VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
DƯƠNG NGUYỄN NHẬT LINH
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH THU HÚT VÀ SỬ DỤNG
NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO CỦA TỈNH TÂY NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI, năm 2018
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
DƯƠNG NGUYỄN NHẬT LINH
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH THU HÚT VÀ SỬ DỤNG
NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO CỦA TỈNH TÂY NINH
Ngành: Chính sách công
Mã số: 8.34.04.02
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. NGUYỄN KHẮC BÌNH
HÀ NỘI, năm 2018
MỞ ĐẦU
nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng; công tác cán bộ là khâu
“then chốt” của công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị… Đầu tư xây
dựng đội ngũ cán bộ là đầu tư cho phát triển lâu dài, bền vững” [1]. Chính vì
vậy, đòi hỏi các cơ quan nhà nước phải có nhân lực chất lượng cao mới có thể
hoàn thành sứ mệnh của mình. Xuất phát từ vai trò quyết định của nhân lực
chất lương cao, mà nhiều năm qua Đảng, Nhà nước ta từ trung ương đến địa
phương đã ban hành nhiều chính sách thu hút nhân lực chất lượng cao vào
làm việc trong các cơ quan, đơn vị của nhà nước.
Tỉnh Tây Ninh đặc biệt quan tâm, coi trọng việc phát triển và sử dụng
hiệu quả nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao và xem đây là nhân tố nền
tảng trong phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Do đó, tỉnh đã có nhiều chính
sách ưu đãi trong thu hút, sử dụng nhân lực chất lượng cao và bước đầu đạt
được kết quả tích cực. “Chương trình đột phá về phát triển nguồn nhân lực
đạt một số kết quả bước đầu, tiếp tục thực hiện chính sách thu hút nhân tài,
tạo điều kiện, hỗ trợ kinh phí cho cán bộ, công chức học tập nâng cao trình
độ, nhất là trình độ sau đại học;…” [10, tr.40-41]. Tuy nhiên, qua thực tiễn
thực hiện cho thấy hiệu quả của chính sách thu hút chưa đạt được mục tiêu đề
ra. Tỉnh rất khó thu hút được nhân lực chất lượng cao đúng với yêu cầu về số
lượng, ngành nghề; thu hút đã khó, giữ chân người có trình độ, năng lực ở lại
làm việc lâu dài càng khó hơn. Việc thu hút, sử dụng nhân lực chất lượng cao
của tỉnh thời gian qua gặp không ít khó khăn, “thu hút nhân tài kết quả còn
hạn chế” [10, tr.52]. Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Tây Ninh lần thứ X,
nhiệm kỳ 2015-2020 đã chỉ ra nguyên nhân của những hạn chế trong phát
triển kinh tế - xã hội là do “Môi trường đầu tư, cải cách hành chính và phát
triển nguồn nhân lực kết quả chưa toàn diện. Một bộ phận cán bộ, công chức
năng lực còn hạn chế, chưa đáp ứng tốt với yêu cầu nhiệm vụ” [10, tr.164].
2
Từ đó, Đại hội X của Đảng bộ tỉnh Tây Ninh đã đề ra nhiệm vụ “Xây dựng và
sách công tại Việt Nam.
Quyển “Kỹ năng phân tích và hoạch định chính sách” của nhóm tác giả
Vũ Cao Đàm (chủ biên), Phạm Xuân Hằng, Trần Văn Hải và Đào Thanh
Trường, nhà xuất bản Thế Giới năm 2011. Đây là những bài viết được chọn
lọc từ những bài giảng tại các lớp tập huấn về phân tích và hoạch định chính
sách do Trung tâm nghiên cứu phân tích chính sách thực hiện. Nội dung chính
của công trình này là phân tích làm rõ về: phân tích chính sách; đại cương về
phản biện xã hội; mối quan hệ giữa cơ quan quyền lực nhà nước và cơ quan
hành chính nhà nước trong việc hoạch định và ban hành chính sách; tiếp cận
xã hội học trong nghiên cứu phân tích chính sách.
