Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ theo luật hình sự việt nam (trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn địa bàn thành phố hà nội) - Pdf 39

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

TẠ QUỐC TUẤN

TỘI LỢI DỤNG CHỨC VỤ, QUYỀN HẠN
TRONG KHI THI HÀNH CÔNG VỤ
THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
(trên cơ s ở nghiên cứu thực tiễn địa bàn thành phố Hà Nội)

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2016

1


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

TẠ QUỐC TUẤN

TỘI LỢI DỤNG CHỨC VỤ, QUYỀN HẠN
TRONG KHI THI HÀNH CÔNG VỤ
THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
(trên cơ s ở nghiên cứu thực tiễn địa bàn thành phố Hà Nội)
Chuyên ngành : Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số

: 60 38 01 04


Danh mục các từ viết tắt
MỞ ĐẦU

Chương 1:

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC QUY ĐỊNH TỘI LỢI

1
8

DỤNG CHỨC VỤ, QUYỀN HẠN TRONG KHI THI
HÀNH CÔNG VỤ TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ

1.1.

1.2.
1.3.

1.3.1.
1.3.2.
1.4.
1.4.1.
1.4.2.
1.4.3.
1.4.4.
1.5.
1.5.1.

Quy định về tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi
hành công vụ từ n ăm 1945 đến trước khi có Bộ luật hình sự

29
32
40
43
47
47


1.5.2. Phạm tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công

48

vụ thuộc các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 281 Bộ
luật hình sự
1.5.3. Phạm tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công

61

vụ thuộc các trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 281 Bộ
luật hình sự
1.5.4. Hình phạt bổ sung của tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong

65

khi thi hành công vụ
Chương 2:

THỰC TIỄN ÁP DỤNG QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT

69

74

Điều 46 Bộ luật hình sự 1999 đối với tội lợi dụng chức vụ,
quyền hạn trong khi thi hành công vụ
2.3.

Những khó khăn, vướng mắc khi áp dụng tội lợi dụng chức

75

vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ
Chương 3:

HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT HÌNH SỰ

80

VỀ TỘI LỢI DỤNG CHỨC VỤ, QUYỀN HẠN TRONG
KHI THI HÀNH CÔNG VỤ TỪ THỰC TIỄN THÀNH
PHỐ HÀ NỘI

3.1.

Yêu cầu hoàn thiện các quy định của bộ luật hình sự việt nam
năm 1999 về tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi
hành công vụ

5

80

đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị để xảy ra tội phạm

84

3.3.1.
3.3.2.
3.3.3.

3.3.4.
3.3.5.
3.3.6.
3.3.7.

3.3.8.

KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

6

84
84
86

87
87
88
88

89

được Nhà nước đặc biệt quan tâm trong giai đoạn hiện nay.
Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ từ 20 - 25/01/1994 khóa VII
của Đảng chỉ rõ tệ quan liêu, tham nhũng là một trong bốn nguy cơ của cách
mạng nước ta. Đặt vấn đề như thế có nghĩa tội tham nhũng nói chung không
chỉ là một tệ nạn xã hội thông thường, chỉ tác hại thuần túy về mặt kinh tế mà
đã trở thành vấn đề chính trị pháp lý, là nguy cơ uy hiếp sự tồn vong của chế độ.
Đảng và Nhà nước ta đã có rất nhiều chỉ thị, nghị quyết, đã tiến hành
nhiều cuộc vận động lớn và được đông đảo quần chúng đồng tình ủng hộ, tuy
nhiên đến nay loại tội phạm này không những không bị đẩy lùi, mà có lúc, có
nơi còn phát triển nghiêm trọng hơn.
Đại hội IX của Đảng tiếp tục xác định tham nhũng là một trong các
nguy cơ lớn , đó là: Tình trạng tham nhũng, suy thoái về tư tưởng chính trị,
đạo đức, lối sống ở một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên là rất nghiêm
trọng. Nạn tham nhũng kéo dài trong bộ máy của hệ thống chính trị và trong
nhiều tổ chức kinh tế là một nguy cơ đe dọa sự sống còn của chế độ.

