VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ BÍCH VÂN
ĐÁNH GIÁ CHÍNH SÁCH
XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TẠI
HUYỆN HÒA VANG, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI, năm 2018
1
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ BÍCH VÂN
ĐÁNH GIÁ CHÍNH SÁCH
XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TẠI
HUYỆN HÒA VANG, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Chuyên ngành: Chính sách công
Mã số: 60.34.04.02
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
Trên địa bàn thành phố Đà Nẵng thì chỉ có Hòa Vang là huyện nông
thôn. Khi triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng NTM giai
3
đoạn 2010-2020 thì chỉ có huyện Hòa Vang tham gia vào xây dựng NTM.
Huyện Hòa Vang gồm có 11 xã, trong đó có 04 xã miền núi. Đến nay chính
sách xây dựng NTM đã đi được hơn nữa chặn đường của giai đoạn 20102020, huyện Hòa Vang đã hoàn thành về đích về xây dựng NTM vào năm
2016. Vì vậy, đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được
nâng cao, cơ sở hạ tầng được đảm bảo, truyền thống văn hóa dân tộc được
bảo tồn và phát triển, tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được
đảm bảo...Tuy nhiên, việc tổ chức xem xét, đánh giá chính sách xây dựng
NTM tại huyện Hòa Vang là cần thiết và phù hợp vào thời điểm hiện nay,
nhằm chỉ ra những kết quả đạt được để tiếp tục duy trì và phát triển. Đồng
thời, cũng phát hiện những bất cập, hạn chế và đưa ra các kiến nghị, đề xuất
để sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện chính sách.
Vì lý do đó học viên lựa chọn đề tài “Đánh giá chính sách xây dựng
Nông thôn mới tại huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng” làm luận văn cao
học, chuyên ngành Chính sách công.
Xuất phát từ thực tiễn và tính nhân văn của một chính sách lớn, khi thực
hiện đề tài này góp phần không nhỏ cho việc tiếp tục triển khai thực hiện xây
dựng Nông thôn mới trên địa bàn huyện Hòa Vang, thành phố Đà nẵng giai
đoạn 2016-2020 và những giai đoạn tiếp theo.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Có nhiều công trình nghiên cứu tiêu biểu điển hình là:
- Công trình “Một số vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn ở các
nước và Việt Nam” của Benedict J.tria Kerrkvliet, Jamesscott do Nguyễn
Ngọc và Đỗ Đức Định [6] sưu tầm và giới thiệu. Công trình đã nghiên cứu
thể trong quá trình xây dựng nông thôn mới về tính hiệu quả đạt được, huy
động nguồn lực, vốn, có giám sát cộng đồng, đảm bảo tính công bằng trong
quá trình triển khai xây dựng nông thôn mới.
5
Nhìn chung, những công trình trên có giá trị tham khảo hữu ích rất lớn
khi tiếp cận đến kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới trong quá trình
xây dựng Nông thôn mới ở nước ta.
Tình hình nghiên cứu trong nước
Vấn đề xây dựng Nông thôn mới là một chính sách lớn của Đảng và Nhà
nước ta, phát huy nét truyền thống, bản sắc văn hóa của nông thôn Việt Nam.
Vì vậy đã có nhiều công trình nghiên cứu, bài viết về vấn đề xây dựng nông
thôn mới. Một số công trình nghiên cứu tiêu biểu được biết đến như:
Cuốn sách “Xây dựng nông thôn mới, những vấn đề lý luận và thực tiễn”
của tác giả Vũ Văn Phúc [24] là sự kết hợp của nhiều tác giả nghiên cứu về vấn
đề xây dựng nông thôn mới để tạo nên công trình. Nội dung cuốn sách nghiên
cứu về lý luận chung, kinh nghiệm của các nước trên thế giới về xây dựng
Nông thôn mới, nghiên cứu thực tiễn xây dựng Nông thôn mới ở nước ta về
công tác triển khai xây dựng NTM ở một số tỉnh tiêu biểu như: Phú Thọ, Ninh
Bình, Lào Cai, Nghệ An, Lai Châu, Thái Nguyên...
