Luận văn tội chống người thi hành công vụ trong luật hình sự việt nam - Pdf 51

1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

BÙI HOÀI THƯƠNG

TỘI CHỐNG NGƯỜI THI HÀNH CÔNG VỤ
TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - NĂM 2016

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

BỘ TƯ PHÁP


2

BÙI HOÀI THƯƠNG

TỘI CHỐNG NGƯỜI THI HÀNH CÔNG VỤ
TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT


4

1. Bộ luật hình sự

:

BLHS

2. Trách nhiệm hình sự:

TNHS

3. Năng lực trách nhiệm hình sự:

NLTNHS

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài


5

Nghiên cứu lịch sử lập pháp hình sự cho thấy, tội chống người thi hành
công vụ tuy chỉ được quy định từ khi có BLHS đầu tiên nhưng nội dung về thi
hành công vụ đã được quy định trong nhiều văn bản trước đó. Điều này thể
hiện sự quan tâm của các nhà lập pháp trong việc bảo vệ tính nghiêm minh,
đúng đắn của pháp luật cũng như bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của

trong luật Hình sự Việt Nam và đấu tranh phòng, chống loại tội phạm này”
và luận văn thạc sĩ của tác giả Lê Như Quỳnh (2013) – Khoa luật Đại học
Quốc gia Hà Nội với đề tài “Tội chống người thi hành công vụ trong luật
hình sự Việt Nam (Trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn ở Hà Tĩnh)”. Trong các
luận văn này, phần nghiên cứu tội chống người thi hành công vụ dưới góc độ
luật hình sự chưa toàn diện, cụ thể mà chủ yếu có tính khái quát làm “nền”
cho nội dung nghiên cứu chính là nghiên cứu tội phạm này dưới góc độ tội
phạm học.
Thứ hai, nghiên cứu một số nội dung liên quan đến dấu hiệu pháp lý
của tội chống người thi hành công vụ. Cụ thể: Khái niệm “công vụ” và “người
thi hành công vụ” được nghiên cứu tương đối toàn diện trong bài viết “Vấn
đề thi hành công vụ và chế định phòng vệ chính đáng trong luật hình sự Việt
Nam” của tác giả GS.TS. Nguyễn Ngọc Hòa đăng trên Tạp chí Luật học số 2/
2012 cũng như trong luận văn thạc sĩ của tác giả Mai Thị Thanh Nhung
(2014) – trường Đại học Luật Hà Nội với đề tài “Dấu hiệu thi hành công vụ
trong Bộ luật hình sự Việt Nam”. Ngoài ra, dấu hiệu chống người thi hành
công vụ cũng được nghiên cứu để giúp việc định tội cũng như phân biệt giữa
tội chống người thi hành công vụ với các trường hợp phạm tội khác. Cụ thể:
Bài viết “Phân biệt tội chống người thi hành công vụ với các tội xâm phạm
tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm người đang thi hành công vụ hoặc
vì lý do công vụ của nạn nhân” của tác giả Mai Bộ trong Tạp chí Tòa án nhân
dân số 12/ 2012, “Tội chống người thi hành công vụ và một số tội khác có
dấu hiệu chống người thi hành công vụ trong luật hình sự Việt Nam” của tác
giả Th.S. Phạm Văn Báu trong Tạp chí Luật học số 6 năm 2005, “Một số khó
khăn, vướng mắc trong việc áp dụng pháp luật hình sự để xử lý hành vi chống
người thi hành công vụ” của tác giả Trần Vi Dân, Đào Anh Tới trong Tạp chí
Kiểm sát số 14, tháng 7/2011...


