Đề tài: Tội chống người thi hành công vụ trong luật hình sự Việt Nam - Pdf 33

Tội chống người thi hành công vụ trong Luật hình sự Việt Nam
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài

Hiện nay tội phạm chống người thi hành công vụ gia tăng với nhiều tính
chất, mức độ, nhiều loại công cụ phương tiện khác nhau. Đe dọa đến tính mạng,
sức khỏe của người thi hành công vụ. Bộ luật Hình sự (BLHS) Việt Nam hiện hành
đã thể hiện thái độ thông qua việc quy định hành vi chống người thi hành công vụ
là tội phạm, tuy nhiên tùy vào tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi, phụ
thuộc vào các khách thể bị xâm hại cũng như động cơ, mục đích của người phạm
tội, nhà làm luật đã xây dựng các điều luật, các khoản khác nhau đối với những
hành vi có dấu hiệu "chống người thi hành công vụ". Pháp luật hình sự hiện hành
quy định về xử lý đối với tội phạm này đã khá chặt chẽ, tuy nhiên vẫn còn tồn tại
một số bất cập, hạn chế như hình phạt còn nhẹ chưa đủ sức răn đe, quy định xử lý
còn bỏ lọt tội phạm, văn bản hướng dẫn không còn phù hợp… Vì vậy, nghiên cứu
những vấn đề lý luận và thực tiễn về hành vi chống người thi hành công vụ trong
Luật hình sự Việt Nam là thật sự cần thiết. Thông qua việc nghiên cứu này có thể
tìm ra hướng hoàn thiện những quy định của pháp luật hình sự trong việc góp phần
nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm chống người thi hành
công vụ và tiến tới hạn chế, đẩy lùi loại tội phạm này có hiệu quả. Do đó người viết
đã chọn đề tài “Tội chống người thi hành công vụ trong luật hình sự Việt Nam ”
làm đề tài nghiên cứu của mình .
2.Phạm vi, mục tiêu nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu tập trung làm rõ cơ sở lý luận của tội chống người thi
hành công vụ, tìm hiểu tình hình tội phạm hiện nay, làm rõ nguyên nhân của tội
phạm và từ đó đề xuất một số giải pháp đấu tranh, phòng chống với tội phạm này

1


Tội chống người thi hành công vụ trong Luật hình sự Việt Nam

2


Tội chống người thi hành công vụ trong Luật hình sự Việt Nam

vấn đề như các quy định của luật hay tình hình, nguyên nhân của tội phạm
chống người thi hành công vụ. Người viết mong nhận được ý kiến đánh giá,
nhận xét từ phía quý Thầy, Cô để bài viết được hoàn thiện hơn, có khả năng áp
dụng vào thực tế, góp phần hạn chế cũng như đấu tranh, phòng chống tội phạm
nói chung và tội phạm chống người thi hành công vụ nói riêng một cách có hiệu
quả.

3


Tội chống người thi hành công vụ trong Luật hình sự Việt Nam
CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VÀ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT
NAM CỦA TỘI CHỐNG NGƯỜI THI HÀNH CÔNG VỤ
1.1 Lý luận chung tội về chống người thi hành công vụ
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của tội chống người thi hành hành công vụ
Trong Bộ luật Hình sự đầu tiên của nước ta BLHS 1985, tội chống người
thi hành công vụ được quy định tại Chương VIII: Các tội xâm phạm an toàn, trật
tự công cộng và trật tự quản lý hành chính, mục C, Điều 205 như sau: “Người
nào dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực chống người thi hành công vụ cũng
như dùng mọi thủ đoạn cưỡng ép họ thực hiện những hành vi trái pháp luật, nếu
không thuộc trường hợp quy định ở Điều 101 và Điều 109…”
Trên cơ sở kế thừa tư tưởng của BLHS 1985, BLHS 1999 đã quy định tội
chống người thi hành công vụ tại Điều 257, Chương XX: Các tội xâm phạm trật
tự quản lý hành chính. BLHS 1999 quy định nhóm các tội xâm phạm trật tự quản

mãn hai yếu tố:
- Một là, về chủ thể, người thi hành công vụ phải là cán bộ, công chức,

viên chức của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ
chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội hoặc cũng có thể là một
công dân bất kỳ được cơ quan nhà nước có thẩm quyền huy động, yêu cầu thực
hiện nhiệm vụ.
- Hai là, về phạm vi nhiệm vụ thực hiện, chỉ có thể được coi là thi hành