Cuốn sách “Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam sau 20 năm đổi mới- Quá
khứ và hiện tại” của tác giả Nguyễn Văn Bích [5]. Nội dung cuốn sách nghiên
cứu về quá trình phát triển nông nghiệp, nông thôn, nông dân Việt Nam từ đầu
thế kỷ XX đến nay, đặc biệt là sau 20 năm. Đồng thời cuốn sách cũng đã
nghiên cứu vấn đề về các mối quan hệ trong sản xuất, vấn đề điều hành quản
lý; từ lý luận đến thực tiễn trong nông nghiệp, nông thôn. Nêu được bối cảnh
về nền nông nghiệp, nông thôn nói riêng và sự phát triển của nền kinh tế Việt
Nam nói chung.
đề đặt ra và kiến nghị” của GS.TS Đỗ Kim Dung và PGS. TS Kim Thị Dung
[10], bài viết đã đánh giá kết quả thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về
xây dựng nông thôn mới và chỉ ra một số bất cập nổi lên đã làm giảm hiệu
lực, hiệu quả của các nổ lực đầu tư của nhà nước, của xã hội vào phát triển
nông thôn. Đồng thời, bài viết cũng đề xuất kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn
7
thiện chính sách xây dựng nông thôn mới ở nước ta.
Những vấn đề đã được đề cập, nhắc đến trong các công trình nghiên cứu
đã công bố cụ thể như sau:
Các công trình nghiên cứu thế giới đã đưa ra những khía cạnh khác nhau
về phát triển nền nông nghiệp, vai trò, đặc điểm của nông dân, thiết chế nông
thôn ở một số nước trên thế giới và Việt Nam.
Những công trình nghiên cứu thế giới có giá trị tham khảo trong quá
trình thực hiện chính sách xây dựng mô hình phát triển nông thôn Việt Nam
theo hướng hiện đại, văn minh cụ thể như áp dụng khoa học vào trồng trọt,
chăn nuôi, xây dựng mô hình trang trại theo chuổi cung ứng, phát triển sản
xuất mang tính hàng hóa, có nét đặc trưng riêng của vùng, phù hợp với địa
phương. Để đạt được những mục tiêu, vấn đề đặt ra cần có những giải pháp cụ
thể như xây dựng chương trình kế hoạch để thực hiện một cách đồng bộ, đổi
mới cơ chế sản xuất trong nông nghiệp, có cơ chế chính sách hỗ trợ, đẩy
mạnh thu hút đầu tư trong lĩnh này, thực hiện tốt công tác tuyền truyền, vận
động đối với người dân trong quá trình thực hiện.
Các công trình nghiên cứu trong nước đã thể hiện rõ chủ trương của
Đảng và nhà nước ta trong quá trình phát triển khu vực nông thôn, đã khái
quát môt cách rõ nét về đặc điểm, tình hình khu vực nông thôn.
Những công trình nghiên cứu trong nước phản ánh toàn diện lịch sử xây
dựng, phát triển kinh tế nền nông nghiệp nước ta, làm sáng tỏ nhiều vấn đề lý
giá chính sách xây dựng nông thôn mới ở nước ta hiện nay.
Từ những phân tích trên cho ta thấy được đề tài luận văn này là một trong
những đề tài nghiên cứu mang tính bức thiết và phù hợp với nhu cầu hiện nay,
nhằm góp phần nhỏ trong quá trình nghiên cứu, phân tích, hoàn thiện công tác
đánh giá chính sách xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Hòa Vang,
thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2016-2020 và những năm tiệp theo.
9
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Từ thực tiễn chính sách xây dựng NTM trên địa bàn huyện Hòa Vang,
thành phố Đà Nẵng để đánh giá và đề xuất một số phương hướng, giải pháp,
kiến nghị góp phần hoàn thiện chính sách.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nhằm đạt mục đích nghiên cứu trên, luận văn đã xác định rõ những nhiệm
vụ cụ thể cần phải thực hiện như sau:
- Hệ thống hoá một số cơ sở lý luận về chính sách xây dựng NTM.