Hay “Chính sách công của Hoa kỳ” của tác giả Lê Vinh Danh, nhà
xuất bản Thống kê năm 2001. Công trình này nghiên cứu rất toàn diện,
chuyên sâu về chính sách công. Tác giả công trình đi từ cơ sở thực tiễn đã đúc
kết lý luận và dùng thực tiễn để minh chứng cho những luận điểm lý luận; có
thể nêu một số nội dung của công trình nghiên cứu như: chính sách công là gì,
phân loại chính sách công, nguyên tắc căn bản trong thiết kế chính sách, môi
trường trong thiết kế chính sách, công cụ thiết kế và thực hiện chính sách, quy
trình thiết kế chính sách công, thực hiện và điều chỉnh chính sách,…
Ngoài ra, còn có nhiều công trình nghiên cứu khác như: Trần Khánh
Đức (2014), Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực trong thế kỷ XXI, nhà
xuất bản Giáo dục Việt Nam, Hà Nội; Đỗ Phú Hải (2017), Tổng quan về
chính sách công, nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sự Thật, Hà Nội;…
* Nhóm các công trình nghiên cứu về nhân lực nói chung
“Giải pháp phát triển nhân lực khoa học và công nghệ trên địa bàn
tỉnh Đồng Nai”, luận văn thạc sĩ Khoa học Trường Đại học khoa học xã hội
và Nhân văn Hà Nội năm 2006 của tác giả Nguyễn Thị Hoàng. Tác giả luận
4
văn đã nghiên cứu và làm rõ những cơ sở lý luận về phát triển nguồn nhân lực
hiện nay cũng như giải pháp thực hiện chính sách phát triển nhân lực trong
giai đoạn mới của đất nước.
* Nhóm các bài viết, luận văn, luận án, công trình nghiên cứu về thu
hút và sử dụng nhân lực chất lượng cao
“Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong bối cảnh hội nhập kinh tế
quốc tế ở thành phố Hồ Chí Minh”, Luận án tiến sĩ Kinh tế Trường Đại học Kinh tế
thành phố Hồ Chí Minh năm 2015 của tác giả Võ Thị Kim Loan. Tác giả luận án đã
nghiên cứu và làm rõ những cơ sở lý luận về phát triển nguồn nhân lực chất lượng
cao trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế; phương pháp nghiên cứu vấn đề phát
triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế; thực
trạng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc
tế ở thành phố Hồ Chí Minh; nêu lên quan điểm, phương hướng và đề xuất một số
giải pháp phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong bối cảnh hội nhập kinh tế
quốc tế ở thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian tới.
“Chính sách thu hút nhân lực chất lượng cao cho các cơ quan nhà
nước từ thực tiễn tỉnh Cao Bằng”, luận văn thạc sĩ Chính sách công Học viện
Khoa học xã hội năm 2015 của tác giả Hoàng Thị Kim Hồng. Tác giả luận
văn đã nghiên cứu và làm rõ những vấn đề lý luận về chính sách thu hút
nguồn nhân lực chất lượng cao vào công tác trong các cơ quan nhà nước; thực
trạng chính sách thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao vào công tác trong
các cơ quan nhà nước tại tỉnh Cao Bằng từ năm 2005 đến năm 2011; đề xuất
những giải pháp hoàn thiện chính sách thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao
vào công tác trong các cơ quan nhà nước tại tỉnh Cao Bằng.
“Thu hút nguồn nhân lực trình độ cao cho các cơ quan nhà nước ở tỉnh
Bình Định”, luận văn thạc sĩ Kinh tế Trường Đại học Đà Nẵng năm 2014 của
tác giả Nguyễn Thị Thanh Hiền. Tác giả luận văn đã nghiên cứu và làm rõ
6
những cơ sở lý luận thu hút nguồn nhân lực trình độ cao cho các cơ quan nhà
hiện chính sách thu hút và sử dụng nguồn nhân lực chất lượng cao tại tỉnh Tây Ninh
trong những năm tới.
- Nhiệm vụ nghiên cứu: để thực hiện mục đích trên, đề tài xác định các
nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể như sau:
Thứ nhất, Xác lập cơ sở lý luận về thực hiện chính sách thu hút và sử dụng
nhân lực chất lượng cao.
Thứ hai, Khảo sát, đánh giá thực trạng thực hiện chính sách thu hút và
sử dụng nhân lực chất lượng cao của tỉnh Tây Ninh trong những năm gần đây.
Thứ ba, đề xuất những giải pháp thực hiện chính sách thu hút và sử
dụng nhân lực chất lượng cao của tỉnh Tây Ninh trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Giải pháp thực hiện chính sách thu hút và sử
dụng nhân lực chất lượng cao của tỉnh Tây Ninh.