công vụ khi công việc mà họ làm phải là thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của
các cơ quan nhà nước, các tổ chức nhằm phục vụ lợi ích chung của nhà nước, của
xã hội. Như vậy, thi hành công vụ tức là làm nhiệm vụ công, nghĩa là vì lợi ích
chung của nhà nước, của xã hội. Ví dụ như Cảnh sát giao thông đang làm nhiệm
vụ điều tiết giao thông, kiểm lâm đang tuần tra bảo vệ rừng
Tóm lại, chống người thi hành công vụ là hành vi dùng vũ lực, đe dọa
dùng vũ lực hoặc các thủ đoạn khác nhằm cản trở người thi hành công vụ thực
hiện công vụ của họ hoặc ép buộc họ thực hiện hành vi trái pháp luật.1Khi xã
1

Nguyễn Ngọc Hòa, Lê Thị Sơn “ Từ điển pháp lý hình sự NXB Tư pháp năm 2003

GVHD Nguyễn Văn Tròn

Page 5

SVTH Phan Thiết Kế


Tội chống người thi hành công vụ trong Luật hình sự Việt Nam
hội phát triển đến một mức độ nào đó, các quan hệ xã hội ngày một phức tạp, thì



Tội chống người thi hành công vụ trong Luật hình sự Việt Nam
Những tội phạm chống người thi hành công vụ có xu hướng gia tăng mạnh,
xâm hại đến nhiều khách thể khác nhau, nhưng nhìn chung đều ảnh hướng trực
tiếp đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của bản thân người thi hành
công vụ, có những tội phạm còn gây hại đối với người thân của người thi hành
công vụ để gây sức ép, hoặc để trả thù người thi hành công vụ. Những hành vi
như vậy được thực hiện do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, chủ yếu
bởi những nguyên nhân sau
Do đặc thù của hoạt động thi hành pháp luật, những người thi hành công vụ
thường xuyên phải đối mặt với các loại tội phạm, các vấn đề bức xúc của xã hội có
liên quan đến quyền và lợi ích của các tầng lớp, các bộ phận dân cư
Các chế tài quy định trong Bộ luật Hình sự nằm trong các điều luật có dấu
hiệu chống người thi hành công vụ còn chưa thực sự nghiêm khắc, nhiều quy định
liên quan đến hoạt động của lực lượng thi hành công vụ còn chưa kịp thời được bổ
sung, sửa đổi phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ.
Nguyên nhân cuối cùng là về phía bản thân người thi hành công vụ, đôi khi
lực lượng thi hành công vụ khi thực thi nhiệm vụ có thái độ ứng xử chưa đúng
mực, khả năng thuyết phục quần chúng và các đối tượng khác không cao hoặc có
biểu hiện cửa quyền, hách dịch, gây ức chế cho người dân, dẫn đến một số vụ
chống người thi hành công vụ
1.1.3 Lịch sử hình thành và phát triển tội chống người thì hành công vụ
trong luật hình sự Việt Nam
Trong bất cứ thời kỳ nào, hành vi chống người thi hành công vụ cũng diễn
ra, bởi sẽ có những người vì bảo vệ lợi ích riêng của mình mà đi ngược lại với
lợi ích của toàn xã hội. Trong giai đoạn này, không có một văn bản nào quy
định về một tội phạm riêng, cụ thể cho hành vi chống người thi hành công vụ,
mà đều nằm rải rác trong các văn bản quy định về một nhóm tội nào đó. Hành
GVHD Nguyễn Văn Tròn

độ mở rộng phạm vi điều chỉnh cụ thể của hành vi chống người thi hành công vụ
vẫn còn hạn chế
Sau nhiều năm xây dựng và phát triển, nước ta đã có những bước tiến
GVHD Nguyễn Văn Tròn

