VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ THỊ MINH TÂM
ĐÁNH GIÁ CHÍNH SÁCH XÂY DỰNG
NÔNG THÔN MỚI TỪ THỰC TIỄN
THỊ XÃ ĐIỆN BÀN, TỈNH QUẢNG NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI - năm 2018
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ THỊ MINH TÂM
ĐÁNH GIÁ CHÍNH SÁCH XÂY DỰNG
NÔNG THÔN MỚI TỪ THỰC TIỄN
THỊ XÃ ĐIỆN BÀN, TỈNH QUẢNG NAM
Chuyên ngành: Chính sách công
Mã số: 834.04.02
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
2.1. Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của Thị xã Điện Bàn,
tỉnh Quảng Nam có liên quan đến đánh giá chính sách xây dựng Nông thôn
mới. .................................................................................................................. 29
2.2. Tình hình thực thi chính sách xây dựng Nông thôn mới tại thị xã Điện
Bàn, tỉnh Quảng Nam ...................................................................................... 30
2.3. Kết quả thực hiện các tiêu chí Nông thôn mới trên địa bàn Thị xã ......... 33
2.4. Đánh giá chính sách xây dựng Nông thôn mới tại thị xã Điện Bàn, tỉnh
Quảng Nam (giai đoạn 2011 – 2017) .............................................................. 51
CHƢƠNG 3. PHƢƠNG HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU
QUẢ CHÍNH SÁCH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TỪ THỰC
TIỄN THỊ XÃ ĐIỆN BÀN TỈNH QUẢNG NAM ..................................... 60
3.1. Nhu cầu nâng cao hiệu quả chính sách xây dựng Nông thôn mới từ
thực tiễn Thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam .................................................. 60
3.2. Phương hướng nâng cao hiệu quả chính sách xây dựng Nông thôn mới
từ thực tiễn Thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam .............................................. 63
3.3. Các giải pháp nâng cao hiệu quả chính sách xây dựng Nông thôn mới
từ thực tiễn Thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam .............................................. 64
3.2. Kiến nghị .................................................................................................. 71
KẾT LUẬN .................................................................................................... 74
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
GĐVH
: Gia đình văn hóa
Trải qua các kỳ Đại hội Đảng, vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông
dân được Đảng ta ngày càng quan tâm và định hướng đúng đắn, phù hợp với
tình hình, yêu cầu trong từng giai đoạn phát triển của đất nước.
Tại Hội nghị lần thứ 7, Ban chấp hành Trung ương Đảng (Khóa X) đã
ban hành Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05/8/2008 về Nông nghiệp, nông
thôn, nông dân với mục tiêu "xây dựng NTM có kết cấu hạ tầng KT-XH hiện
đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp
với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; xã hội nông
thôn ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc, dân trí được nâng cao, môi trường
sinh thái được bảo vệ; hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của
Đảng được tăng cường" [1].
Đặc biệt, định hướng phát triển kinh tế trong Cương lĩnh xây dựng đất
nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) "phát
triển nông, lâm, ngư nghiệp ngày càng đạt trình độ công nghệ cao, chất lượng
cao gắn với công nghiệp chế biến và xây dựng NTM" [3.tr75]. Văn kiện Đại
hội Đảng toàn quốc lần thứ XII cũng đã xác định phương hướng, nhiệm vụ
phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn là xây dựng nền nông nghiệp theo
hướng sản xuất hàng hóa lớn, ứng dụng công nghệ cao, nâng cao chất lượng
2
sản phẩm, bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm; nâng cao giá trị gia tăng, đẩy
mạnh xuất khẩu.
Tại kỳ họp thứ 10 (tháng 10 - 11/2015), Quốc hội (Khóa XIII) đã quyết
định cả nước chỉ thực hiện 2 chương trình MTQG (thay vì trước đây có 16
chương trình) đó là: Xây dựng NTM và giảm nghèo bền vững. Với quyết định
này, nguồn lực đầu tư của Quốc gia không còn bị phân tán, dàn trải mà được
tập trung một cách có trọng tâm và hiệu quả vào 2 chương trình nêu trên. Theo
kế hoạch đầu tư trung hạn giai đoạn 2016-2020 đã được Quốc hội thông qua,
Chính phủ công nhận Thị xã NTM vào cuối năm 2015. Nhưng vấn đề giữ
chuẩn và nâng chuẩn chất lượng thị xã, xã NTM là vấn đề cần được thường
xuyên quan tâm và việc tổ chức xem xét, đánh giá lại chính sách xây dựng
NTM từ thực tiễn thị xã Điện Bàn là việc làm cần thiết, thường xuyên và phù
hợp nhằm chỉ ra những kết quả đạt được để tiếp tục phát huy nâng cao hơn nữa
chất lượng xây dựng NTM, đồng thời phát hiện những bất cập, hạn chế, qua đó
đưa ra các kiến nghị, đề xuất để sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện chính sách.