- Phạm vi nghiên cứu:
Thời gian nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu vấn đề thực hiện chính
sách thu hút và sử dụng nhân lực chất lượng cao của tỉnh Tây Ninh giai đoạn từ
năm 2010 đến nay.
Không gian nghiên cứu: Nghiên cứu được thực hiện trong phạm vi các cơ
quan, đơn vị nhà nước (thuộc khu vực công) của tỉnh Tây Ninh.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận: Luận văn được thực hiện trên cơ sở thế giới quan và phương
pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch của chủ nghĩa Mác
- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng, Nhà nước Việt Nam về thực hiện chính sách
thu hút và sử dụng nhân lực chất lượng cao nói chung và của tỉnh Tây Ninh nói riêng
dưới góc độ khoa học chính sách công.
- Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp
nghiên cứu văn bản, phỏng vấn, trong đó đặc biệt chú ý có sử dụng phương pháp
8
THU HÚT VÀ SỬ DỤNG NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO
1.1. Một số khái niệm cơ bản
- Khái niệm chính sách
Thuật ngữ “chính sách” được sử dụng phổ biến trên các phương tiện
thông tin đại chúng và trong đời sống xã hội. Chính sách là hành động của
giới lãnh đạo, quản lý đề ra nhằm mục đích giải quyết một vấn đề nào đó
trong phạm vi, thẩm quyền của mình. Trong thực tiễn, chính sách được đề ra
và đưa vào tổ chức thực hiện với nhiều tầng, nấc khác nhau về phạm vi và đối
tượng, như chính sách của: một đảng, chính phủ, chính quyền địa phương,
một tổ chức, một doanh nghiệp…
Theo tác giả Nguyễn Khắc Bình “Chính sách là những hành động của
chủ thể quyền lực đối với các hiện tượng đang tồn tại trong quá trình vận
động phát triển để hướng tới mục đích nhất định của chủ thể quyền lực” [3].
Trong cuốn “Kỹ năng phân tích và Hoạch định chính sách”, của
Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Hà Nội, nhà xuất bản Thế
Giới, Hà Nội, tác giả Vũ Cao Đàm đã đưa ra khái niệm “chính sách là một tập
hợp biện pháp được thể chế hóa, mà một chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể
quản lý đưa ra, trong đó tạo sự ưu đãi cho một hoặc một số nhóm xã hội, kích
thích vào động cơ hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào
đó trong chiến lược phát triển của một hệ thống xã hội” [39, tr.11].
Tuy có nhiều cách lập luận khác nhau, nhưng về bản chất thì tất cả đều
hàm chứa nét chung: nhà nước là chủ thể ban hành chính sách, chính sách
gồm nhiều quyết định có liên quan, nhằm hướng vào giải quyết những vấn đề
đang đặt ra trong đời sống theo những mục tiêu xác định để phục vụ lợi ích
chung của cộng đồng, quốc gia – dân tộc.
10
Trong luận văn này, tôi sử dụng khái niệm của tác giả Nguyễn Khắc
Bình: Chính sách là những hành động của chủ thể quyền lực đối với các hiện
thực hiện để điều hòa các xung đột trong xã hội nhằm thúc đẩy xã hội phát
triển theo định hướng nhất định” [3].
Ở Việt Nam, khái niệm về chính sách công mặc dù đã được đề cặp
nhiều, nhưng đa phần được hiểu theo lối đồng nghĩa, đồng nhất với chính
sách của Đảng Cộng sản Việt Nam hoặc chính sách của Nhà nước, đều đó là
do nước ta chỉ có một chính đảng duy nhất lãnh đạo đất nước, lãnh đạo nhà
nước. Chính vì vậy, đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra
cũng chính là chính sách của Nhà nước, được Chính phủ cụ thể hóa thành văn
bản chính sách trong tổ chức thực hiện để phục vụ nhu cầu, lợi ích của đại đa
số nhân dân.
Trong nghiên cứu này, tôi sử dụng khái niệm về chính sách công của
tác giả Nguyễn Khắc Bình: Chính sách công là hoạt động mà chính phủ chọn
thực hiện hoặc không thực hiện để điều hòa các xung đột trong xã hội nhằm
thúc đẩy xã hội phát triển theo định hướng nhất định.