Page 8

SVTH Phan Thiết Kế


Tội chống người thi hành công vụ trong Luật hình sự Việt Nam
quan trọng về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Do đó, để đáp ứng kịp thời với
tình hình thực tế của đất nước ngày 21/11/1999 Quốc hội nước ta đã thông qua
Bộ luật Hình sự mới thay thế cho BLHS 1985, Bộ luật Hình sự này gồm 24
chương với 344 điều. Trong đó, tội chống người thi hành công vụ được quy tại
Điều 257, Chương XX: Các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính với nội
dung như sau:
“1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác
cản trở người thi hành công vụ thực hiện công vụ của họ hoặc ép buộc họ thực
hiện hành vi trái pháp luật, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc
phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.
Xuất phát từ thực tiễn xét xử cho thấy, nhiều trường hợp người phạm tội
không dùng vũ lực, cũng không đe dọa dùng vũ lực đối với người thi hành công
vụ nhưng vẫn cản trở được việc thi hành công vụ của họ mà không bị xử lý vì
không được quy định trong Điều 205 BLHS 1985 nên khi ban hành Bộ luật Hình
sự năm 1999 các nhà làm luật đã quy định thêm hành vi “dùng thủ đoạn khác” ở
Điều 257 để xử lý các hành vi này. Đây là một quy định tiến bộ của Bộ luật Hình
sự năm 1999 so với BLHS 1985.
Như vậy so với Bộ luật hình sự năm 1985, BLHS hiện hành đã mở rộng
hơn phạm vi tác động và điều chỉnh đến những hành vi phạm tội đối với người

d) Gây thiệt hại về tài sản 50.000.000 đồng trở lên;
đ) Tái phạm nguy hiểm.
1.2 Quy định pháp luật về tội chống người thi hành công vụ trong luật
hình sự Việt Nam
1.2.1 Dấu hiệu pháp lý của tội chống người thi hành công vụ
Các tội phạm có dấu hiệu chống người thi hành công vụ tuy được quy định ở
những chương, những điều khác nhau, với những hành vi khách quan khác nhau
nhưng xét về mặt lý luận cấu thành tội phạm, các mặt khách quan, mặt chủ quan,
khách thể và chủ thể có những điểm chung nhất định.Việc đi vào cụ thể từng yếu tố
cấu thành tội phạm, qua đó làm sáng tỏ các dấu hiệu pháp lý hình sự và trách
nhiệm hình sự đối với từng tội phạm cụ thể để dễ dàng phân biệt tội phạm này đối
GVHD Nguyễn Văn Tròn

Page 10

SVTH Phan Thiết Kế


Tội chống người thi hành công vụ trong Luật hình sự Việt Nam
với tội phạm khác cũng như các trường hợp không phải là tội phạm là một việc hết
sức cần thiết. Các tội phạm có dấu hiệu "chống người thi hành công vụ" sẽ được
phân tích đánh giá qua bốn yếu tố: khách thể của tội phạm, mặt khách quan của tội
phạm, chủ thể của tội phạm và mặt chủ quan của tội phạm. Trong đó Tội chống
người thi hành công vụ (Điều 257 BLHS) là tội phạm điển hình và mang tính bản
chất nhất của hành vi chống người thi hành công vụ, được pháp luật Hình sự quy
định thành một tội phạm riêng, mang đặc điểm dấu hiệu cấu thành tội phạm cụ thể
1.2.1.1Khách thể của tội chống người thi hành công vụ
Khách thể của tội phạm này là xâm phạm đến các hoạt động của Nhà nước về
quản lý hành chính trong lĩnh vực thi hành nhiệm vụ mà trực tiếp đó là nhiệm vụ
của những người đang thi hành công vụ. Đối tượng cụ thể ở đây là người thi hành

Trong thực tiễn, đối tượng tác động của tội phạm này thường là cán bộ thuế, cảnh
sát giao thông, đội viên dân phòng, cán bộ công an, kiểm sát, toà án, thi hành án và
các cán bộ chính quyền địa phương... đang thực hiện nhiệm vụ công.
1.2.1.2Chủ thể của tội chống người thi hành công vụ
Chủ thể của tội phạm này là chủ thể thường không phải là chủ thể đặc biệt,
chỉ cần hội đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật là có thể trở thành chủ
thể của tội phạm này. Các điều kiện đó là tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy
định tại Điều 12 BLHS và điều kiện về không thuộc trường hợp không có năng
lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 13 BLHS.
Tội chống người thi hành công vụ quy định tại Điều 257 BLHS có hai
khung hình phạt. Khung hình phạt thứ nhất cao nhất là ba năm tù (tội phạm ít
nghiêm trọng), khung hình phạt thứ hai cao nhất là bảy năm tù (tội phạm nghiêm
trọng). Như vậy, chủ thể của tội chống người thi hành công vụ là người từ đủ 16
tuổi trở lên có khả năng nhận thức, khả năng điều khiển hành vi và đã thực hiện
hành vi chống người thi hành công vụ quy định tại Điều 257 BLHS. Người dưới
16 tuổi không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này
Theo nguyên tắc lãnh thổ quy định tại Điều 5 BLHS: “Bộ luật Hình sự áp
dụng đối với mọi hành vi phạm tội trên lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Việt Nam”. Do vậy khi người phạm tội không là công dân Việt Nam nhưng đã
GVHD Nguyễn Văn Tròn

