VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ VĂN VÂN
VAI TRÒ CỦA BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP ĐỐI VỚI
ĐỜI SỐNG CÔNG NHÂN TẠI CÁC KHU CÔNG NGHIỆP
TỈNH BÌNH DƯƠNG GIAI ĐOẠN 2009 - 2016
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC
HÀ NỘI, năm 2018
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ VĂN VÂN
VAI TRÒ CỦA BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP ĐỐI VỚI
ĐỜI SỐNG CÔNG NHÂN TẠI CÁC KHU CÔNG NGHIỆP
TỈNH BÌNH DƯƠNG GIAI ĐOẠN 2009 - 2016
Ngành: Xã hội học
Mã số: 8.31.03.01
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GS.TS. TRỊNH DUY LUÂN
HÀ NỘI, năm 2018
này không thể tránh được những thiếu sót, tôi rất mong nhận được sự chỉ bảo,
đóng góp ý kiến của quý thầy cô để hoàn chỉnh quyển luận văn./.
Tác giả
Lê Văn Vân
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BHTN:
Bảo hiểm thất nghiệp
BHYT:
Bảo hiểm y tế
GTVL:
Giới thiệu việc làm
NLĐ:
Người lao động
TTDVVL:
Trung tâm dịch vụ việc làm
tham gia BHXH, trong đó có 3.472.378 người được hưởng trợ cấp thất
9
nghiệp, 114.956 người được hỗ trợ học nghề và khoảng 3.700.000 người được
tư vấn, giới thiệu việc làm.
Tuy nhiên vẫn còn những bất cập và khó khăn trong quá trình thực
hiện BHTN như: mức hỗ trợ học nghề còn thấp khiến khó thu hút đối tượng
tham gia; đối tượng tham gia BHTN chưa bao phủ hết tất cả đối tượng có
quan hệ lao động; các quy định về điều kiện hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng, nâng
cao trình độ kỹ năng nghề để duy trì việc làm cho người lao động (NLĐ) chưa
chặt chẽ, do đó tương đối khó để người sử dụng lao động tiếp cận được với
chế độ này.
Từ thực trạng trêncho thấy việc nghiên cứu tác động của BHXH đến
đời sống người lao động là rất cần thiết nhằm có cách nhìn tổng quan về hiệu
quả của BHXH. Do đó tôi chọn đề tài “ Vai trò của bảo hiểm thất nghiệp đối
với đời sống công nhân tại các khu công nghiệp tỉnh Bình Dương giai đoạn
2009-2016”để làm luận văn Cao họ. Kết quả của cuộc nghiên cứu này sẽ là
cơ sở dữ liệu tham khảo cho các nhà hoạch định chính sách để có thể đưa ra
những biện pháp nâng cao chất lượng của BHXH.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
2.1 Các nghiên cứu tại Việt Nam
Nhiều năm qua đã có nhiều nghiên cứu về BHTN của các tác giả ở
Việt Nam. Dưới đây tôi xin trình bày một số công trình nghiên cứu mà tôi có
thể tiếp cận được.