- Khái niệm thực hiện chính sách
Có thể hiểu thực hiện hay thực thi chính sách là giai đoạn đưa các ý
định chính sách ở dạng lý luận của các nhà cầm quyền vào tổ chức thực hiện
trong đời sống xã hội thông qua hoạt động của tổ chức bộ máy nhà nước
nhằm đạt mục tiêu chính sách của nhà cầm quyền đề ra. Nói cách khác, là giai
đoạn vận dụng những giải pháp định trước vào thực tiễn cần giải quyết để đạt
được các mục tiêu chính sách, nhằm giải quyết những nhu cầu của xã hội, của
nhân dân. Chính vì vậy, việc thực thi chính sách chính là quá trình giải quyết
những nhu cầu bức thiết của đời sống xã hội, của nhân dân theo những mục
tiêu đã định của nhà cầm quyền.
12
Ở giai đoạn thực hiện chính sách, đòi hỏi phải huy động rất nhiều
nguồn lực khác nhau như: nhân lực, vật lực, tài chính, khoa học công nghệ và
vào làm việc trong một cơ quan, tổ chức.
Do sự tác động của nhiều yếu tố khác nhau như: kinh tế - xã hội, mức thu
nhập, trình độ học vấn, địa bàn sinh sống, vị trí xã hội... từ đó nhân lực có mong
muốn thay đổi nơi làm việc (thay đổi cơ quan, địa phương công tác). Ngày nay, sự
phát triển của khoa học công nghệ, điều kiện đi lại thuận tiện, chính sách thu hút nhân
sự bằng nhiều ưu đãi... đã tạo điều kiện khuyến khích nhân lực có nhu cầu thay đổi vị
trí việc làm hiện tại nhiều hơn, họ monjg muốn có được việc làm phù hợp nhất với
bản thân mình và được thụ hưởng nhiều lợi ích nhất.
Bất cứ cơ quan, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp nào thì việc tuyển dụng, thu hút
nhân lực bao giờ cũng từ nhiều nguồn khác nhau như: từ các cơ sở đào tạo, từ các cơ
quan, tổ chức, địa phương khác; từ nguồn lao động tự do khác. Việc thu hút, bổ sung
mới nhân lực góp phần quan trọng để kích thích, phát huy hiệu quả của tính cạnh
tranh cạnh tranh với nhân lực tại chỗ, là một nghệ thuật trong quản trị nguồn nhân
lực, từ đó có thể tuyển dụng được lực lượng nhân lực (người lao động) có chất lượng
cao nhất, đáp ứng được kỳ vọng của nhà quản lý.
- Khái niệm nhân lực chất lượng cao
Khi đề cặp đến khái niệm nhân lực chất lượng cao, thì hầu hết các học
giả, nhà nghiên cứu đều thống nhất rằng: cần phải xác định các tiêu chí để chỉ
rõ đó là nhân lực chất lượng cao. Một số quan điểm nhìn nhận rằng nhân lực
chất lượng cao trong giai đoạn hiện nay đó là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản
lý; là những người có trình độ đại học và công nhân kỹ thuật cao. Tuy nhiên,
cũng có quan điểm thì cho rằng nhân lực chất lượng cao là đội ngũ những
người có trình độ đại học, lãnh đạo quản lý và hoạch định chính sách, khoa
học công nghệ...
Như vậy dựa trên những tiêu chí nào để đánh giá là nhân lực chất lượng
cao? Không phải tất cả những người đã qua đào tạo ở trình độ cao đều đáp
14
ứng các công việc, do đó không thể khẳng định nhân lực chất lượng cao chỉ
ngừng nghiên cứu, học tập trao dồi kiến thức, nâng cao trình độ...
Như vậy, nhân lực chất lượng cao là một bộ phận nhân lực (người lao
động) có sức khoẻ tốt, có trình độ cao về chuyên môn (kỹ thuật) được đào tạo
qua trường lớp và thực tiễn, có phẩm chất đạo đức xã hội và đạo đức nghề
nghiệp, có khả năng thích ứng nhanh với những thay đổi của môi trường làm
việc, của trình độ khoa học công nghệ, luôn đổi mới sáng tạo trên cơ sở vận
dụng những tri thức đã được đào tạo và từ thực tiễn lao động vào quá trình
lao động sản xuất, đóng góp cho sự phát triển của cơ quan, tổ chức, doanh
nghiệp… một cách hiệu quả nhất.