Page 12

SVTH Phan Thiết Kế


Tội chống người thi hành công vụ trong Luật hình sự Việt Nam
thực hiện hành vi chống người thi hành công vụ trên lãnh thổ Việt Nam thì phải
chịu trách nhiệm hình sự theo pháp luật hình sự Việt Nam. Trong trường hợp
người nước ngoài phạm tội mà họ được hưởng các quyền miễn trừ tư pháp theo

SVTH Phan Thiết Kế


Tội chống người thi hành công vụ trong Luật hình sự Việt Nam
vi dùng vũ lực có thể bằng chân, tay để đá, đấm, trói hoặc cũng có thể thông qua
công cụ, phương tiện để thực hiện hành vi phạm tội như: gậy, dao, kiếm, thanh
sắt… làm cho người thi hành công vụ bị thương tổn đến sức khỏe nhưng chưa gây
thương tích hoặc thương tích không đáng kể (không có tỉ lệ thương tật).Còn nếu
hành vi dùng vũ lực đã gây ra thương tích cho người thi hành công vụ, mà có tỉ lệ
thương tật hoặc gây chết người thi hành công vụ, thì tùy theo trường hợp mà có thể
người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cố ý gây thương tích hoặc
gây tổn hại cho sức khỏe của người khác theo Điều 104 BLHS hoặc tội giết người
theo Điều 93 BLHS với tình tiết là yếu tố định khung hình phạt “để cản trở người
thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân” hoặc “giết người đang thi
hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân”.
Vì vậy, tùy thuộc vào hậu quả xảy ra của hành vi chống người thi hành
công vụ mà hành vi này có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Người có hành vi
dùng vũ lực đối với người thi hành công vụ chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự
về tội chống người thi hành công vụ khi chưa gây ra thương tích (không có tỉ lệ
thương tật) hoặc thương tích không đáng kể hay chưa gây ra chết người.
Hành vi đe dọa dùng vũ lực chống lại người đang thi hành công vụ
Hành vi đe dọa dùng vũ lực chống lại người thi hành công vụ là việc dùng
cử chỉ, hoặc lời nói có tính đe dọa, uy hiếp khiến cho người thi hành công vụ sợ
hãi phải chấm dứt việc thi hành công vụ… sự đe dọa là thực tế và có cơ sở để
người thi hành công vụ tin rằng nếu không ngừng việc thực hiện công vụ sẽ bị
dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc sau đó một thời gian.
Ví dụ: Đoàn cưỡng chế thi hành án do A dẫn đầu đến nhà B để thực hiện
nhiệm vụ cưỡng chế. B và nhiều người trong gia đình cầm dao, gậy đứng trận ở
cửa, B nói “đứa nào vào thì biết tay tao”. Thấy thái độ hung hăng của B đoàn
cưỡng chế phải ra về. Trong ví dụ này hành vi đe dọa dùng vũ lực của B là có cơ

không làm theo yêu cầu của người kia đưa ra nhằm giúp cho người đó thực hiện
hành vi trái pháp luật như: không thực hiện việc xử lý vi phạm, xử lý các hành vi
vi phạm ở mức độ thấp, không thực hiện nghĩa vụ mà người thi hành công vụ
phải thực hiện và có điều kiện để thực hiện, thì họ sẽ công khai những thông tin
GVHD Nguyễn Văn Tròn