7

8

Mục đích của luận văn là đánh giá quy định của BLHS năm 2015 về tội
chống người thi hành công vụ và đề xuất ý kiến phục vụ việc triển khai thi
hành quy định này.
Để đạt được mục đích trên, tác giả đã tập trung nghiên cứu, giải quyết
các nhiệm vụ sau đây:
- Nghiên cứu lịch sử hình thành và phát triển của các quy định về tội
chống người thi hành công vụ trong luật hình sự Việt Nam;
- Phân tích quy định của pháp luật hình sự một số nước trên thế giới về
hành vi chống người thi hành công vụ;
- Phân tích các dấu hiệu pháp lý và dấu hiệu định khung tăng nặng của
tội chống người thi hành công vụ trong BLHS năm 2015;
- Đánh giá thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật hình sự về tội
chống người thi hành công vụ trong BLHS năm 1999.
5. Các câu hỏi nghiên cứu của luận văn
Để đạt được những mục tiêu trên của luận văn, tác giả đã đặt ra những
câu hỏi nghiên cứu sau:
- Các quy định về tội chống người thi hành công vụ được thể hiện như
thế nào trong các văn bản pháp luật hình sự Việt Nam từ năm 1945 đến nay?
- BLHS của một số nước khác quy định về hành vi chống người thi
hành công vụ như thế nào?
- Các dấu hiệu pháp lý của tội chống người thi hành công vụ được thể
hiện trong BLHS năm 1999 và BLHS năm 2015 như thế nào?
- Tội chống người thi hành công vụ được phân biệt với một số tội khác
có dấu hiệu “chống người thi hành công vụ” như thế nào?
- Thực tiễn áp dụng quy định về tội chống người thi hành công vụ theo
BLHS năm 1999 thường gặp khó khăn, vướng mắc như thế nào?
- Những khó khăn, vướng mắc này được khắc phục trong BLHS năm
2015 như thế nào?

- Chương 2: Tội chống người thi hành công vụ theo quy định của Bộ
luật hình sự năm 2015 trong sự so sánh với Bộ luật hình sự 1999


10

- Chương 3: Thực tiễn áp dụng quy định về tội chống người thi hành
công vụ theo Bộ luật hình sự năm 1999 và việc triển khai áp dụng quy định
này theo Bộ luật hình sự năm 2015.


11

Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ
TỘI CHỐNG NGƯỜI THI HÀNH CÔNG VỤ
1.1. Những khái niệm có liên quan đến tội chống người thi hành công vụ
1.1.1. Khái niệm công vụ
Công vụ là thuật ngữ được xem xét đánh giá từ nhiều góc độ khác
nhau. Do đó, công vụ được hiểu theo các phạm vi rộng hẹp khác nhau. Theo
cách hiểu chung nhất, công vụ là các việc công. Các việc này được thực hiện
vì lợi ích chung, lợi ích cộng đồng, lợi ích xã hội, lợi ích của nhà nước.
Ở nước ta hiện nay, trong các văn bản pháp luật, thuật ngữ “công vụ”
cũng chưa được hiểu thống nhất. Thuật ngữ “công vụ” đã được ghi nhận trong
một số văn bản pháp luật sau đây:
Thứ nhất, Nghị quyết số 04-HĐTPTANDTC/NQ của Hội đồng thẩm
phán Toà án nhân dân tối cao ngày 29/11/1985 xác định: “Công vụ là một
công việc mà cơ quan Nhà nước hoặc tổ chức xã hội giao cho một người thực
hiện”. Có thể nói rằng, đây là quy định về “công vụ” theo nghĩa rộng, không
giới hạn phạm vi lĩnh vực công vụ, không giới hạn về phạm vi chủ thể của