Đặc biệt hơn là mục tiêu của tỉnh Quảng Nam đặt ra đối với Điện Bàn trong
thời gian đến là phải xây dựng tất cả các khu dân cư trên địa bàn các xã NTM
đạt khu dân cư NTM kiểu mẫu; xã NTM kiểu mẫu và phấn đấu đến năm 2020
xây dựng 3 xã vùng Gò Nổi (Điện Quang, Điện Trung, Điện Phong) trở thành
khu vực Nông thôn mới tiêu biểu cho cả tỉnh Quảng Nam.
Đối với Điện Bàn, mặc dù chính thức trở thành Thị xã vào năm 2015,
nhưng số lượng xã nông thôn vẫn còn nhiều (13/20 xã, phường) và số phường
có tỷ lệ người dân làm nông nghiệp còn tương đối cao. Hơn nữa trong số đó, có
nhiều xã phát triển nông nghiệp là chủ yếu nên việc xây dựng các xã để trở
thành phường là khá khó khăn và phải trong thời gian dài; việc xây dựng duy
trì thành công xã NTM cũng là một bước chuẩn bị, một nền tảng rất quan trọng
để xây dựng xã lên phường. Do vậy việc xây dựng NTM ở Thị xã Điện Bàn là
một trong những nhiệm vụ chính trị thường xuyên, quan trọng của Đảng bộ,
4
chính quyền và nhân dân thị xã. Bản thân tôi chọn vấn đề "Đánh giá chính
sách xây dựng NTM từ thực tiễn Thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam" để làm đề
tài nghiên cứu luận văn Thạc sĩ Chính sách công là có tính cấp thiết.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong giai đoạn hiện nay, việc nghiên cứu về nông nghiệp, nông thôn,
nông dân và đặc biệt về NTM có thể nói là một chủ đề được nhiều tác giả,
năm 2015.
- Bài viết “Xây dựng NTM là sự nghiệp cách mạng lâu dài của Đảng và
nhân dân ta” của tác giả Hồ Xuân Hùng đã nêu rõ nội dung nông thôn và
NTM Việt Nam, nhấn mạnh một số biện pháp, điều kiện thực hiện 19 tiêu chí
Quốc gia về xây dựng NTM trong giai đoạn hiện nay.
Bài viết: “Xây dựng mô hình NTM ở nước ta hiện nay” của tác giả Phan
Xuân Sơn và Nguyễn Cảnh đã phân tích về nông thôn Việt Nam trước yêu
cầu mới; những hình dung ban đầu về các tiêu chí của mô hình NTM; những
nhân tố chính của mô hình NTM và đề xuất Nhà nước đóng vai trò chỉ đạo, tổ
chức điều hành quá trình hoạch định và thực thi chính sách, tạo hành lang
pháp lý, hỗ trợ vốn, kỹ thuật, nguồn lực, và động viên tinh thần Nhân dân tự
nguyện tham gia, chủ động trong thực thi và hoạch định chính sách.
- Bài viết "Chương trình NTM ở Việt Nam: một số vấn đề đặt ra và kiến
nghị" của GS.TS Đỗ Kim Chung và PGS.TS Kim Thị Dung. Trên cơ sở đánh
giá thực trạng triển khai chương trình NTM, bài viết này chỉ ra những bất cập
và đề xuất một số giải pháp về chính sách nhằm hoàn thiện chương trình
NTM ở nước ta.
- Bài viết “Thực tiễn hiện đại hóa nông nghiệp đặc sắc Trung Quốc và
kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam” của tác giả Lê Thế Cương đã phân tích
thực tiễn con đường hiện đại hóa nông nghiệp đặc sắc Trung Quốc và rút ra
những bài học kinh nghiệm đối với xây dựng nông thôn ở nước ta.
- Công trình “Một số vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn ở các
6
nước và Việt Nam” của Kerrkvliet, Jamesscott do Nguyễn Ngọc và Đỗ Đức
Định sưu tầm và giới thiệu về vai trò, đặc điểm của nông dân, thiết chế nông
thôn ở một số nước trên thế giới và ở Việt Nam.