Page 15

SVTH Phan Thiết Kế


Tội chống người thi hành công vụ trong Luật hình sự Việt Nam
gây ảnh hưởng xấu đến người thi hành công vụ
Dùng thủ đoạn khác cản trở người thi hành công vụ
Thực tiễn nhận thấy rằng thủ đoạn chống người thi hành công vụ hết sức
phức tạp, với rất nhiều thủ đoạn khác nhau. Vì vậy, một điều luật trong phạm vi
giới hạn của nó không thể liệt kê được đầy đủ tất cả thủ đoạn đó. Tuy nhiên, để
đảm bảo việc xử lý nghiêm minh mọi hành vi vi phạm pháp luật, đặc biệt là hành
vi phạm tội thì cần phải có quy định các hành vi này trong Bộ luật Hình sự và các
văn bản hướng dẫn thi hành. Xuất phát từ thực tiễn xét xử cho thấy, nhiều trường
hợp người phạm tội không dùng vũ lực, cũng không đe dọa dùng vũ lực đối với
người thi hành công vụ nhưng vẫn cản trở được việc thi hành công vụ của họ nên
các nhà làm luật đã đưa ra quy định chung có thể coi là một dạng của hành vi
chống người thi hành công vụ: “Thủ đoạn khác cản trở người thi hành công vụ
thực hiện công vụ”. Đây là điểm mới bổ sung so với BLHS 1985 về cấu thành tội
phạm nhằm mô tả bao quát và đầy đủ hơn các dạng hành vi phạm tội trên thực tế.
“Dùng thủ đoạn khác” cũng là một dạng hành vi chống người thi hành công vụ
hành vi tương tự như các dạng hành vi đã phân tích ở trên nhưng không thuộc
những hành vi đó. Ví dụ như: bôi nhọ, vu khống, nằm trước đầu xe đoàn cưỡng
chế, tự gây thương tích hoặc giả gây thương tích để vu khống cho cán bộ hành

nguy hiểm cho xã hội (mục đích).
Trong các nội dung biểu hiện của mặt chủ quan thì lỗi là biểu hiện cơ bản
được phản ánh trong tất cả các cấu thành tội phạm. Nó có ý nghĩa quyết định
trong việc xác định trách nhiệm hình sự của một người. Mục đích và động cơ tuy
là dấu hiệu của mặt chủ quan nhưng không phải luôn có ý nghĩa quyết định đối
với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm. Ở tội chống người thi
hành công vụ, động cơ và mục đích là một trong những dấu hiệu để phân biệt tội
phạm này với một số tội phạm khác.
Người phạm tội chống người thi hành công vụ thực hiện bằng hành vi cố
ý, tức là người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là chống người thi hành
công vụ, thấy trước hậu quả của hành vi đó có thể xảy ra, tuy không mong muốn
nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra
* Lỗi của người phạm tội

Lỗi là trạng thái tâm lý của một người đối với hành vi nguy hiểm cho xã
GVHD Nguyễn Văn Tròn

Page 17

SVTH Phan Thiết Kế


Tội chống người thi hành công vụ trong Luật hình sự Việt Nam
hội của mình và hậu quả do hành vi đó gây ra và được biểu hiện dưới hình thức
cơ bản là lỗi cố ý hoặc vô ý.
Trong trường hợp người phạm tội không biết hoặc có nghi ngờ về tính hợp
pháp của người đang thi hành công vụ, thì tùy từng trường hợp cụ thể mà xác
định người đó có lỗi hay không. Tuy nhiên, việc xem xét nhận thức của người
phạm tội trong những trường hợp này cần phải cẩn trọng. Bởi nhiều trường hợp
người phạm tội tuy nhận thức được rõ là người thi hành công vụ nhưng vẫn cố

rằng để xác định được có hành vi chống người thi hành công vụ hay không thì
cần phải chứng minh được nó.
Động cơ của tội phạm là động lực bên trong thúc đẩy người phạm tội thực
hiện hành vi phạm tội (có thể hiểu là nguyên nhân tinh thần của tội phạm) Đối
với tội chống người thi hành công vụ thì động cơ cũng rất đa dạng nhưng thường
mang tính chất cá nhân, riêng lẻ như là sợ bị nộp phạt hoặc sợ bị tịch thu hàng
hóa… nên chống người thi hành công vụ.
1.2.2 Các trường hợp phạm tội cụ thể
Trong luật hình sự Việt Nam, hành vi chống người thi hành công vụ được
quy định là tội phạm theo cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp.
Theo nghĩa hẹp, hành vi chống người thi hành công vụ có thể cấu thành tội
chống người thi hành công vụ theo quy định tại Điều 257 BLHS nếu không có
dấu hiệu của một tội khác.
Theo nghĩa rộng, hành vi chống người thi hành công vụ có thể là tình tiết
định khung tăng nặng trong cấu thành một trong các tội sau:
Tội giết người nếu “giết người đang thi hành công vụ hoặc vì lí do công vụ
của nạn nhân” (điểm d khoản 1 Điều 93 BLHS)
-