- Phân tích, đánh giá thực tiễn thực hiện chính sách xây dựng NTM trên
địa bàn huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng. Qua đó, rút ra những kết quả đạt
được, những hạn chế và nguyên nhân.
- Đề xuất phương hướng và hệ thống giải pháp phù hợp cho việc thực hiện
tốt hơn công tác xây dựng NTM trên địa bàn huyện Hòa Vang, thành phố Đà
Nẵng cũng như của cả nước.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là chính sách xây dựng NTM ở huyện
Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
tại huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng.
Sau khi đề tài đã được nghiên cứu thì kết quả nghiên cứu của đề tài cho
thấy rõ vấn đề thực hiện chính sách công hay phân tích, đánh giá chính sách
công là một khâu rất quan trọng trong quá trình thực hiện chính sách. Nhằm
góp phần không nhỏ trong khâu hoàn chỉnh chính sách, để đưa chính sách xây
dựng nông thôn mới đến gần với đối tượng thụ hưởng là người nông dân,
chính sách triển khai được nhân dân đồng tình ủng hộ, tạo sự chuyển biến
mạnh mẽ trong nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân. Nâng cao hiệu
11
quả trong việc thực thi chính sách tại địa phương.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Từ những lý luận trên, luận văn có ý nghĩ thực tiễn to lớn đó là từ những
phân tích, đánh giá chính sách xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Hòa
Vang, thành phố Đà Nẵng, luận văn sẽ phát hiện những bất cập, tồn tại, hạn chế
để đề xuất nhằm hoàn thiện chính sách trong thời gian đến.
Từ những kết quả nghiên cứu đạt được của luận văn thì luận văn sẽ là
tài liệu tham khảo trong các công trình nghiên cứu về đánh giá chính sách
công, đặt biệt là chính sách xây dựng NTM.
Đồng thời, luận văn cũng góp phần không nhỏ trong công tác vận động
, tuyên truyền trong quá trình xây dựng nông thôn mới đến toàn thể cán bộ ,
đảng viên và nhân dân.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn được kết cấu thành 3 chương.
Chương 1: Cơ sở lý luận về đánh giá chính sách xây dựng nông thôn mới
của Việt Nam
Chương 2: Thực trạng chính sách xây dựng NTM trên địa bàn huyện Hòa
Vang, thành phố Đà Nẵng
chặt chẽ. Ngoài ra, nông thôn còn lưu giữ những nét truyền thống, phong tục
tộc quán, các di tích lịch sử …của làng quê Việt Nam.
13
1.1.2. Quan điển về nông thôn mới
Cuốn sách "Phát triển nông thôn Việt Nam: Từ làng xã truyền thống đến
văn minh thời đại" của tác giả Vũ Trọng Khải cho rằng, NTM là nông thôn
văn minh hiện đại nhưng vẫn giữ được nét đẹp của truyền thống Việt Nam.
Theo nghiên cứu của tác giả Tô Văn Trường cho rằng: Nông thôn mới
phải giữ được truyền thống, văn hóa từng dân tộc và nâng cao giá trị đoàn kết
của cộng đồng, mức sống của người dân. Mô hình nông thôn mới là mô hình
dựa trên nền tảng là người nông dân. Người nông dân có trình độ khoa học,
công nghệ áp dụng vào sản xuất, chăn nuôi...đem lại sản phẩm mang tính chất
hàng hóa.
Một số quan niệm khác cho rằng, nông thôn mới là nông thôn có kinh tế
phát triển, đời sống vật chất lẫn tinh thần của người dân được nâng cao, kết
cấu hạ tầng hiện đại, dân trí cao, giữ gìn được bản sắc văn hóa dân tộc, an
ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững.
Từ những nghiên cứu trên, cho ta thấy được các tác giả có chung quan
điểm về Nông thôn mới đó là nông thôn có kinh tế phát triển theo hướng bền
vững, đời sống vật chất và tinh thần của người dân được nâng cao, giữ gìn
được nét văn hóa truyền thống của dân. Tạo nên sự mạnh mẽ của hệ thống
chính trị góp phần giữ vững an ninh chính trị và trật tự xã hội.