1.2. Vai trò của thực hiện chính sách thu hút và sử dụng nhân lực
chất lượng cao
Để công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế thành công, đòi
hỏi phải có nhiều nguồn lực khác nhau như nguồn lực con người, vốn tài
nguyên thiên nhiên, cơ sở vật chất kỹ thuật, vốn...; trong đó nguồn lực con
người, tài nguyên chất xám được xếp vào loại nguồn lực hàng đầu và quan
trọng nhất cho tiến trình phát triển đất nước. Nhân lực phải đủ về số lượng,
mạnh về chất lượng, nhất là nhân lực chất lượng cao mới có thể trở thành
động lực phát triển. Chính vì vậy, phát triển nhân lực không chỉ đáp ứng cho
yêu cầu về phát triển kinh tế - xã hội mà còn phục vụ cho yêu cầu phát triển
con người và tiến bộ xã hội... Việt Nam đang trên đà phát triển kinh tế - xã
hội và hội nhập quốc tế sâu rộng theo định hướng xã hội chủ nghĩa, thì phát
triển nhân lực chất lượng cao được Đảng và Nhà nước khẳng định là một
trong những khâu đột phá để chuyển đổi mô hình phát triển kinh tế - xã hội
của đất nước và đó là nền tảng để Việt Nam phát triển bền vững và tăng lợi
thế cạnh tranh trong quá trình hội nhập.
16
Nhân lực chất lượng cao là một trong những bộ phận để cấu thành nhân
của cả tổ chức nhờ có nhân lực chất lượng cao hướng dẫn, giúp đỡ, rèn luyện
đối với lực lượng lao động khác.
Thực tiễn thế giới cho thấy, một quốc gia giàu tài nguyên thiên nhiên,
rất thuận lợi cho sự phát triển, song chưa hẳn quốc gia đó sẽ trở nên giàu có.
Trong khi đó, Nhật Bản gần như không có tài nguyên gì đáng kể, nhưng nhờ
có nhân lực chất lượng cao và tinh thần quyết tâm của dân tộc đã tạo nên
những bước phát triển đột phá mà thế giới ngưỡng phục. Nhân lực chất lượng
cao chính vì thế mà ngày càng được xác định là yếu tố trung tâm mang tính
quyết định trong hệ thống các nguồn lực phát triển; là nguồn lực quyết định
việc khai thác, sử dụng, bảo vệ và tái tạo một cách có hiệu quả các nguồn lực
khác. Nhân lực chất lượng cao không ai khác, mà đó chính là lực lượng lao
động có kỹ năng, các nhà quản lý giỏi, nhà khoa học, chuyên gia, lao động kỹ
thuật cao,... Xuất phát từ vị trí, vai trò của nhân lực chất lượng cao thì có thể
khẳng định rằng nhân lực chất lượng cao - nhân tài của đất nước, là lực
lượng lao động quyết định năng suất, chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh
tranh của nền kinh tế; quyết định sự phát triển của kinh tế - xã hội và hội
nhập quốc tế của đất nước.
Nhận thức rõ vai trò của nhân lực chất lượng cao đối với giai đoạn đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, trong chiến lược
phát triển kinh tế - xã hội Ðại hội XI của Ðảng đã xác định nhiệm vụ phải
phát triển nhanh nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao.
Đại hội XI của Đảng cũng đã chỉ rõ rằng phát triển và nâng cao chất lượng
nguồn nhân lực chất lượng cao được xác định là một trong những yếu tố có
tính quyết định trong việc đẩy mạnh phát triển và ứng dụng khoa học, công
nghệ, cơ cấu lại nền kinh tế, góp phần tạo sự chuyển biến mạnh mẽ để chuyển
18
đổi mô hình tăng trưởng, tăng lợi thế cạnh tranh quốc gia, tạo sự phát triển
huy được năng lực của lực lượng lao động có trình độ chuyên môn tay nghề cao, lãng
phí nguồn lực của cơ quan nhà nước, không tạo được lòng tin và sự hài lòng của nhân
dân; kìm hãm sự phát triển, làm thui chột sự sáng tạo, tạo điều kiện cho nhân lực chất
lượng cao rời bỏ các cơ quan nhà nước ra ngoài tư nhân...
1. 3. Nội dung thực hiện chính sách thu hút và sử dụng nhân lực chất
lượng cao
1.3.1. Xây dựng kế hoạch thu hút và sử dụng nhân lực chất lượng cao
Sau khi chính sách được ban hành, để chính sách đi vào thực tiễn cuộc sống
đòi hỏi phải tiến hành xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách. Việc xây
dựng kế hoạch thu hút và sử dụng nhân lực chất lượng cao ý nghĩa rất quan trọng
trong quá trình tổ chức thực hiện chính sách. Kế hoạch triển khai thực hiện chính
sách bao gồm nhiều kế hoạch khác nhau, như: tổ chức, điều hành; cung cấp các
nguồn lực thực hiện; thời gian triển khai thực hiện; kiểm tra, đôn đốc; trách nhiệm,
quyền hạn của đội ngũ cán bộ tham gia vào quá trình thực hiện chính sách; khen
thưởng, kỷ luật trong quá trình thực hiện chính sách...