Tội đe doạ giết người nếu “đe doạ giết người thi hành công vụ hoặc vì lí

do công vụ của nạn nhân” (điểm b khoản 2 Điều 103 BLHS);
-

Tội cố ý gây thương tích hoặc... nếu cố ý gây thương tích hoặc... “để cản

trở người thi hành công vụ hoặc vì lí do công vụ của nạn nhân” (điểm k khoản
1, 2, 3, 4 Điều 104 BLHS)
- Tội


bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật nếu bắt, giữ hoặc giam “đối

với người thi hành công vụ” (điểm c khoản 2 Điều 123 BLHS);
Đối tượng bị xâm hại là người thi hành công vụ, thời điểm họ bị xâm hại
có thể là trước, trong hoặc sau khi thực hiện công vụ được giao vì lợi ích
chung. Riêng tội chống người thi hành công vụ thì nạn nhân luôn bị xâm hại
khi đang thi hành công vụ
1.2.2.1 Phạm tội chống người thi hành công vụ không có các tình tiết định
khung tăng nặng
Đây là cấu thành tội phạm cơ bản của tội chống người thi hành công vụ
được quy định tại khoản 1 Điều 257 BLHS 1999“Người nào dùng vũ lực, đe
dọa dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác cản trở người thi hành công vụ thực
hiện công vụ của họ hoặc ép buộc họ thực hiện hành vi trái pháp luật, thì bị phạt
cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm”, theo
khoản này thì người phạm tội có thể bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm
hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm là tội phạm ít nghiêm trọng. Tuy nhiên,
cũng cần lưu ý rằng người thi hành công vụ là người đã bắt đầu thực hiện nhiệm
vụ và chưa kết thúc nhiệm vụ đó, nếu chưa bắt đầu hoặc đã kết thúc nhiệm vụ mà
GVHD Nguyễn Văn Tròn

Page 20

SVTH Phan Thiết Kế


Tội chống người thi hành công vụ trong Luật hình sự Việt Nam
bị xâm phạm thì không thuộc trường hợp chống người thi hành công vụ và công
vụ đó phải hợp pháp, nghĩa là mọi trình tự, thủ tục thi hành phải bảo đảm đúng
pháp luật. Nếu người thi hành công vụ lại là người làm trái pháp luật mà bị xâm
phạm thì người có hành vi xâm phạm không phải là hành vi chống người thi hành

chẽ với nhau, vạch ra kế hoạch để thực hiện việc chống người thi hành công vụ,
dưới sự điều khiển, thống nhất của người cầm đầu. Thậm chí ở đây còn có sự
điều khiển chung thống nhất cho phép người phạm tội có điều kiện chuẩn bị tốt
hơn về mọi mặt, có khả năng thực hiện tội phạm liên tục, lâu dài, cản trở triệt để
hơn việc thi hành công vụ của người đang thi hành công vụ. Trong đó, tùy thuộc
vào quy mô, mức độ phạm tội mà có những người giữ những vai trò khác nhau
như: người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức.
- Người tổ chức tồn tại với nhiều dạng khác nhau như là: người chủ mưu,

cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tôi phạm. Là người giữ vai trò trọng tâm từ việc
khởi xướng, lập kế hoạch, lôi kéo, bố trí phân công nhiệm vụ cho từng đồng
phạm khác đến đôn đốc, thúc đẩy quá trình phạm tội và điều khiển hành động
của các đồng phạm theo đúng kế hoạch đã hoạch ra.
- Người thực hành là người trực tiếp thực hiện hành vi, giữ vai trò quyết