Ngày 16 tháng 4 năm 2009, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số
491/QĐ-TTg ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng Nông thôn mới bao
gồm 19 tiêu chí và Quyết định số 1980/QĐ-TTg ngày 17 tháng 10 năm 2016
của Thủ tướng chính phủ về việc ban hành bộ tiêu chí quốc gia về xã giai
đoạn 2016-2020. Tất cả các xã đạt 100% các tiêu chí đặt ra (19/19 tiêu chí) thì
tế- xã hội tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong quá trình xây dựng nông thôn
mới được người dân đồng tình ủng hộ, góp phần thành công của chính sách.
1.1.3. Quan điểm về xây dựng Nông thôn mới
Theo Nghị quyết số 26-NQ/TW xác định:
15
- Nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp
công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là cơ sở và lực
lượng quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội bền vững, giữ vững ổn định
chính trị, đảm bảo an ninh, quốc phòng; giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân
tộc và bảo vệ môi trường sinh thái của đất nước.
- Các vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn phải được giải quyết
đồng bộ, gắn với quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn là một nhiệm vụ quan
trọng hàng đầu của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Trong
mối quan hệ mật thiết giữa nông nghiệp, nông dân và nông thôn, nông dân là
chủ thể của quá trình phát triển, xây dựng nông thôn mới gắn với xây dựng
các cơ sở công nghiệp, dịch vụ và phát triển đô thị theo quy hoạch là căn bản;
phát triển toàn diện, hiện đại hóa nông nghiệp là then chốt.
- Phát triển nông nghiệp, nông thôn và nâng cao đời sống vật chất, tinh
thần của nông dân phải dựa trên cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa, phù hợp với điều kiện của từng vùng, từng lĩnh vực, để giải phóng
và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực xã hội, trước hết là lao động, đất đai,
rừng và biển; khai thác tốt các điều kiện thuận lợi trong hội nhập kinh tế quốc
tế cho phát triển lực lượng sản xuất trong nông nghiệp, nông thôn; phát huy
cao nội lực; đồng thời tăng mạnh đầu tư của Nhà nước và xã hội, ứng dụng
nhanh các thành tựu khoa học, công nghệ tiên tiến cho nông nghiệp, nông
thôn, phát triển nguồn nhân lực, nâng cao dân trí nông dân.
vụ chính trị của các cấp các ngành, các tổ chức chính trị xã hội, các đoàn thể
… nên phải huy động toàn bộ hệ thống chính trị vào cuộc → nhiệm vụ của cả
hệ thống chính trị xã hội (phát huy nội lực là chính có sự hỗ trợ của nhà nước)
(nội lực: trong khi người dân đang khó khăn → đóng góp 1 phần ≈10% bằng
17
tiền, hiện vật và công sức cần xin cơ chế chính sách để phát huy nội lực của
địa phương → tuỳ từng địa phương → do cán bộ và nhân dân đề xuất.
Như vậy, xây dựng nông thôn bao mới bao gồm tất cả các vấn đề gắn với
đời sống của người dân, môi trường và không gian sống ở khu vực nông thôn
như: cơ sở vật chất, quy hoạch, y tế, giáo dục, nhà cửa, dịch vụ công cộng,
năng lực chỉ đạo, lãnh đạo, quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị các truyền
thống văn hóa cũng như các vấn đề phát triển kinh tế của địa phương nói
chung, kinh tế ngành nói riêng… Nhằm nâng cao được đời sống vật chất lẫn
tinh thần của người dân và được sống trong một xã hội nông thôn năng động,
văn hoá hiện đại nhưng vẫn giữ được bản sắc văn hoá truyền thống của địa
phương.