Bài nghiên cứu “Hỗ trợ giải quyết việc làm cho lao động hưởng bảo
hiểm thất nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh” của Nguyễn Thị Hồng đã
đưa chỉ ra rằng trước tình hình khủng hoảng kinh tế trên thế giới đã tác động
đến Việt Nam dẫn đến tình hình thất nghiệp gia tăng ở tỉnh Quảng Ninh.Mặc
BHTN hiện đại. Đồng thời tác giả cũng đề cập tới các hình thức TCTN ở Việt
11
Nam.[1]
Chuyên đề luận án của tác giả Nguyễn Quang Vinh về “Các mô hình
và kinh nghiệm thực hiện BHTN trên thế giới đã đưa ra các mô hình BHTN
trên thế giới, đặc biệt là nhấn mạnh đến kinh nghiệm thực hiện BHTN của các
nước từ đó đưa ra các khuyến nghị cho Việt Nam. [13]
Công trình nghiên cứu:“Thực trạng, giải pháp phòng chống lạm dụng
quỹ BHTN trên địa bàn tỉnh Bình Dương” của tác giải Lê Minh Lý. Chủ yếu
tập trung phân tích thực trạng quỹ và các giải pháp chống lạm dụng quỹ
BHTN trên địa bàn Bình Dương [8]
Bài nghiên cứu “Chế độ bảo hiểm ở Trung Quốc từ năm 1992 đến nay”
của tác giả Nguyễn Mai Phương đã đưa ra kết luận:Giống như Trung Quốc,
hiện nay, tình trạng thất nghiệp ở nước ta cũng đang là một trong những vấn
đề rất nghiêm trọng và bức xúc. Bên cạnh đó, trong quá trình công nghiệp
hoá, hiện đại hoá và chuyển đổi cơ cấu kinh tế, đổi mới, sắp xếp doanh nghiệp
nhà nước, một bộ phận không nhỏ lao động do nhiều nguyên nhân khác nhau
bị mất việc làm, đời sống rất khó khăn, ảnh hưởng đến trật tự an ninh xã hội.
Việc ra đời bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam dự kiến vào đầu năm 2009 tới sẽ
góp phần ổn định đời sống và hỗ trợ cho người lao động được học nghề và
tìm việc làm, sớm đưa họ trở lại làm việc, đồng thời còn giảm gánh nặng cho
quỹ Nhà nước và doanh nghiệp. [9]
Một bài viết khác “Một số giải pháp góp phần hoàn thiện chế độ bảo
hiểm thất nghiệp” của tác giả Bùi Ngọc Thanh đã chỉ ra một số nguyên nhân
gây trở ngại trong việc thực hiện BHTN như: “Có không ít người hiểu không
đúng bản chất của chế độ BHTN, họ coi tiền đóng BHTN là thứ "của để
dành", mình và người sử dụng lao động đóng được bao nhiêu thì phải tìm
thất nghiệp thì quỹ BHTN sẽ còn tiếp tục chi hộ cho khá nhiều chế độ khác
mà lẽ ra các nguồn khác phải chi và nguy cơ hụt quỹ sẽ đến sớm ....”[11]
Đề tài nghiên cứu cấp Bộ về “Đánh giá và hoàn thiện cơ chế chính
13
sáchBHTN nhằm tăng cường tính bền vững” do Lê Quang Trung làm Chủ
nhiệm đã phân tích quy trình thực hiện BHTN phải được mở rộng từng bước
để tránh tăng đột ngột các chi phí và gây ra khó khăn đối với các chủ Doanh
nghiệp trong việc tham gia đóng phí BHTN, ảnh hưởng tiêu cực đến duy trì
việc làm cho NLĐ của Doanh nghiệp. Vì vậy, chính sách BHTN thường được
áp dụng khi hệ thống BHXH đã phát triển và khi điều kiện kinh tế, trình độ
QLNN về thất nghiệp cho phép. Cũng vì vậy mà Chính phủ các nước thường
thực hiện chính sách BHTN từng bước theo khả năng quản lý của Chính phủ
và khả năng về nguồn tài chính cho thực hiện chính sách này ...” [12]
2.2 Các nghiên cứu ở nước ngoài
Bìa nghiên cứu báo cáo “Unemployment Insurance Benefits and
Family Income of the Unemployed” của Douglas W.Elmendorf đã đưa ra
nhận định “Tổng số tiền trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp (UI) của Hoa Kỳ tăng
tự động trong các giai đoạn suy thoái. Sự gia tăng lợi ích giao diện người
dùng trong thời kỳ suy thoái kinh tế vĩ mô khiến cho nền kinh tế vĩ mô giảm
sâu hơn bằng cách giúp các công nhân thất nghiệp duy trì một phần sức mua