8


Đấu tranh chống tội phạm tham nhũng nói chung đã và đang là một
yêu cầu cấp bách nhằm làm trong sạch bộ máy của Đảng, Nhà nước, nâng cao
vai trò lãnh đạo của Đảng và hiệu lực quản lý của Nhà nước, tăng cường nền
dân chủ xã hội chủ nghĩa (XHCN), củng cố mối quan hệ giữa Đảng, Nhà
nước với nhân dân, tăng cường kỷ cương phép nước.
Trong nhóm tội phạm tham nhũng có thể thấy tội lợi dụng chức vụ,
quyền hạn trong khi thi hành công ụv là loại tội trong những n ăm gần đây
đang có chiều hướng tăng lên cả về quy mô và tính chất, nổi lên nhiều trong
các lĩnh vực về quản lý đất đai thậm chí cả lĩnh vực y tế, giáo dục.
Thực tiễn những năm gần đây cho thấy do đặc điểm của nền kinh tế
thị trường, sự quản lý của Nhà nước và tác động nhiều mặt của tình hình kinh

phạm tham nhũng còn diễn biến phức tạp, trên một số lĩnh vực còn
có xu hướng tăng, nghiêm trọng hơn cả về quy mô, tính chất. Công
tác phát hiện, xử lý vi phạm pháp luật và tội phạm tham nhũng hiệu
quả chưa cao, hiệu lực răn đe, phòng ngừa thấp... [37, Điều 1].
Năng lực và trách nhiệm của một bộ phận cán bộ tư pháp còn y ếu,
nhiều trường hợp tiêu cực, sa sút phẩm chất đạo đức...
Bộ luật hình sự năm 1999 quy định nhóm tội về tham nhũng trong
chương các tội về chức vụ. Trong đó tội "Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong
khi thi hành công ụv " quy định tại Điều 281 là một trong những loại tội
thường gặp khó khăn, vướng mắc trong quá trình giải quyết. Vì vậy việc
nghiên cứu về tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ
theo Luật hình sự Việt Nam là một yêu cầu khách quan, cấp thiết.
Ngoài ra, trong bối cảnh Việt Nam đang thực hiện công cuộc cải cách
tư pháp theo tinh thần Nghị quyết số 08 ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về
"Một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới"; Nghị quyết
số 48-NQ/TW ngày 25/4/2005 của Bộ Chính trị về "Chiến lược xây dựng và
hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm
2020"; và Nghị quyết số 49 -NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị về
"Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020" với nội dung "sớm hoàn thiện hệ

10


thống pháp luật liên quan đến lĩnh vực tư pháp phù hợp mục tiêu của chiến
lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật..." [12]. Do đó, việc nghiên
cứu đề tài này càng làm sáng tỏ về mặt khoa học, góp phần giải quyết một số
vướng mắc, khó khăn khi áp dụng loại tội này trong thực tế.
Đó là lý do để tôi lựa chọn đề tài "tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn
trong khi thi hành công vụ theo Luật hình sự Việt Nam (trên c ơ sở nghiên
cứu thực tiễn địa bàn thành phố Hà Nội)" làm luận văn thạc sĩ Luật học.

áp dụng thống nhất pháp luật. Chính vì vậy trong thực tiễn áp dụng pháp luật
còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc vì vậy việc nghiên cứu đề tài "Tội lợi
dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ the o Luật hình sự
Việt Nam (trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn địa bàn thành phố Hà Nội)" là
đòi hỏi khách quan, cấp thiết, vừa có tính lý luận, vừa có tính thực tiễn.
3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận văn là nghiên cứu các quy định của pháp luật về tội
lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ theo Luật hình sự
Việt Nam, nêu ra một số lý luận và thực tiễn xét xử, từ đó luận văn đưa ra
những giải pháp nhằm hoàn thiện những vướng mắc khi áp dụng loại tội này
trong thực tế nhằm nâng cao chất lượng xét xử loại tội này, góp phần đấu
tranh có hiệu quả hơn trong việc phòng ngừa và chống tội phạm về tham
nhũng trong tình hình hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Từ mục đích nghiên cứu nêu trên, luận văn có những nhiệm vụ làm rõ
một số vấn đề về lý luận và thực tiễn xét xử của tội lợi dụng chức vụ, quyền
hạn trong khi thi hành công vụ; qua đó đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện,
khắc phục những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn xét xử loại tội này.
3.3. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu một số vấn đề lý luận và thực tiễn xét xử của tội
lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ dựa trên số liệu những
vụ án được đưa ra xét xử trên địa bàn thành phố Hà Nội. Từ đó đề xuất những