Xác định chính sách xây dựng nông thôn mới là mục tiêu hàng đầu được
Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm, là nhiệm vụ chung của cả hệ thống
chính trị từ Trung ương đến địa phương. Cấp ủy Đảng, chính quyền đóng vai
trò chỉ đạo, điều hành quá trình xây dựng quy hoạch, kế hoạch, tổ chức thực
hiện và các tổ chức khác trong hệ thống chính trị phối hợp và vận động nhân
dân thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng NTM.
1.2. Những vấn đề lý luận về chính sách và đánh giá chính sách
1.2.1. Các khái niệm về chính sách
Theo Từ điển tiếng Việt thì “chính sách” là “sách lược và kế hoạch cụ
thể nhằm đạt một mục đích nhất định, dựa vào đường lối chính trị chung và
tình hình thực tế mà đề ra”.
- Là một phương pháp, biện pháp can thiệp;
- Chủ thể ban hành là Nhà nước;
- Tác động đến các đối tượng cụ thể dựa trên các cơ chế thực thi nhằm
đạt được mục tiêu đề ra.
19
Chính sách công cần được nhìn nhận như một quá trình từ hoạch định
đến thực hiện cho ra kết quả. Một chính sách hoàn chỉnh cần phải dựa trên
chu trình chính sách.
Khoa học chính sách hiện tại cũng chưa có được một quy trình hoạch
định chính sách thống nhất, chuẩn mực. Điều này có thể lý giải bởi sự khác
biệt thể chế chính trị và cách thức tổ chức quyền lực nhà nước giữa các quốc
gia, dẫn tới sự khác nhau trong quy trình chính sách. Bên cạnh đó, vẫn còn
những hoài nghi trong nghiên cứu lý luận về quy trình chính sách, ví dụ như
quy trình chính sách là một lý thuyết khoa học được kiểm định, hay chỉ mang
tính kinh nghiệm, mô tả quá trình. Mặc dù vậy, việc nhận thức khái quát về
một quy trình logic với các giai đoạn của nó vẫn đóng vai trò quan trọng, làm
cơ sở cho việc tiếp cận nghiên cứu và thực hành chính sách.
Quá trình chính sách thường bao gồm các giai đoạn chính, theo trình tự
thời gian theo sơ đồ sau:
Hình 1.1. Chu trình chính sách [19]
Có nhiều yếu tố dùng để đánh giá các kết quả chính sách (policy
outcomes), và chất lượng của quy trình hoạch định chính sách. Trong đó,
20
Tuy nhiên, chính sách công không chỉ thể hiện trong các quy định pháp
luật, chúng còn nằm trong các chương trình, kế hoạch, chủ trương hoạt động
của nhà nước.
Do đó, đánh giá chính sách công sẽ bao quát việc xem xét về tổng thể
các quyết định của nhà nước (chính phủ trung ương và chính quyền địa
phương) trong việc giải quyết một vấn đề cấp thiết đặt ra trong thực tiễn quản
lý nhà nước. Đánh giá chính sách cho phép xem xét, nhận định không chỉ về
nội dung chính sách, mà còn về quá trình thực thi chính sách, từ đó có biện
pháp điều chỉnh phù hợp với đòi hỏi thực tế để đạt các mục tiêu mong đợi.
Hàng loạt chính sách được ban hành, có hiệu lực thi hành, song việc
chính sách đó có hiệu lực thực tế như thế nào và đáp ứng mục tiêu đặt ra đến
đâu thì dường như không được quan tâm. Đôi khi chính sách được ban hành
chẳng những không giải quyết được vấn đề đặt ra, mà còn gây ra những hiệu
ứng phụ làm phức tạp thêm vấn đề. Hơn thế, việc hoạch định chính sách
(thông qua việc soạn thảo và ban hành hàng loạt văn bản pháp luật) và việc tổ
chức triển khai các chính sách đó trên thực tế đã tiêu tốn tiền của của nhân
dân và sức lực của không ít người, song nhiều khi các chính sách này không
đem lại lợi ích tương xứng với chi phí đã bỏ ra. Do đó, đã đến lúc cần coi
đánh giá chính sách như một khâu không thể thiếu trong quy trình chính sách.