Cũng như kế hoạch thực hiện các chính sách khác, thì kế hoạch thực hiện
chính sách thu hút và sử dụng nhân lực chất lượng cao cũng bao gồm các nội dung về
mục tiêu, thời hạn và nguồn lực thực hiện từng nội dung. Kế hoạch thực hiện chính
sách sẽ góp phần quan trọng cho việc định hướng trước cho đội ngũ cán bộ tham gia
vào quá trình thực hiện chính sách biết được định hướng và xác định tiến độ, các
nguồn lực, công cụ, các nhiệm vụ cụ thể khi tổ chức thực hiện chính sách vào thực
tiễn. Trong quá trình xây dựng kế hoạch thực hiện, đòi hỏi người xây dựng kế hoạch
phải hiểu và nắm chắc mục tiêu, nội dung, nhiệm vụ, phạm vi, đối tượng, quy mô
tầm quan trọng của chính sách, từ đó mới có thể xác định được chính xác mục tiêu,
nội dung, nhiệm vụ, các nguồn lực cần thiết, thời gian và giải pháp tổ chức thực hiện
chính sách. Kế hoạch triển khai thực hiện chính sách được xây dựng chính xác, đúng
20
đắn sẽ góp phần giúp cho quá trình tổ chức thực hiện chính sách khả thi, mang lại
phẩm chất và năng lực thực chất của nhân lực. Bên cạnh đó, cần chú trọng thú hút, sử
dụng đội ngũ nhân lực trẻ chất lượng cao, được đào tạo bài bản ở những cơ sở đào
tạo có chất lượng, uy tín trong và ngoài nước bằng những chính sách ưu đãi đột phá
về đãi ngộ nhân lực chất lượng cao, trên cơ sở thực hiện linh hoạt và hiệu quả chính
sách tiền lương theo tiêu chí tài năng và hiệu quả đóng góp của nhân lực chất lượng
cao...
Thực hiện hiệu quả chính sách thăng tiến. Bên cạnh sự thăng tiến chính là
phần thưởng về vật chất, tinh thần nhiều hơn, bởi lẽ người thăng tiến sẽ có được sự
thừa nhận, sự quý trọng của nhiều người. Khi đó con người được thỏa mãn nhu cầu
được tôn trọng. Vì vậy, hầu hết mọi người đều nổ lực làm việc và mong muốn tìm
kiếm cho mình một vị trí tốt nhất trong cơ quan, đơn vị. Thu hút và sử dụng nhân lực
chất lượng cao bằng sự thăng tiến hợp lý được thực hiện bằng những chính sách cụ
thể, trong đó xác định rõ những nấc thang, vị trí kế tiếp cho họ phấn đấu, bên cạnh đó
là những tiêu chuẩn, tiêu chí phấn đấu để đạt được vị trí đó...
Nhân lực chất lượng cao cũng có nhu cầu được đào tạo, bồi dưỡng và phát
triển để cho vốn tri thức của họ không ngừng được mở rộng và tăng lên. Từ đó mở
rộng cơ hội tăng thêm thu nhập, cơ hội thăng tiến và đó cũng chính là sự đãi ngộ về
tinh thần khiến họ gắn bó với công việc... Do đó cần phải thực hiện tốt công tác đào
tạo, bồi dưỡng thường xuyên đối với nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao.
1.3.3. Thực hiện công khai trong tuyển dụng người có trình độ chuyên môn
cao
Để phát hiện, thu hút và sử dụng được nhân lực chất lượng cao, đòi hỏi đôi khi
phải vượt qua những quy định tuyển dụng thông thường, mở rộng kênh thu hút như:
nhân lực tốt nghiệp loại giỏi, xuất sắc của các cơ sở đào tạo trong và ngoài nước;
thông qua các kỳ thi tuyển dụng; chiêu mộ nhân lực đang làm việc ở các cơ quan,
đơn vị khác kể cả khu vực ngoài nhà nước, cán bộ trưởng thành từ cơ sở trong hệ
22
thống chính trị...