12


giải pháp, hướng hoàn thiện cụ thể, có tính khả thi nhằm đảm bảo việc xét xử
đối với loại tội này ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Luận văn có tham khảo những công trình nghiên cứu của các giáo sư,

sự tại các cơ sở đào tạo luật. Kết quả nghiên cứu của luận văn còn phục vụ
cho việc trang bị những kiến thức chuyên sâu cho các cán bộ đang công tác
tại các Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án trong quá trình giải quyết vụ
án được khách quan, có căn cứ và đúng pháp luật.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của việc quy định tội lợi dụng chức vụ,
quyền hạn trong khi thi hành công vụ trong Bộ luật hình sự.
Chương 2: Thực tiễn áp dụng quy định của Bộ luật hình sự về tội lợi
dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ trên địa bàn thành phố
Hà Nội.
Chương 3: Hoàn thiện các quy định pháp luật hình sự về tội lợi dụng
chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ từ thực tiễn thành phố Hà Nội.

14


Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC QUY ĐỊNH TỘI LỢI DỤNG CHỨC VỤ,
QUYỀN HẠN TRONG KHI THI HÀNH CÔNG VỤ
TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ
1.1. QUY ĐỊNH VỀ TỘI LỢI DỤNG CHỨC VỤ, QUYỀN HẠN TRONG
KHI THI HÀNH CÔNG VỤ TỪ N ĂM 1945 ĐẾN TRƯỚC KHI CÓ BỘ LUẬT
HÌNH SỰ NĂM 1985

Trước khi BLHS đầu tiên của Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam
được ban hành thì tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ
chưa được quy định trong một văn bản quy phạm pháp luật nào mà chỉ được
quy định rải rác trong một số văn bản quy phạm pháp luật khác nhau. Cũng

quy định:
Tội đưa hối lộ cho công chức, tội công chức nhận hối lộ,
hoặc phù lạm hoặc biển thủ công quỹ đều bị phạt khổ sai từ 05 năm
đến 20 năm và phạt bạc gấp đôi tang vật hối lộ, phù lạm hay biển
thủ. Tang vật hối lộ bị tịch thu sung công. Người phạm tội còn có
thể bị xử tịch thu nhiều nhất là đến ba phần tư gia sản… [7].
Trong sắc lệnh này cũng đã đưa ra khái niệm về người có chức vụ.
Điều 3 của sắc lệnh quy định: "Công chức gồm nhân viên trong Chính phủ,
trong các Ủy ban hành chính các cấp, các cơ quan do nhân dân bầu lên, trong
bộ đội và tất cả các người phụ trách một công vụ" [7, Điều 3]. Ngày 23 tháng 5
năm 1981, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh trừng trị tội hối
lộ gồm 13 điều luật, trong đó quy định tương đối cụ thể về dấu hiệu đặc trưng
của các tội nhận hối lộ, đưa hối lộ, môi giới hối lộ và lợi dụng ảnh hưởng đối
với người có chức vụ, quyền hạn để trục lợi, quy định về các trường hợp tăng
nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt, quy định về hình phạt, về
việc xử lý của hối lộ, xử lý hành vi trả thù người tố giác… Pháp lệnh trừng trị
tội hối lộ là công cụ pháp lý quan trọng góp phần đấu tranh có hiệu quả với
tội hối lộ trong thời gian đó.
Ngoài ra trong th ời gian này còn có Sắc lệnh số 200/SL ngày 08 tháng 7
năm 1948 của Chủ tịch nước coi công chức trong thời kỳ kháng chiến như bị
trưng tập (liên quan đến tội đào nhiệm); Sắc lệnh số 154-SL ngày 17 tháng 11
năm 1950 của Chủ tịch nước ấn định những hình phạt trừng trị việc để tiết lộ