Từ ba định nghĩa trên, có thể thấy đặc điểm của công vụ là tính đúng
pháp luật và được giới hạn trong phạm vi nhất định bao gồm giới hạn về
phạm vi chủ thể của công vụ và giới hạn về phạm vi lĩnh vực của công vụ. Từ
các đặc điểm này, tác giả đồng tình với quan điểm về “công vụ” của GS.TS.
Nguyễn Ngọc Hoà: “Công vụ là hoạt động theo đúng pháp luật của chủ thể
được cơ quan nhà nước giao nhằm thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước bao
gồm quản lý hành chính, tố tụng hoặc thi hành án.” 2
Theo đó, công vụ phải là hoạt động quản lý nhà nước và đúng pháp
luật, tức là những hoạt động được thực hiện dựa trên cơ sở quy định của pháp
luật bao gồm pháp luật nội dung và pháp luật hình thức. Phạm vi lĩnh vực của
hoạt động công vụ được giới hạn trong ba lĩnh vực quản lý hành chính, tố
1 Mai Thị Thanh Nhung (2014), Luận văn Thạc sĩ luật học, Dấu hiệu thi hành công vụ trong Bộ luật hình sự
Việt Nam, trường Đại học Luật Hà Nội, tr. 15.
2 Nguyễn Ngọc Hòa (2012), Vấn đề thi hành công vụ và chế định phòng vệ chính đáng trong luật hình sự
Việt Nam, Tạp chí Luật học (02), tr. 26.


13

tụng và thi hành án. Chủ thể của công vụ là người thuộc các cơ quan nhà
nước hoặc được cơ quan nhà nước giao quyền thực hiện những nhiệm vụ nhất
định.
Với cách hiểu trên đây về công vụ thì đặc điểm quan trọng nhất của
công vụ là tính đúng pháp luật. Muốn được coi là công vụ thì hoạt động phải
đúng pháp luật và được biểu hiện thông qua nội dung hoạt động đúng pháp
luật, thủ tục thực hiện đúng pháp luật và người thực hiện có thẩm quyền theo
đúng pháp luật. Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật được coi là một trong các
nguyên tắc của hoạt động công vụ. Hoạt động không đúng pháp luật là hoạt
động “làm trái công vụ” và rõ ràng không phải là công vụ. 3
Như vậy, trong trường hợp người thi hành công vụ có hoạt động làm

nước. Do đó, việc quy định thành viên của tổ chức xã hội là chủ thể của công
vụ như Nghị quyết là không hợp lý.
Thứ hai, khoản 1 Điều 3 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước
năm 2010 quy định: “Người thi hành công vụ là người được bầu cử, phê
chuẩn, tuyển dụng hoặc bổ nhiệm vào một vị trí trong cơ quan nhà nước để
thực hiện nhiệm vụ quản lý hành chính, tố tụng, thi hành án hoặc người khác
được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao thực hiện nhiệm vụ có liên quan
đến hoạt động quản lý hành chính, tố tụng, thi hành án”.
Thứ ba, khoản 1 Điều 3 Nghị định 208/2013/NĐ-CP ngày 17/12/2013
của Chính phủ quy định các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý hành
vi chống người thi hành công vụ xác định người thi hành công vụ “… là cán
bộ, công chức, viên chức, sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ lực lượng vũ trang
nhân dân được cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có thẩm quyền giao thực hiện
nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật và được pháp luật bảo vệ
nhằm phục vụ lợi ích của Nhà nước, nhân dân và xã hội”.
Từ những định nghĩa trên, tác giả rút ra một số đặc điểm của người thi
hành công vụ như sau:
- Thứ nhất, người thi hành công vụ là người có thẩm quyền thực hiện
công vụ nhất định, bao gồm hai nhóm là:


15

+ Người được bầu cử, phê chuẩn, tuyển dụng hoặc bổ nhiệm vào một
vị trí trong cơ quan nhà nước thuộc lĩnh vực quản lý hành chính, tố tụng, thi
hành án;
+ Người tuy không được bầu cử, phê chuẩn, tuyển dụng hoặc bổ nhiệm
vào làm việc trong các cơ quan nhà nước nhưng được các cơ quan nhà nước
hay người có chức vụ quyền hạn giao thực hiện một nhiệm vụ quản lý nhà
nước trong lĩnh vực quản lý hành chính, tố tụng hoặc thi hành án.

