thuộc phạm vi quản lý của Bộ; thông tin, tuyên
truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về tài nguyên và môi trường.
- Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ thuộc Chính phủ: có trách nhiệm
phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường xây dựng, ban hành thông tư, thông tư
liên tịch về bảo vệ môi trường trong lĩnh vực do bộ, cơ quan ngang bộ trực tiếp
quản lý
Trách nhiệm của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ được quy định cụ

với các tổ chức kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân; tham gia quản lý hoạt động tổ chức
và hoạt động của các hội trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường thuộc thẩm quyền
của UBND cấp huyện.
Thực hiện công tác thông tin, báo cáo định kỳ và đột xuất về tình hình thực
hiện nhiệm vụ được giao theo quy định ủa UBND cấp huyện và Sở Tài nguyên và
Môi trường
Thứ hai, bên cạnh các chủ thể là cơ quan quản lý nhà nước về môi trường kể
19


trên, các bên liên quan trong thực hiện chính sách bảo vệ môi trường còn bao gồm:
Mặt trận tổ quốc Việt Nam, các Tổ chức chính trị - xã hội và các cá nhân, tổ chức
xã hội liên quan trực tiếp đến hoạt động bảo vệ môi trường. Trong đó Mặt trận tổ
quốc Việt Nam và các Tổ chức chính trị - xã hội là những tổ chức có chức năng chủ
yếu tuyên truyền chính sách bảo vệ môi trường đến người dân và xã hội. Bên cạnh
đó, hai nhóm tổ chức này còn có chức năng giám sát và phản biện trong xuyên suốt
chu trình chính sách, từ xây dựng, ban hành đến thực hiện. Chức năng giám sát và
phản biện nếu được thực hiện hiệu quả, khách quan sẽ đóng vai trò lớn đối với hiệu
quả của thực hiện chính sách bảo vệ môi trường nhờ tạo ra được những áp lực cần
thiết lên chủ thể thực hiện chính sách cũng như giúp chuyển tải tiếng nói của người
dân, đặc biệt những người trực tiếp chịu sự tác động của chính sách bảo vệ môi
trường.
Người dân và đại diện cộng đồng dân cư tại nơi chịu sự ảnh hưởng trực tiếp
của chính sách bảo vệ môi trường có những quyền nhất định đối với việc thực hiện
chính sách.
Ngoài ra, các tổ chức xã hội, các tổ chức Phi chính phủ (NGo) hoạt động trong
lĩnh vực bảo vệ môi trường cũng có những tác động nhất định đến thực hiện chính
sách bảo vệ môi trường. Các tổ chức xã hội với tư cách là đại diện lợi ích của các
nhóm dân cư sẽ là phương tiện khuếch đại tiếng nói của người dân về các vấn đề
liên quan đến môi trường, đồng thời đó cũng là kênh giám sát quan trọng của người

số ngân sách hạn chế để thực hiện chính sách bảo vệ môi trường và đôi khi đây
chính là đối tượng đánh đổi đầu tiên cho giấc mơ phát triển kinh tế vượt bậc. Chính
vì thể có thể khẳng định tình trạng ô nhiễm môi trường ở các quốc gia này ngày
càng trầm trọng.
Ở khía cạnh khác, sự phát triển kinh tế luôn tác động đến môi trường, qua đó
gián tiếp làm ảnh hưởng đến sự thành bại của thực hiện chính sách bảo vệ môi
trường. Cụ thể, kinh tế phát triển với tốc độ ngày càng nhanh của các tổ chức sản
xuất, khai thác kéo theo hai hệ quả: thứ nhất, nhu cầu nguyên liệu đầu vào tăng
nhanh. Với các quốc gia đang phát triển, nguyên liệu đầu vào đa số được khai thác
trực tiếp từ tự nhiên thay vì tìm kiếm các nguyên liệu nhân tạo thay thế. Hoạt động
khai thác nguyên liệu từ tự nhiên khiến cho tài nguyên dần bị cạn kiệt, các hoạt
21


động khai thác có tác động tiêu cực đến môi trường sống tự nhiên. Tình trạng ô
nhiễm môi trường ngày càng trầm trọng. Thực tế cho thấy, hoạt động khai thác tác
động xấu đến môi trường nhanh chóng, nhưng để phục hồi môi trường nhờ các
chính sách bảo vệ môi trường phải tiêu tốn rất nhiều thời gian và tiền bạc. Chính vì
thế, kết quả của các chính sách bảo vệ môi trường còn phụ thuộc vào mức độ tác
động tiêu cực của hoạt động khai thác nguyên liệu tự nhiên phục vụ phát triển kinh
tế. Mặt khác, hoạt động sản xuất, kinh doanh cũng đem đến những tác động tiêu cực
khi tạo ra lượng rác thải lớn làm ảnh hưởng đến cả môi trường nước, đất và không
khí. Nền kinh tế càng phát triển, thị trường càng nhộn nhịp thì hoạt động sản xuất
và kinh doanh càng lớn, dẫn đến tỷ lệ nghịch về mức độ trong lành của môi trường.
Cũng như hoạt động khai thác, các hệ lụy từ sản xuất và kinh doanh đến môi trường
luôn có xu hướng lớn hơn kết quả của các hoạt động bảo vệ môi trường. Chính vì
thế có thể nói ở khía cạnh này, mặt trái của phát triển kinh tế làm môi trường bị hủy
hoại mạnh mẽ hơn và khiến cho việc thực hiện chính sách bảo vệ môi trường gặp
khó khăn và kém hiệu quả.
Như vậy, có thể thấy, tác động của kinh tế đối với hoạt động bảo vệ môi