16


bí mật (liên quan đến tội cố ý làm lộ bí mật công tác và tội vô ý làm lộ bí mật
công tác); Sắc lệnh số 267/SL ngày 15 tháng 6 năm 1956 của C hủ tịch nước
quy định trừng trị những âm mưu và hành động phá hoại tài sản của Nhà nước
và của nhân dân, cản trở việc thực hiện chính sách, kế hoạch của Nhà nước

về chức vụ nói chung nếu có được quy định thì cũng nằm trong nhiều văn bản
pháp luật đơn hành khác nhau, các dấu hiệu pháp lí, các tình tiết tăng nặng
giảm nhẹ chưa được quy định cụ thể, chưa quy định về khái niệm "tội phạm
chức vụ", còn khái niệm người có chức vụ mặc dù đã được quy định cho một
số tội phạm cụ thể như nhận hối lộ, biển thủ công quỹ… nhưng nhìn chung
chưa cụ thể.
1.2. QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 1985 VỀ TỘI LỢI DỤNG
CHỨC VỤ, QUYỀN HẠN TRONG KHI THI HÀNH CÔNG VỤ

Ngày 27 tháng 6 năm 1985, BLHS đầu tiên của Nhà nước Cộng hòa
XHCN Việt Nam được Quốc hội thông qua, đánh dấu một bước ngoặt quan
trọng về sự phát triển của pháp luật hình sự nước nhà và là cơ sở pháp lý để
thực hiện việc đấu tranh phòng, chống tội phạm có hiệu quả. BLHS năm 1985
ra đời trên cơ sở tổng kết, kế thừa kinh nghiệm lập pháp hình sự và kinh
nghiệm đấu tranh phòng, chống tội phạm trong những năm trước đây và dự
kiến tình hình diễn biến của tội phạm trong thời gian tới. Đây là văn bản quy
phạm pháp luật đầu tiên mà trong đó các tội phạm về chức vụ được phân loại
thành một nhóm tội phạm và được quy định thành một chương riêng Chương IX và khái niệm "tội phạm chức vụ" cũng đã được chính thức ghi
nhận, đồng thời đây cũng là lần đầu tiên tội lợi dụng chức vụ quyền hạn được
quy định là một tội danh, tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho công cuộc đấu
tranh chống loại tội phạm này.
Theo quy định của Điều 219 của BLHS 1985 thì "các tội phạm về
chức vụ là những hành vi xâm phạm hoạt động đúng đắn của cơ quan nhà
nước hoặc tổ chức xã hội do người có chức vụ thực hiện trong khi thi hành
nhiệm vụ" [29], đồng thời luật cũng xác định "người có chức vụ là người do
bổ nhiệm, do dân cử, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác, có hưởng

18



20


hành công vụ chung trong một điều luật và chỉ quy định một khung hình phạt,
không quy định các tình tiết là yếu tố định khung hình phạt. Nhưng sau ba lần
BLHS được sửa đổi, bổ sung thì hành vi lạm quyền trong khi thi hành công vụ
đã được tách ra thành điều luật riêng, Điều 221 quy định về tội lợi dụng chức vụ,
quyền hạn cũng được chia thành nhiều khoản khác nhau, mức hình phạt cũng
nghiêm kh ắc hơn so với Điều 221 chưa sửa đổi bổ sung: mức chênh lệch lên tới
20 năm tù. Điều này phần nào thể hiện chính sách hình sự nghiêm khắc, không
khoan nhượng của Đảng và Nhà nước ta trước việc đấu tranh phòng và chống
tội phạm lợi dụng chức vụ quyền hạn, đồng thời củng cố lòng tin của nhân dân
đối với chế độ ta và từng bước làm trong sạch bộ máy của Đảng và Nhà nước.
1.3. TỘI LỢI DỤNG CHỨC VỤ, QUYỀN HẠN TRONG KHI THI HÀNH
CÔNG VỤ TRO NG BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 1999 VÀ LU
ẬT SỬA