định đến việc thực hiện hành vi chống người thi hành công vụ. Những hành vi đó
có thể là trực tiếp dùng vũ lực hay đe dọa dùng vũ lực đối với người thi hành
công vụ; cản trở người thi hành công vụ hoặc dùng thủ đoạn ép buộc người thi
hành công vụ thực hiện hành vi trái pháp luật.
Như vậy, nếu không có người thực hành thì tội chống người thi hành công
vụ chỉ dừng lại ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội, mục đích chống người thi hành
công vụ không được thực hiện, hậu quả chưa xảy ra vì thế trách nhiệm hình sự
của các đồng phạm khác phụ thuộc rất nhiều vào hành vi của người thực hành.
Trên thực tế, ít có trường hợp người thực hành thực hiện theo kế hoạch mà
các đồng phạm khác đặt ra, có trường hợp người thực hành tự ý không thực hiện
tội phạm hoặc tự ý nửa chừng chấm dứt việc thực hiện tội phạm, nhưng cũng có
nhiều trường hợp người thực hành tự ý thực hiện những hành vi vượt quá yêu cầu
của các đồng phạm khác đặt ra.
GVHD Nguyễn Văn Tròn


chính, xử lý kỷ luật... thì không tính lần phạm tội đó vào lần phạm tội sau để coi
bị cáo phạm tội nhiều lần.
- Trường hợp hành vi chống người thi hành công vụ đã được Viện kiểm
GVHD Nguyễn Văn Tròn

Page 23

SVTH Phan Thiết Kế


Tội chống người thi hành công vụ trong Luật hình sự Việt Nam
sát miễn truy tố hoặc không truy tố cùng với hành vi chống người thi hành công
vụ bị đưa ra xét xử hoặc đã tách để xử lý ở vụ án khác thì cũng không coi là
phạm tội nhiều lần.
c) Xúi giục, lôi kéo, kích động người khác phạm tội
Khác với trường hợp phạm tội có tổ chức, các vụ án này xảy ra không có
tổ chức, phân công nhiệm vụ phạm tội. Những người phạm tội do thiếu hiểu biết,
ý thức chấp hành pháp luật còn kém nên đã bị người khác xúi giục, kích động, lôi
kéo và đã nảy sinh hành vi chống lại người thi hành công vụ.
Trong trường hợp này người phạm tội đã có những hành vi xúi giục, kích
động đến người khác khiến người này phạm tội. Người phạm tội có thể xúi giục,
nghĩ ra việc phạm tội, thúc đẩy cho tội phạm đó được thực hiện thông qua người
khác nhằm thực hiện ý định phạm tội đã có. Sự xúi giục này được thực hiện bằng
nhiều thủ đoạn như lôi kéo, kích động, cưỡng ép, lừa dối. Việc xúi giục, kích
động, lôi kéo có mức độ nghiêm trọng khác nhau, tùy thuộc vào một hoặc một số
người nhất định và tùy và từng trường hợp.
d)Gây hậu quả nghiêm trọng
Phạm tội chống người thi hành công vụ gây hậu quả nghiêm trọng là phạm
tội mà gây ra những hậu quả nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, danh dự,
nhân phẩm của người thi hành công vụ, những thiệt hại nghiêm trọng về tài sản

khung hình phạt trong trường hợp này chỉ là bảy năm tù (tội nghiêm trọng). Do
đó việc xem xét có phải là tái phạm nguy hiểm tại điểm a khoản 2 Điều 49 BLHS
1999 sẽ không được đặt ra.
Như vậy, trường hợp phạm tội chống người thi hành công vụ với tình tiết
tái phạm nguy hiểm có nghĩa là người phạm tội đã tái phạm về bất cứ tội gì, chưa
được xóa án tích mà lại phạm tội chống người thi hành công vụ.
Về hình phạt nếu người phạm tội phạm tội thuộc trường hợp quy định tại
khoản 2 Điều 257 BLHS 1999 thì có thể bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm. Nếu
người phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ và chỉ thuộc một trường hợp quy định
tại khoản 2 điều này, không có tình tiết tăng nặng hoặc tình tiết tăng nặng không
đáng kể thì người phạm tội có thể được áp dụng hình phạt dưới hai năm tù hoặc
chuyển sang hình phạt cải tạo không giam giữ. Và ngược lại, nếu không có tình
tiết giảm nhẹ hoặc tình tiết giảm nhẹ không đáng kể và thuộc nhiều trường hợp
GVHD Nguyễn Văn Tròn

Page 25

SVTH Phan Thiết Kế


Trích đoạn Một số giải pháp đấu tranh chống người thi hành công vụ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status