kiểm chứng trên thực tiễn, bởi đến nay chưa xác lập được một hoạt động thực hiện
chính sách mà toàn bộ xã hội đều tham gia vào đó với một mục đích chung, do vậy
đây vẫn chỉ là mô hình lý tưởng.
Thứ hai, đối với việc làm, yếu tố quan trọng ở đây là sự gia tăng của các việc
làm tự phát, trong đó có nhiều hoạt động ngành nghề tự phát tác động rất lớn đến
môi trường. Các hoạt động ngành nghề tự phát thường nhỏ lẻ, trong quá trình sản
xuất không tuân thủ các quy trình về đảm bảo vệ sinh môi trường, đồng thời các
thiết bị nhằm đảm bảo quy trình cũng không được đầu tư lắp đặt. Do đó, tình trạng
chung hoạt động ngành nghề này thường xả trực tiếp chất thải ra môi trường, làm
tình trạng môi trường ngày một xấu đi. Thực tế này phổ biến tại khu vực nông thôn,
các làng nghề truyền thống hay các khu khai thác, chế xuất tự phát của người dân.
Trong quá trình thực hiện chính sách bảo vệ môi trường đã gặp không ít các khó
khăn, vất vả do hoạt động của các ngành nghề mang lại, không những thế xu hướng
của hoạt động này ngày một gia tăng, do đó trong thực hiện chính sách bảo vệ môi
trường luôn phải tăng cường đầu tư nguồn lực khắc phục.
23


Thứ ba, về tập quán, ý thức xã hội. Khâu quan trọng nhất trong thực hiện
chính sách chính là tuyên truyền chính sách để người dân và xã hội được thông
suốt, từ đó lôi cuốn được đông đảo người dân tham gia thực hiện chính sách bảo vệ
môi trường. Tuy nhiên, những thói quen tạo nên tập quán xấu đối với môi trường
hay quan niệm xã hội thiếu tôn trọng môi trường tự nhiên trở thành cản lực của hoạt
động này. Tập quán chính là những thói quen được thực hiện ở phạm vi cộng đồng,
không ít các tập quán có tác động tiêu cực đến môi trường như tục đốt vàng mã, đốt
rừng làm rẫy vào vụ mùa mới, thả đèn trời… Các hoạt động này phục vụ cho những
nghi thức hoặc tín ngưỡng của con người nhưng tác động tiêu cực đến môi trường.
Ở những nơi tập quán này hiện hữu và được thực hiện một cách thường xuyên, công
tác bảo vệ môi trường gặp rất nhiều khó khăn. Bởi lẽ tập quán có vị thế rất quan
trọng trong đời sống cộng đồng và theo thói xưa “phép vua thua lệ làng” khiến cho

sẽ chọn vế thứ hai.
1.5. Chính sách bảo vệ môi trường của Việt Nam
Trong giai đoạn hiện nay, chất lượng môi trường bị suy thoái trầm trọng. Đảng
ta đã nhận thức được mức độ ảnh hưởng nghiêm trọng của vấn đề suy thoái môi
trường toàn cầu đến sự phát triển đất nước. Trong quá trình xây dựng và phát triển
đất nước, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo gắt gao công tác
bảo vệ môi trường.
Nhà nước ta đã ban hành một hệ thống thể chế chính sách góp phần vào việc
bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, môi trường trong sạch và phát triển bền vững.
Các văn bản này điều chỉnh các nhóm quan hệ sau:
+ Nhóm quan hệ hình thành trong hoạt động quản lý nhà nước đối với môi
trường thuộc phạm vi điều chỉnh chủ yếu của Luật Bảo vệ môi trường và các luật có
liên quan;
+ Nhóm quan hệ về phòng, chống, khắc phục suy thoái môi trường, ô nhiễm
môi trường, phòng chống sự cố môi trường. kiểm soát các hoạt động ảnh hưởng đến
môi trường thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Bảo vệ môi trường và hệ thống các
văn bản có liên quan;
+ Nhóm quan hệ phát sinh trong quá trình khai thác, sử dụng các thành phần
môi trường thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật về tài nguyên;
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status