thực hiện công vụ chưa bắt đầu hoặc đã kết thúc thì không còn là “đang thực
hiện công vụ”. Như vậy, người thi hành công vụ luôn gắn liền với công vụ cụ
thể; việc xác định người thi hành công vụ đặt ra yêu cầu cần xác định sự tồn
tại của một công vụ thực tế và công vụ đó đang được thực hiện một cách đúng
pháp luật bởi một chủ thể theo đúng thẩm quyền được giao.5
Thứ ba, việc thực hiện công vụ của cá nhân phải đúng pháp luật. Đặc
điểm đúng pháp luật này xuất phát từ bản chất của công vụ. Người thi hành
công vụ theo đúng nghĩa phải là người thực hiện hoạt động đúng pháp luật cả
về nội dung, hình thức và thẩm quyền. 6 Cụ thể, nội dung hoạt động phải
đúng pháp luật; trình tự, thủ tục thực hiện phải đúng pháp luật và người thực
hiện phải có thẩm quyền theo đúng pháp luật.
Dựa trên các đặc điểm trên, tác giả đưa ra định nghĩa về người thi hành
công vụ như sau: “Người thi hành công vụ là người được bầu cử, phê chuẩn,
tuyển dụng hoặc bổ nhiệm vào một vị trí trong cơ quan nhà nước hoặc người
khác đang tiến hành các hoạt động quản lý nhà nước trong lĩnh vực quản lý
hành chính, tố tụng, thi hành án theo đúng pháp luật và đúng thẩm quyền do
cơ quan nhà nước giao”.
Trên thực tế, chúng ta có thể nhận biết được một người đang thi hành
công vụ căn cứ vào các dấu hiệu rõ ràng về đồng phục đặc trưng của công vụ,
giấy tờ hợp pháp, đeo phù hiệu hoặc thẻ nghề nghiệp… trong trường hợp
không có những dấu hiệu đó thì người đang thi hành công vụ phải được mọi
người hoặc ít nhất là người thực hiện hành vi phạm tội biết rõ tư cách của
mình.

5 Mai Thị Thanh Nhung, tlđd chú thích 1, tr. 17.
6 Mai Thị Thanh Nhung, tlđd chú thích 1, tr. 18.


17



18

người có hành vi đó hoặc do hành vi sai trái, hống hách coi thường pháp luật
của người thi hành công vụ hoặc đơn thuần so sự coi thường pháp luật của
người chống người thi hành công vụ.
1.1.4. Khái niệm tội chống người thi hành công vụ
Từ những nội dung được phân tích tại mục 1.1.2 và 1.1.3 cũng như từ
cách hiểu của từ “chống”, tác giả định nghĩa tội chống người thi hành công vụ
như sau: Tội chống người thi hành công vụ là hành vi cố ý cản trở người thi
hành công vụ thực hiện nhiệm vụ thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước về hành
chính, tố tụng và thi hành án.
Từ định nghĩa này, có thể rút ra một số đặc điểm của tội chống người
thi hành công vụ như sau:
Thứ nhất, tội chống người thi hành công vụ xâm phạm hoạt động quản
lý nhà nước trong lĩnh vực hành chính, tố tụng và thi hành án, xâm phạm sự
hoạt động bình thường của cơ quan nhà nước, làm giảm hiệu quả quản lý của
các cơ quan này. Quan hệ xã hội bị tội chống người thi hành công vụ xâm hại
là quan hệ liên quan trực tiếp đến các hoạt động “công vụ”, là hoạt động
thuộc lĩnh vực quản lý hành chính, tố tụng và thi hành án (như đã phân tích tại
mục 1.1.1 của luận văn). Tội chống người thi hành công vụ xâm hại đến các
quan hệ xã hội trên thông qua việc tác động trực tiếp đến người đang thi hành
công vụ.
Thứ hai, chủ thể của tội chống người thi hành công vụ là chủ thể bình
thường, chỉ đòi hỏi thỏa mãn điều kiện về năng lực trách nhiệm hình sự (đủ
tuổi chịu TNHS theo quy định của luật và không thuộc trường hợp trong tình
trạng mất năng lực nhận thức hoặc năng lực điều khiển do mắc bệnh).
Thứ ba, hành vi phạm tội của tội này là hành vi cố ý có khả năng cản
trở người thi hành công vụ thực hiện công vụ của họ. Trong đó, “cản trở
người thi hành công vụ” có thể được hiểu là:

công vụ thực hiện công vụ” (không thực hiện được công vụ hoặc thực hiện
hành vi trái công vụ).
1.2. Khái quát lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam về tội chống
người thi hành công vụ