của họ. Nghĩa là, bằng cách bù đắp một phần số tiền thất nghiệp cho thu nhập
bị mất, trợ cấp UI giúp phá vỡ chu kỳ tiêu cực của tình trạng thất nghiệp gia
tăng dẫn đến giảm tiêu thụ, dẫn đến giảm thêm hoạt động kinh tế.v.v.v...” [18]
Một nghiên cứu khác “The Role of Unemployment Insurance as an
automatic stabilizer during a recession” của tác giả Dr. Wayne Vroman cũng
đưa ra nhận định: “ Khi cuộc khủng hoảng của cuộc Đại suy thoái nhường
chỗ cho sự phục hồi kinh tế, hệ thống bảo hiểm thất nghiệp liên bang (UI) đã
tả của chính bản thân việc làm và bởi sự hỗ trợ mà quyền lợi UI mang
lại,v.v…” [17]
Trong bài kỷ yếu hội thảo khoa học “Unemployment insurance,
15
income security measures and active labour market policies in ASEAN”của
Dự án ILO / Nhật Bản Thúc đẩy và Xây dựng Bảo hiểm thất nghiệp vàDịch
vụ việc làm trong khu vực ASEAN cho Châu Á và Thái Bình Dương đã nêu
lên nhận định: “Trong năm 2011, ba năm sau khi cuộc Đại suy thoái bắt đầu,
các chương trình bảo hiểm thất nghiệp (UI) của tiểu bang đang ở vị trí tài
chính tồi tệ nhất kể từ khi được thành lập theo Đạo luật An sinh Xã hội năm
1935. Trong khi lợi ích từ chương trình UI đã giúp ổn định thu nhập cho hàng
triệu gia đình và cung cấp một sự thúc đẩy cho nhu cầu tổng hợp của nền kinh
tế, dự trữ quỹ ủy thác giao dịch người dùng ròng đã giảm mạnh. Các vấn đề
tài chính hiện tại xảy ra do dự trữ thấp trước thời kỳ suy thoái lớn; tình trạng
thất nghiệp sâu và kéo dài tiếp tục làm giảm doanh thu và tăng chi tiêu. Trong
16 tiểu bang đánh giá cơ sở tiền lương chịu thuế của họ để theo kịp với mức
tăng trưởng tiền lương trung bình, dự trữ UI thích hợp hơn và hầu hết các tiểu
bang như vậy đã tránh được sự cần thiết phải vay từ chính phủ liên bang. Cơ
sở tiền lương chịu thuế liên bang được sử dụng để thu thuế giao dịch liên
bang vẫn ở mức 7.000 đô la kể từ năm 1983. (Ngược lại, cơ sở thuế OASDI
An Sinh Xã Hội là $ 106,800 và được lập chỉ mục để tăng trưởng với mức
lương trung bình.) Tóm tắt này thảo luận về nguyên nhân của tỷ lệ và quy mô
chưa từng thấy các khoản vay bằng các chương trình UI của tiểu bang trong
và sau cuộc Đại suy thoái và xem xét các đề xuất lập pháp hiện hành để cải
thiện khả năng thanh toán của các chương trình UI này, v.v…”
Hầu hết các nước ASEAN đều có chương trình trả lương bắt buộc, mặc
dù một số quốc gia cũng đã bắt đầu các chương trình bảo hiểm thất nghiệp
dùng thay thế. Để đảm bảo tính bền vững về tài chính, chúng tôi đề nghị quản
trị quỹ UI độc lập với các chương trình hỗ trợ việc làm hoặc an sinh xã hội
khác. Cuối cùng, cần có một chương trình riêng biệt cho những người lao
động kinh tế phi chính thức có mức lương thường không đều và thấp và
thường không có mối quan hệ hợp đồng với người sử dụng lao động. Đối với
17
những người lao động, các chính sách thị trường lao động thay thế và thích
nghi thay thế và an ninh thu nhập cần được xác định ...” [14]
Qua phân tích các tài liệu, công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Bảo hiểm thất nghiệp, các tác giả đều tập trung nghiên cứu vào các tác động
của BHTN tới đời sống của người lao động nói chung và những bất cập gặp
phải trong quá trình thực hành BHTN. Các nghiên cứu được tiến hành ở nhiều
ngành khoa học như: Quản trị, Chính sách công, Kinh tế v.v.... Nhưng những
nghiên cứu ở lĩnh vực Xã hội học về vấn đề này còn rất ít. Trước thực tiễn
hiện nay còn nhiều bất cập trong vấn đề thực hiện BHTN và cần có những
nghiên cứu về kết quả tác động của BHTH dưới góc độ Xã hội học.
3. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 . Mục tiêu chung
Chỉ ra vai trò của chính sách BHTN và quá trình thực hiện BHTN đối
với đời sống của công nhân các KCN ở tỉnh Bình Dương. Từ đó đề xuất một
số giải pháp chsố khuyến nghị đối với chính sách bảo BHTN ở Việt Nam
trong thời gian tới.
3.2. Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa và phân tích làm rõ thêm cơ sở lý luận về thất nghiệp và
chính sách BHTN.
- Phân tích thực trạng thất nghiệp và tình hình thực thi chính sách BHTN
tại tỉnh Bình Dương.
- Ý kiến của người công nhân đã được thụ hưởng BHTN là gì?
- Vài trò của BHTN đối với đời sống vật chất của người công nhân ra
sao?
5.2. Giả thuyết nghiên cứu
Giả thuyết 1: BHTN chưa hỗ trợ nhiều cho cuộc sống của người công
nhân.
Giả thuyết 2: Tỷ lệ người công nhân được thụ hưởng BHTN đánh giá
BHTN chưa giúp gì được nhiều cho cuộc sống của họ ở mức cao.
5.3. Phương pháp nghiên cứu
5.3.1. Phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp
19
Phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp được áp dụng để phân tích các
tài liệu liên quan đến chính sách BHTN.
5.3.2. Cở mẫu
Trong đề tài cỡ mẫu định lượng là 200 trường hợp
5.3.3. Phương pháp chọn mẫu
- Mẫu định lượng: Đối với người công nhân sử dụng phương pháp
chọn mẫu thuận tiện với hai khách thể một là các công nhân thụ hưởng bảo
hiểm thất nghiệp tại cơ quan Bảo hiểm xã hội tại tỉnh Bình Dương.
5.3.4. Phương pháp thu thập thông tin
- Mẫu định lượng: dùng bộ câu hỏi tự điền, người thực hiện đề tài phát
bộ câu hỏi và công nhân tự trả lời bộ câu hỏi theo hướng dẫn
Về bảng câu hổi gồm 35 câu được thiết kế theo bảng dễ đọc dể hiểu sắp
xếp theo thứ tự bằng các câu hỏi đóng và được chuẩn hóa bao gồm các nội
dung là:
- Thông tin chung của người công nhân (10 câu hỏi)
- Vai trò của bảo hiểm thất nghiệp (25 câu hỏi)
thất nghiệp đối với người công nhân là đề
HIỂM THẤT NGHIỆP
(Luật
việcCác
làm kết
2013quả
và Nghị
định số
28/2015/
tài có ý nghĩa thực
tiễn.
tìm thấy
trong
đề tàiNĐ–CP)
nghiên cứu sẽ chỉ ra
được vai trò của BHTN và những hạn chế của nó hiện nay đối với người công
nhân thụ hưởng .Từ đó đưa ra các khuyến nghị thiết thực nhằm nâng cao hiệu
quả của chính sách BHTN.