- Nhiều đề tài luận án, luận văn tiến sỹ, thạc sỹ trong thời gian qua cũng
dựng NTM cũng như thực hiện chính sách xây dựng NTM chất lượng, hiệu
quả hơn trong thời gian đến.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu những vấn đề lý luận liên quan đến chính sách, đánh giá
chính sách xây dựng NTM.
Xem xét việc đánh giá thực hiện chính sách xây dựng NTM trên địa bàn
Thị xã Điện Bàn. Qua đó chỉ ra những nội dung hợp lý, những vấn đề còn bất
cập, hạn chế của chính sách xây dựng NTM trong thời gian qua.
Kiến nghị, đề xuất giải pháp góp phần hoàn thiện cũng như thực hiện
chính sách xây dựng NTM trên địa bàn thị xã Điện Bàn cũng như của tỉnh
Quảng Nam.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Chính sách xây dựng NTM của Nhà nước và kết quả triển khai thực hiện
chính sách xây dựng NTM trên địa bàn Thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: nghiên cứu, phân tích, đánh giá chính sách xây dựng
NTM.
- Về không gian: thực tiễn triển khai thực hiện chính sách xây dựng
NTM trên địa bàn Thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam và hệ thống các văn bản
quy định của Nhà nước về chính sách xây dựng NTM.
- Về thời gian: nghiên cứu chính sách và kết quả thực hiện xây dựng
8
NTM giai đoạn từ năm 2011 đến 2017.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Luận văn dựa trên quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Cung cấp cơ sở thực tiễn để đánh giá, làm rõ chính sách xây dựng NTM
của Thị xã Điện Bàn và tỉnh Quảng Nam trong thời gian qua, qua đó đề xuất
góp phần hoàn thiện chính sách xây dựng NTM.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn
được kết cấu gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về đánh giá chính sách xây dựng nông thôn
mới.
Chương 2: Thực trạng đánh giá chính sách xây dựng nông thôn mới tại
Thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.
Chương 3: Phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả chính sách
xây dựng nông thôn mới từ thực tiễn Thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.
10
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ
CHÍNH SÁCH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
1.1. Sự cần thiết của chính sách xây dựng Nông thôn mới ở Việt Nam
Việt Nam là nước nông nghiệp với gần 70% dân cư sống ở nông thôn,
phát triển nông nghiệp, nông thôn bền vững có vai trò hết sức quan trọng đối
với sự ổn định và phát triển của đất nước. Đặc biệt trong xu thế hiện nay,
không thể có một nước công nghiệp nếu nông thôn còn lạc hậu và đời sống
của người dân còn thấp.
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, năm 2015, Việt Nam có 8.971 xã
(chiếm hơn 80%) trong tổng số 11.155 đơn vị hành chính cấp xã; dân số sống
ở khu vực nông thôn chiếm khoảng 66,06% dân số của cả nước; trong khi đó,
ngành nông, lâm, ngư nghiệp chỉ chiếm 17% tổng sản phẩm trong nước. Từ
có việc làm mới tại địa phương không nhiều, lao động đã qua đào tạo còn
thấp. Đặc biệt là khu vực nông thôn tỷ lệ hộ nghèo, cận nghèo còn khá cao.
Mặc dù đời sống vật chất và tinh thần có nâng lên nhưng khoảng cách chênh
lệch giữa nông thôn và thành thị còn tương đối lớn.
Đời sống tinh thần của dân cư ở nông thôn còn hạn chế, nhiều nét văn
hóa truyền thống đang có nguy cơ mai mọt, biến dạng như: tiếng nói, trang
phục, phong tục; an ninh - chính trị, trật tự an toàn xã hội một số nơi diễn biến
phức tạp, khó lường... Từ những thực trạng trên đòi hỏi cần phải có chính
sách toàn diện để phát triển nông thôn một cách bền vững, đó chính là chương
trình MTQG xây dựng NTM. Như vậy việc xây dựng NTM cần phải thể hiện
ở các nội dung sau:
- Về định hướng phát triển: yêu cầu đầu tiên trong xây dựng NTM là
công tác quy hoạch, đây là một nhiệm vụ hàng đầu của xây dựng NTM, là
định hướng chiến lược quan trọng và lâu dài để xây dựng, phát triển nông
12
thôn một cách bài bản, chủ động. Các loại quy hoạch cần có: quy hoạch sử
dụng đất, quy hoạch phát triển hạ tầng kinh tế, xã hội, môi trường, quy hoạch
phát triển các khu dân cư.