20

1.2.1. Quy định về tội chống người thi hành công vụ trong giai đoạn từ
năm 1945 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985
Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời đánh dấu một mốc lịch sử
quan trọng trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của dân tộc. Ngay từ khi
ra đời, Nhà nước ta đã nhận thức được tầm quan trọng của pháp luật trong
việc điều chỉnh các mối quan hệ xã hội, nhất là trong thời kỳ đất nước còn
gặp nhiều khó khăn. Trong giai đoạn này, nước ta chưa có BLHS mà chỉ có
các văn bản pháp luật riêng lẻ quy định các vấn đề hình sự. Tuy nhiên, lúc
này, tội chống người thi hành công vụ chưa được quy định thành tội phạm
riêng mà chỉ được gián tiếp đề cập trong các văn bản pháp luật bảo vệ tính
mạng, sức khỏe của con người nói chung. Cụ thể:
- Điều 6 Sắc lệnh số 151-SL ngày 12/4/1953 trừng trị địa chủ chống
pháp luật quy định:
“Địa chủ nào phạm một trong những tội sau đây:
1) Cấu kết với đế quốc, ngụy quyền, gián điệp thành lập hay cầm đầu
những tổ chức, những đảng phái phản động để chống Chính phủ, phá hoại
kháng chiến, làm hại nhân dân, giết hại nông dân, cán bộ và nhân viên;… thì
sẽ bị phạt tù từ 10 năm đến chung thân hoặc xử tử hình…”.
- Điều 14 Pháp lệnh trừng trị các tội phản cách mạng năm 1967 quy
định về tội phá rối trật tự, an ninh như sau:
“1. Kẻ nào vì mục đích phản cách mạng mà kích động, lôi kéo, tụ tập
nhiều người nhằm phá rối trật tự, an ninh, ngăn trở cán bộ, nhân viên nhà

thi hành công vụ còn được quy định tại Điều 83 – Tội phá rối an ninh, Điều
101 - Tội giết người và Điều 109 - Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại
sức khoẻ cho người khác. Cụ thể, Điều 205 quy định về tội chống người thi
hành công vụ như sau:
“1- Người nào dùng vũ lực hoặc đe doạ dùng vũ lực chống người thi hành
công vụ cũng như dùng mọi thủ đoạn cưỡng ép họ thực hiện những hành vi
trái pháp luật, nếu không thuộc trường hợp quy định ở Điều 101 và Điều 109,
thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng
đến ba năm.


22

2- Phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng thì bị phạt tù từ hai năm đến mười
năm.”
Hành vi khách quan của tội chống người thi hành công vụ đã được
hướng dẫn cụ thể tại Nghị quyết số 04-HĐTPTANDTC/NQ ngày 29/11/1986
như sau:
“- Dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực chống người thi hành công vụ
như đánh, trói… nhưng chưa gây chết người, thương tích hoặc tổn hại sức
khỏe của người thi hành công vụ hoặc đe dọa sẽ đánh, trói… người đó.
- Dùng mọi thủ đoạn cưỡng ép người thi hành công vụ thực hiện những
hành vi trái pháp luật như: dùng số đông người lấy danh nghĩa thương binh
cưỡng ép cán bộ quản lý thị trường cho đem hàng hóa đầu cơ đang bị tạm
giữ, cưỡng ép cán bộ kiểm lâm cho chở gỗ khai thác trái phép đang bị tạm
giữ…”
Dấu hiệu “hậu quả nghiêm trọng” quy định tại khoản 2 Điều 205 BLHS
năm 1985 cũng được Nghị quyết giải thích như sau: “Hậu quả nghiêm trọng
(quy định ở khoản 2) có thể là: người thi hành công vụ không hoàn thành
được nhiệm vụ; việc chấp hành pháp luật ở địa phương hoặc khu vực trở nên