Trong một xã hội đang phát triển theo xu hướng dân chủ hóa, việc đánh
giá các chính sách công ngày càng trở thành đòi hỏi chính đáng và cấp thiết.
Đánh giá chính sách công giúp Nhà nước xác định được các bất cập trong đời
sống kinh tế - xã hội và tìm cách khắc phục các bất cập đó. Chính sách công
phản ánh rõ nét nhất các mục tiêu của Nhà nước và các giải pháp mà Nhà
nước sử dụng để đạt tới các mục tiêu này. Đánh giá chính sách cho phép Nhà
nước nhìn nhận lại năng lực thể chế và năng lực thực thi chính sách của mình.
Trong một môi trường không ngừng biến đổi, việc đánh giá các chính sách
công sẽ tạo cơ sở vững chắc cho sự phát triển quản lý nhà nước trong giai
nhiều người thì việc đánh giá chính sách là rất cần thiết để hoàn thiện chính
sách, tránh các rủi ro hay lãng phí xảy ra, đặc biệt là tránh những phản ứng
ngược lại với mong muốn của Chính phủ. Cần có kế hoạch đánh giá chính
sách và xây dựng lịch trình đánh giá cụ thể. Trong kế hoạch đánh giá cần xác
định rõ mục tiêu, phạm vi, chủ thể tham gia, các đối tượng, nội dung, các
phương pháp và tiêu chí đánh giá. Cần tổng kết việc đánh giá, công bố công
khai kết quả đánh giá ở phạm vi cần thiết. Tổ chức rút kinh nghiệm nghiêm
túc đối với những sai sót về nội dung chính sách và những hạn chế, vướng
mắc trong thực thi chính sách.
1.2.3. Vai trò của đánh giá chính sách
Đánh giá chính sách có vai trò đặc biệt quan trọng trong thực thi chính
sách, trên cơ sở đánh giá chính sách, các nhà hoạch định chính sách rút kinh
23
nghiệm, điều hành chính sách hoàn thiện hơn.
Từ việc đánh giá chính sách, rút ra bài học kinh nghiệm, giúp các nhà
hoạch định chính sách có cái nhìn tổng quan, chi tiết trong quá trình thực hiện
chính sách.
Đánh giá chính sách để so sánh chi phí đầu vào và kết quả thu được từ
đầu tư vào chính sách.
Từ việc đánh giá chính sách, các nhà hoạch định chính sách rút ra nhiều
bài học kinh nghiệm trong giải quyết vấn đề
Nhận thức này không chỉ tạo dựng ý nghĩa của đánh giá chính sách
công và đưa nó ra khỏi tính kỹ trị hạn hẹp liên quan đến đặc trưng của đánh
giá hành chính, mà còn giúp làm sáng tỏ vai trò quan trọng được thực hiện
bởi tất cả các hình thức đánh giá khác nhau trong quá trình chính sách [20].
1.3. Chính sách xây dựng Nông thôn mới ở Việt Nam
1.3.1. Mục tiêu
- Mục tiêu tổng quát:
- Nhóm 5: Hệ thống chính trị: 02 tiêu chí
* Đối với huyện NTM: có 75% số xã trong huyện đạt NTM
Tuy nhiên, Căn cứ Quyết định số 558/QĐ-TTg ngày 05/4/2016 của Thủ
tướng chính phủ về việc ban hành tiêu chí huyện NTM và Quy định thị xã,
thành phố trực thuộc cấp tỉnh hoàn thành nhiệm vụ xây dựng NTM, cụ thể:
- Đối với huyện NTM: Có 100% số xã trong huyện đạt chuẩn nông thôn
mới và đạt các tiêu chí sau:
Bảng 1.1. Các tiêu chí xây dựng nông thôn mới đối với Huyện nông thôn mới
TT
Tên tiêu chí
1
Quy hoạch
2
Giao thông
Nội dung tiêu chí
Có quy hoạch xây dựng trên địa bàn huyện
được phê duyệt
2.1. Hệ thống giao thông trên địa bàn huyện
đảm bảo kết nối tới các xã
25
Chỉ tiêu
Đạt