- Về hạ tầng KT-XH: Xây dựng đường giao thông, hệ thống kênh mương
thủy lợi, hạ tầng trường lớp học, điện, chợ, cơ sở vật chất văn hóa và đặc biệt
là nhà ở dân cư, là tiền đề quan trọng để thay đổi bộ mặt nông thôn, đáp ứng
các nhu cầu phát triển KT-XH. Thực trạng chung của hạ tầng khu vực nông
thôn Việt Nam hiện nay là vừa yếu, vừa thiếu đồng bộ, trong khi đó nguồn
lực đầu tư hết sức hạn chế, khó khăn. Khi xây dựng NTM, yêu cầu các cấp
chính quyền phải huy động, lồng ghép các nguồn vốn để đầu tư phát triển kết
cấu hạ tầng đồng bộ.
- Về kinh tế: xây dựng NTM sẽ tạo điều kiện để khu vực nông thôn phát
Để làm tốt được việc xây dựng NTM hiệu quả, thành công, Nhà nước
đóng vai trò chủ đạo tổ chức điều hành quá trình hoạch định và thực thi chính
sách, xây dựng đề án, cơ chế, chính sách, tạo hành lang pháp lý, hỗ trợ vốn,
kiến thức kỹ thuật, nguồn lực, tạo điều kiện vật chất, động viên tinh thần để
người dân thực hiện. Nhân dân tự nguyện tham gia, chủ động trong thực thi
chính sách và là “chủ thể” của quá trình xây dựng NTM . Các chính sách xây
dựng NTM sẽ tạo hiệu ứng tổng thể, thúc đẩy xã hội nông thôn phát triển theo
định hướng của Đảng, Nhà nước. Khi đó, vai trò của NTM được phát huy tối
đa, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước.
1.2. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của đánh giá chính sách xây
dựng Nông thôn mới
1.2.1. Khái niệm, đặc điểm của đánh giá chính sách xây dựng Nông
thôn mới
Để đưa ra được cách hiểu về đánh giá chính sách xây dựng NTM cần
phải làm làm rõ một số thuật ngữ sau:
Nông thôn Việt Nam là danh từ để chỉ những vùng đất trên lãnh thổ Việt
14
Nam, ở đó, người dân sinh sống chủ yếu bằng nông nghiệp [33].
Trong quản lý hành chính nhà nước, theo Thông tư 54/2009/TTBNNPTNT ngày 21/8/2009 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn thì: Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các
thành phố, thị xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là UBND xã.
Như vậy, nông thôn, trước hết đó không phải là đô thị (về không gian
sống, về cấu trúc và tổ chức xã hội, về quan hệ con người và sinh kế), là môi
trường sống của người nông dân, nơi diễn ra các hoạt động kinh tế, văn hóa,
xã hội với nhiều nét đặc thù của khu vực nông thôn. Nông thôn là nơi định cư
của những người sống chủ yếu bằng nghề nông, đất đai là tư liệu sản xuất
chính; về cơ cấu kinh tế, nông nghiệp chiếm tỷ trọng chủ yếu; bên cạnh nông
- Bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn và phát huy; dân trí được nâng
lên;
- An ninh, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo;
- Hệ thống chính trị vững mạnh, dân chủ.
Xây dựng NTM của Việt Nam hiện nay là chủ trương, quyết sách lớn của
Đảng, Nhà nước ta nhằm xây dựng nông thôn phát triển bền vững, có kinh tế
phát triển, đời sống của người dân được nâng lên, an ninh - chính trị được
đảm bảo, các giá trị văn hóa dân tộc được giữ gìn và phát huy... Cụ thể là xây
dựng nông thôn đạt 19 tiêu chí trong Bộ tiêu chí Quốc gia về NTM. Hay nói
cách khác, xây dựng NTM là quá trình thực hiện chính sách NTM.
Đánh giá chính sách là xem xét nhận định về giá trị các kết quả đạt được
khi ban hành và thực thi một chính sách công. Để có thể đi vào cuộc sống,
chính sách công được cụ thể hóa thành các quy định của pháp luật, việc nhìn
nhận và đánh giá chính sách do đó thường gắn với sự đánh giá những quy
định pháp luật này có phù hợp với những yêu cầu của cuộc sống hay không và
chúng được vận hành như thế nào trên thực tế. Chính sách công không chỉ thể
hiện trong các quy định pháp luật mà chúng còn nằm trong các chương trình,
16
kế hoạch, chủ trương hoạt động của Nhà nước. Do đó, đánh giá chính sách
công phải bao quát việc xem xét về tổng thể các quyết định của Nhà nước
trong việc giải quyết một vấn đề cấp thiết đặt ra trong quá trình quản lý nhà
nước. Việc đánh giá chính sách không chỉ xem xét, nhận định về nội dung mà
còn cả quá trình thực thi chính sách để trên cơ sở đó có giải pháp điều chỉnh
cho phù hợp.