c) Xúi giục, lôi kéo, kích động người khác phạm tội;
d) Gây hậu quả nghiêm trọng;
đ) Tái phạm nguy hiểm.”
So sánh quy định về tội chống người thi hành công vụ trong BLHS
năm 1985 với quy định tương ứng trong BLHS năm 1999, có thể nhận ra
những thay đổi giữa hai điều luật như sau:
- Khoản 1 Điều 257 BLHS năm 1999 bỏ nội dung “nếu không thuộc
trường hợp quy định ở Điều 101 và Điều 109” đã được quy định trong khoản
1 Điều 205 BLHS năm 1985 vì nội dung này không cần thiết.
- Khoản 1 Điều 257 BLHS năm 1999 bổ sung thêm “thủ đoạn khác cản
trở người thi hành công vụ thực hiện công vụ của họ” ngoài hành vi “dùng vũ
lực, đe doạ dùng vũ lực chống người thi hành công vụ cũng như dùng mọi thủ
đoạn cưỡng ép họ thực hiện hành vi trái pháp luật” như khoản 1 Điều 205


24

BLHS năm 1985 đã quy định. Sự bổ sung này là cần thiết để mô tả cụ thể và
rõ ràng hơn mặt khách quan của tội chống người thi hành công vụ.
- Về hình phạt: Cả hai BLHS đều quy định hai khung hình phạt nhưng
BLHS năm 1999 đã nâng mức hình phạt cải tạo không giam giữ từ 1 năm lên
thành 3 năm (khung cơ bản) và hạ mức tối đa của khung hình phạt từ 10 năm
xuống còn 7 năm (khung tăng nặng). Việc điều chỉnh này nhằm đảm bảo sự
phù hợp với thực tế của tội phạm. Ngoài ra, BLHS năm 1999 bổ sung một số
tình tiết định khung hình phạt tăng nặng ngoài tình tiết phạm tội gây hậu quả
nghiêm trọng được quy định trong BLHS năm 1985. Đó là tình tiết: Phạm tội
có tổ chức; phạm tội nhiều lần; xúi giục, lôi kéo, kích động người khác phạm
tội; tái phạm nguy hiểm. Đây là những tình tiết thường gặp trong các vụ án
chống người thi hành công vụ. Do vậy, việc bổ sung các tình tiết này có ý
nghĩa tích cực trong việc truy cứu TNHS người phạm tội, khắc phục hạn chế

1.3. Quy định của pháp luật hình sự một số nước về hành vi chống
người thi hành công vụ
1.3.1. Bộ luật hình sự nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa
BLHS nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa (sau đây gọi tắt là BLHS
Trung Hoa) có kết cấu gồm 2 phần (Phần chung và Phần các tội phạm), 15
chương, 37 mục với 452 điều luật. Hành vi chống người thi hành công vụ
được ghi nhận tại Điều 277 thuộc Mục 1- Tội gây rối trật tự công cộng –
Chương VI – Tội xâm phạm trật tự quản lý xã hội như sau:
“Người nào dùng vũ lực hoặc đe doạ dùng vũ lực nhằm cản trở nhân
viên cơ quan nhà nước thi hành nhiệm vụ thì bị phạt tù đến 3 năm, cải tạo lao
động, quản chế hoặc bị phạt tiền.
Nếu dùng vũ lực hoặc đe doạ dùng vũ lực nhằm cản trở đại biểu Đại
hội nhân dân các cấp địa phương và đại biểu Đại hội nhân dân toàn quốc thi
hành nhiệm vụ đại biểu, thì sẽ bị xử phạt theo quy định trên.
Người nào dùng vũ lực hoặc đe doạ dùng vũ lực nhằm cản trở nhân
viên chữ thập đỏ thực hiện nhiệm vụ trong hoàn cảnh xảy ra thiên tai hoặc
trong trường hợp khẩn cấp, thì sẽ bị xử phạt theo quy định tại khoản 1 Điều
này.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status