VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN XUÂN GIÁ
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
TỪ THỰC TIỄN HUYỆN LƯƠNG TÀI, TỈNH BẮC NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI, 2018
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN XUÂN GIÁ
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
TỪ THỰC TIỄN HUYỆN LƯƠNG TÀI, TỈNH BẮC NINH
Chuyên ngành: Chính sách công
Mã số: 8 34 04 02
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. TRỊNH THỊ XUYẾN
HÀ NỘI, 2018
gian làm đề tài luận văn này.
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 23 tháng 3 năm 2018
Người cảm ơn
Nguyễn Xuân Giá
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1
Chương 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI ............................................................................8
1.1. Chính sách xây dựng nông thôn mới ...............................................................8
1.2. Quá trình thực hiện chính sách xây dựng nông thôn mới ..............................19
1.3. Những nhân tố tác động đến việc thực hiện chính sách xây dựng nông thôn
mới ........................................................................................................................22
1.4. Kinh nghiệm của một số huyện tỉnh Bắc Ninh trong tổ chức thực hiện chính
sách xây dựng nông thôn mới ...............................................................................24
Chương 2. THỰC TRẠNG TỔ CHỨC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÂY
DỰNG NÔNG THÔN MỚI TỪ THỰC TIỄN HUYỆN LƯƠNG TÀI, TỈNH
BẮC NINH ...............................................................................................................28
2.1. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, văn hóa xã hội huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh ảnh
hưởng đến thực hiện chính sách xây dựng nông thôn mới. .....................................28
2.2. Thực trạng tổ chức thực hiện chính sách xây dựng nông thôn mới huyện
Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh, giai đoạn 2011 - 2017 ................................................31
2.3. Kết quả thực hiện các nội dung theo 19 tiêu chí trong bộ tiêu chí quốc gia về
xây dựng nông thôn mới .......................................................................................36
2.4. Những hạn chế, nguyên nhân của hạn chế trong tổ chức thực hiện xây dựng
nông thôn mới huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh..................................................49
Chương 3. BỐI CẢNH VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ
Mặt trận Tổ quốc
NTM
Nông thôn mới
THCS
Trung học cơ sở
THPT
Trung học phổ thông
UBND
Ủy ban nhân dân
XHCN
Xã hội chủ nghĩa
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nước ta hiện nay cơ bản là nước nông nghiệp với khoảng 70% dân số
là nông dân. Nông nghiệp, nông dân, nông thôn ở Việt Nam luôn được Đảng,
Nhà nước hết sức coi trọng trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và phát
triển đất nước. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng xác định
Chương trình MTQG xây dựng NTM giai đoạn 2016-2020; đồng thời Chính
phủ ban hành quyết định Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới, ngoài chỉ
tiêu chung, có chỉ tiêu vùng, miền. Trong 19 tiêu chí, có 13 nội dung trong 06
tiêu chí giao cho UBND cấp tỉnh quy định cho phù hợp với thực tế ở địa
phương cấp tỉnh, gồm: 04 nội dung trong tiêu chí Giao thông, 01 nội dung
trong tiêu chí Thủy lợi, 02 nội dung trong tiêu chí Cơ sở vật chất văn hóa, 01
nội dung trong tiêu chí Cơ sở hạ tầng thương mại nông thôn; 04 nội dung
trong tiêu chí Thông tin và truyền thông và 01 nội dung trong tiêu chí Môi
trường và an toàn thực phẩm.
Huyện Lương Tài là một huyện nông nghiệp thuộc tỉnh Bắc Ninh xa
trung tâm, điều kiện về kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn, nhưng với sự cố
gắng của các cấp ủy Đảng, chính quyền và nhân dân trong huyện, đến hết
năm 2017, đã có 08/13 xã được công nhận xã nông thôn mới, phấn đấu đến
năm 2019, huyện được công nhận huyện nông thôn mới. Trong những năm
qua, việc thực hiện Chương trình MTQG về xây dựng NTM đã đạt được
những kết quả đáng phấn khởi: kinh tế xã hội phát triển ổn định; cơ cấu kinh
tế chuyển dịch theo hướng tích cực; thu nhập đầu người tăng; diện mạo nông
thôn ngày càng khởi sắc; cảnh quan môi trường nông thôn được cải thiện; đời
sống về vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên. Tuy nhiên, cũng
như toàn tỉnh và cả nước, trong quá trình thực hiện xây dựng nông thôn mới
còn những tồn tại và bất cập, đó là: nhận thức của cấp ủy, chính quyền và
người dân về xây dựng NTM còn hạn chế; công tác phối kết hợp để tổ chức
2
thực hiện xây dựng NTM chưa hiệu quả; huy động sự đóng góp của người
dân và doanh nghiệp còn hạn chế; nguồn lực trong xây dựng NTM còn gặp
nhiều khó khăn; nợ đọng trong xây dựng cơ bản của một số xã còn cao, đặc
biệt, trình độ của cán bộ cơ sở còn hạn chế, cho nên quá trình tổ chức thực
thời kỳ, đặc biệt sau đổi mới 20 năm (1986-2006), đã làm rõ khá toàn diện
nhiều vấn đề lý luận, thực tiễn sự phát triển của nông nghiệp, nông dân, nông
thôn Việt Nam. [2]
“Xây dựng nông thôn mới là sự nghiệp cách mạng lâu dài của Đảng và
nhân dân ta” của tác giả Hồ Xuân Hùng, tác giả đã làm rõ nông thôn và nông
thôn mới xã hội chủ nghĩa Việt nam, đã đề ra một số biện pháp thực hiện 19
tiêu chí quốc gia về xây dựng NTM trong giai đoạn hiện nay. [12]
Đề tài cấp nhà nước: “Vấn đề nông nghiệp, nông thôn, nông dân Việt
Nam trong quá trình phát triển đất nước theo hướng hiện đại” năm 2010 của
PGS.TS Nguyễn Danh Sơn làm chủ nhiệm đề tài. Đề tài đã nêu bật được
những vấn đề cần thiết, quan trọng, cốt lõi trong phát triển đất nước. [19]
Luận án Tiến sỹ Kinh tế tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
của tác giả Nguyễn Văn Hùng, năm 2015 với đề tài “Xây dựng nông thôn mới
trong phát triển kinh tế - xã hội ở tỉnh Bắc Ninh”. Luận án đã khẳng định mô
hình nông thôn mới được quy định bởi các tính chất: đáp ứng yêu cầu phát
triển; có sự đổi mới về tổ chức, vận hành và cảnh quan môi trường; đạt hiệu
quả cao nhất trên tất cả các mặt kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội; tiến bộ hơn
so với mô hình cũ; chứa đựng các đặc điểm chung, có thể phổ biến và vận
dụng trên cả nước. [13]
Trên Tạp chí Cộng sản, Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam có đăng
nhiều bài viết quan trọng liên quan đến đề tài luận văn nghiên cứu:
- Bài viết “Xây dựng nông thôn mới: một số vấn đề đặt ra” của TS.