Có nhiều khái niệm về đánh giá chính sách công:
Đánh giá chính sách công là khách quan, hệ thống và kiểm tra thực
nghiệm các kết quả và mục tiêu dự kiến đạt được đối với đối tượng của chính
dân, cho xã hội. Đồng thời nếu trong quá trình thực thi phát hiện những vấn
đề bất cập hoặc không còn phù hợp với thực tiễn thì phải có giải pháp điều
chỉnh, bổ sung, có thể cho dừng hoặc tiếp tục thực thi chính sách để đảm bảo
mục tiêu đề ra, đảm bảo yêu cầu thực tiễn.
Ba là, đánh giá hiệu quả xã hội của chính sách xây dựng NTM mang lại
đối với người dân, đối với xã hội và hiệu quả bền vững của chính sách xây
dựng NTM khi mà Nhà nước không đầu tư nữa. Thông qua việc đánh giá này,
nhìn nhận lại sự nhận thức, ý thức, trách nhiệm của cán bộ, của người dân
trong việc thực hiện chính sách xây dựng NTM. Đặc biệt là trách nhiệm của
người dân với vai trò nòng cốt là “chủ thể” trong xây dựng NTM trên tất cả
mọi mặt ở nông thôn như: trong việc xây dựng nếp sống văn hóa, văn minh ở
nông thôn, giữ gìn, bảo tồn, phát huy văn hóa truyền thống làng quê, dòng
tộc; bảo vệ môi trường; giữ gìn an ninh trật tự ở địa phương; tự nguyện đóng
góp công, của xây dựng và duy trì NMT ở địa bàn; góp ý xây dựng Đảng,
chính quyền, xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh…
Bốn là, đánh giá hiệu quả kinh tế của việc xây dựng chính sách nông
thôn mới: Thông qua việc đánh giá này nhằm xem xét các chi phí của việc
đầu tư xây dựng NTM như vậy là phù hợp với điều kiện ngân sách hiện có
hay chưa. Các đánh giá đầu vào, đầu ra của chính sách xây dựng NTM là cơ
18
sở để đánh giá hiệu quả kinh tế của nó. Khi thực hiện đánh giá này thì yêu cầu
phải thực hiện tốt việc phân tích đầu vào, đầu ra để đạt kết quả tương đối
chính xác. Người ta có thể dùng một trong hai cách sau:
Cách thứ nhất: lấy kết quả đầu ra chia cho chi phí đầu vào, nếu thương
của phép chia này lớn hơn 1 thì có nghĩa là chính sách này thực hiện được;
nếu bằng 1 thì có nghĩa là hòa vốn và nếu nhỏ hơn 1 thì không hiệu quả về
phương diện kinh tế.
sách đã ban hành và triển khai thực hiện có phù hợp với khu vực nông thôn
của từng vùng trên cả nước hay chưa; chính sách đã đi vào thực tiễn cuộc
sống và được người dân hưởng ứng tích cực hay chưa; sự phân công trách
nhiệm của từng bộ, ngành, địa phương đối với các nội dung liên quan đến bộ
tiêu chí xây dựng NTM do Chính phủ ban hành; sự phối hợp giữa các cơ quan
với nhau trong việc hoạch định cũng như triển khai thực hiện chính sách xây
dựng NTM. Để trên cơ sở đó có sự điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp với thực
tế.
Thứ hai, đối chiếu, so sánh, kiểm chứng lại mức độ, kết quả, hiệu quả cả
kinh tế, lẫn xã hội trước và sau khi triển khai thực hiện chính sách xây dựng
NTM ở các địa phương và cả kết quả đạt được so với chi phí đầu tư trên lĩnh
vực này để trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp và có biện pháp thực hiện hiệu
quả hơn, cũng có thể tiếp tục cho triển khai thực hiện chính sách hay dừng
việc thực hiện chính sách đó.
Thứ ba, qua đánh giá chính sách cũng đồng thời thấy được những mặt
mạnh, mặt yếu, cơ hội và thách thức trong việc thực hiện chính sách xây dựng
NTM ở khu vực nông thôn để từ đó có những đề xuất, kiến nghị điều chỉnh,
sửa đổi, bổ sung kịp thời chính sách nhằm đạt được mục tiêu đề ra và có
những dự báo, định hướng trong tương lai, yêu cầu của việc xây dựng NTM