ĐỔI, BỔ

SUNG BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 2009

Kế thừa kinh nghiệm lập pháp, đấu tranh phòng, chống tội phạm kể từ
khi có BLHS năm 1985 và trư
ớc đó, cũng như dự kiến tình hình tội phạm
trong thời gian tiếp theo, ngày 21 tháng 12 năm 1999, Quốc hội nước ta đã
thông qua BLHS mới, trong đó tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi
hành công vụ được quy định tại Điều 281 thuộc mục A - các tội phạm về
tham nhũng, thuộc chương XXI - các tội phạm về chức vụ.
Cũng như BLHS năm 1985, BLHS năm 1999 và Luật sửa đổi bổ sung
một số điều của BLHS năm 2009 đều xếp tội lợi dụng chức vụ quyền hạn

ngày 23/11/2012. Tại Điều 3 của Luật này đã liệt kê 12 nhóm hành vi tham
nhũng, gồm:
- Tham ô tài sản;
- Nhận hối lộ;
- Lạm dụng chức vụ, quyền hạn để chiếm đoạt tài sản;
- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ
vì vụ lợi;
- Lạm quyền trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi;
- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng với người khác để trục lợi;

22


- Giả mạo trong công tác vì vụ lợi;
- Đưa hối lộ, môi giới hối lộ được thực hiện bởi người có chức vụ,
quyền hạn để giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc địa
phương vì vụ lợi;
- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn sử dụng trái phép tài sản của Nhà nước
vì vụ lợi;
- Nhũng nhiễu vì vụ lợi;
- Không thực hiện nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi;
- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để bao che cho người có hành vi vi
phạm pháp luật vì vụ lợi; cản trở, can thiệp trái pháp luật vào việc kiểm tra,
thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án vì vụ lợi [32].
Trải qua 20 năm kể từ khi BLHS năm 1985 - BLHS đầu tiên của Nhà
nước Cộng hòa XHCN Việt Nam ra đời, qua bốn lần sửa đổi bổ sung BLHS
năm 1985 tới khi có BLHS năm 1999 rồi khi có Luật sửa đổi, bổ sung một số
điều của BLHS năm 2009, hay trong pháp lệnh chống tham nhũng ngày
26/2/1998, Pháp lệnh sửa đổi bổ sung một số điều của pháp lệnh chống tham
nhũng ngày 28/4/2000, trong Luật phòng, chống tham nhũng ngày 29 tháng

3. Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt
nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ mười năm đến mười lăm năm.
4. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định
từ một năm đến năm năm, có thể bị phạt tiền từ ba triệu đồng đến
ba mươi triệu đồng [31, Điều 281].
Tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ có ba dấu
hiệu đặc trưng bắt buộc: 1. Lợi dụng chức vụ quyền hạn làm trái với công vụ;
2. Gây thiệt hại cho lợi ích của các cơ quan nhà nước , các tổ chức xã hội,
quyền và lợi ích hợp pháp của công dân; 3. Mối quan hệ nhân quả giữa việc
lợi dụng chức vụ, quyền hạn và thiệt hại do hành vi đó gây ra..
Theo đó lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ là
trường hợp người có chức vụ, quyền hạn trong khi thực thi quyền hạn của
mình đã lợi dụng quyền hạn để làm trái công vụ gây thiệt hại cho lợi ích của
Nhà nước, của xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân. Quyền hạn mà

24


người có chức vụ lợi dụng là những quyền năng gắn với mỗi chức danh trong
phạm vi chức danh đó. Nếu người đó lại làm một việc vượt quá thẩm quyền
của mình (tức là lạm quyền) thì phải xử lý theo Điều 282 BLHS.
Trong BLHS năm 1999 và Lu
ật sửa đổi bổ sung một số điều của
BLHS năm 2009, Tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ
là một trong số 14 tội danh được quy định trong chương XXI - các tội phạm
về chức vụ và là một trong số 07 tội danh được quy định tại mục A - các tội
phạm về tham nhũng. Ngoài các đặc điểm chung của nhóm các tội phạm về
chức vụ, nhóm các tội phạm về tham nhũng thì tội lợi dụng chức vụ, quyền
hạn trong khi thi hành công vụ còn có những đặc điểm riêng mà qua việc hiểu
đúng khái niệm của tội này chúng ta có thể phần nào phân biệt tội này với các


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status