7. Cơ cấu luận văn
Ngoài Phần Mở đầu và Kết luận, Khuyến nghị, nội dung luận văn gồm
3 chương như sau:
1.Trợ cấp thất nghiệp
bảo hiểm y tế
2. Hỗ trợ tư vấn,
giớitiễn
thiệunghiên
việc làm. cứu
Có thể nêu ra một số nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng thất nghiệp sau:
- Chu kỳ sản xuất kinh doanh thay đổi
- Sự gia tăng dân số, tăng nguồn cung lao động cùng với quá trình quốc
tế hóa và hội nhập cũng khiến nguy cơ thất nghiệp cao hơn.
- Nguyên nhân từ người lao động
- Sự thay đổi cơ cấu ngành nghề
- Sự ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào nền kinh tế
- Do các yếu tố thị trường
- Một số nguyên nhân khác
1.3Bảo hiểm thất nghiệp:
Bảo hiểm thất nghiệp là chế độ nhằm bù đắp một phần thu nhập của
người lao động khi bị mất việc làm, hỗ trợ người lao động học nghề, duy trì
việc làm, tìm việc làm trên cơ sở đóng vào Quỹ bảo hiểm thất nghiệp.
Căn cứ theo Luật Việc Làm năm 2015 và Nghị định số 28/2015/ NĐ –
CP thì các chế độ hỗ trợ của BHTN bao gồm:
1.Trợ cấp thất nghiệp , Bảo hiểm y tế
2. Hỗ trợ tư vấn, giới thiệu việc làm.
3. Hỗ trợ học nghề
2. Lý thuyết áp dụng
2.1. Sử dụngcách tiếp cận vai trò của An sinh xã hội
22
* Đối với xã hội
Thứ nhất: Hệ thống ASXH là một trong những cấu phần quan trọng
trong các chương trình xã hội của một quốc gia và là công cụ quản lý của nhà
nước thông qua hệ thống luật pháp, chính sách và các chương trình ASXH.
Mục đích của nó là giữ gìn sự ổn định về xã hội - kinh tế - chính trị của đất
động (mục đích tự thân). Thực chất loài hành động này có thể nhằm vào
những mục đích phi lý nhưng lại được thực hiện bằng những công cụ phương
tiện duy lý. Ở đây nó nổi trội lên vài trò của yếu tố khách quan bắt buộc chủ
thể phải cân nhắc, cẩn trọng để lựa chọn những gì mà nó cho là có nghĩa, có
giá trị (đã được hình thành trong đời sống xã hội) và nó đòi hỏi được chủ thể
thực hiện bằng niềm tin, nghĩa vụ với các giá trị này.
c. Hành động cảm tính: là hành động do các trạng thái xúc cảm hoặc tình cảm
bột phát gây ra mà không có sự cân nhắc, xem xét, phân tích mối quan hệ
giữa công cụ, phương tiện và mục đích hành động. Nó không cần đạt mục
đích bên ngoài nào đó mà nó có một ý nghĩa ngay ở trong tính xác định của
chính đặc tính của hành vi.
d. Hành động theo truyền thống: là loại hành động tuân thủ những thói quen,
nghi lễ, phong tục, tập quán đã được truyền lại từ đời này qua đời khác. Hành
động này dựa trên cơ sở bắt chước mô hình hành vi truyền thống nào đó đã
được củng cố và khẳng định, chấp nhận, nó được thực hiện trên cơ sở phản
ứng tự động đối với kích thích quen thuộc đang tồn tại trong khuôn khổ tâm
thế đã từng được thiết lập. [7]
Vận dụng cách tiếp cận Vai trò của an sinh xã hội vào đề tài nghiên cứu
nhằm làm rõ tác động của BHTN đối với đời sống của người công nhân trong
thời gian thất nghiệp. Bên cạnh đó vận dụng lý thuyết Hành động xã hội để
phân tich các cách sử dụng nguồn hỗ trợ thất nghiệp của công nhân để phục
vụ cho cuộc sống hàng ngày.
25