Phạm Tất Thắng, Phó Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản, tháng 11/ 2015. [23]
4
- Bài viết “Xây dựng nông thôn mới - những bài học kinh nghiệm giai
đoạn 2010 - 2015” của tác giả Lê Nguyễn, Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt
Nam, tháng 1 năm 2016. [17]
Hai là, Phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện chính sách xây dựng
NTM ở huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh, xác định kết quả đạt được, những
tồn tại, hạn chế, nguyên nhân trong quá trình thực hiện chính sách.
Ba là, Đề xuất phương hướng và các giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao
hiệu quả xây dựng NTM trên địa bàn huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh trong
thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng khảo sát là quá trình thực hiện chính sách xây dựng nông
thôn mới của các xã, phòng, ban, cơ quan, đơn vị và nhân dân trên địa bàn
huyện.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian nghiên cứu: Đề tài luận văn được tiến hành
nghiên cứu trên phạm vi huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh. Cụ thể, nghiên cứu
tại 13 xã là nơi trực tiếp tổ chức thực hiện các tiêu chí xây dựng NTM.
- Phạm vi thời gian nghiên cứu: từ năm 2011 đến nay.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu đề tài
5.1. Cách tiếp cận nghiên cứu
Tiếp cận việc thực hiện chính sách thông qua phương pháp so sánh
trước và sau khi thực hiện, qua việc thực hiện các nội dung của chính sách
quy định tại các văn bản chính sách; theo kênh các cơ quan, đơn vị, các tập
thể, cá nhân trực tiếp thực hiện chính sách.
Tiếp cận theo chu trình chính sách công: xuất hiện các vấn đề chính
sách, xây dựng, thực hiện, kiểm tra, đánh giá chính sách.
6
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp phân tích, tổng hợp, phân tích tài liệu, phỏng vấn sâu,
Theo cuốn sách Từ điển bách khoa Việt Nam: “Nông thôn là vùng lãnh
thổ của một nước hay một số đơn vị hành chính nằm ngoài lãnh thổ đô thị, có
môi trường tự nhiên, hoàn cảnh kinh tế xã hội, điều kiện sống khác biệt với
thành thị và dân cư chủ yếu làm nông nghiệp”. [46]
Theo truyền thống và phổ biến thông dụng ở Việt Nam hiện nay thì
nông thôn là nơi định cư của những người sống chủ yếu bằng nghề nông
nghiệp, đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu, một số ít người sống bằng nghề phi
nông nghiệp nhưng di động nghề thấp, thường là nghề do cha ông để lại và
phân công lao động xã hội chưa cao, trình độ chuyên môn thấp, kinh tế nông
nghiệp chiếm tỷ lệ cao trong cơ cấu nông thôn. Nông thôn đa dạng về điều
kiện tự nhiên, môi trường, sinh thái, bao gồm các tài nguyên đất, nước, khí
hậu, ao hồ, khoáng sản, hệ động, thực vật.
Hơn nữa, nông thôn là nơi lưu giữ và bảo tồn những di sản văn hóa
quốc gia như phong tục tập quán cổ truyền về đời sống, lễ hội, sản xuất nông
nghiệp và ngành nghề truyền thống, các di tích lịch sử văn hóa, các danh lam
thắng cảnh. Đây chính là nơi chứa đựng kho tàng văn hóa dân tộc, đồng thời
là khu vực giải trí, du lịch sinh thái phong phú, hấp dẫn với con người.
Khái niệm nông thôn đã được nêu rõ tại Thông tư số 41/2013/TTBNNPTNT ngày 04/10/2003 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn:
8
“Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị
xã, thị trấn, được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là UBND xã” [3]. Ở Việt
Nam nông thôn gắn liền với địa danh làng, xã, nơi cư trú chủ yếu của nông
dân, lấy nông nghiệp làm nghề chính.
Cư dân nông thôn có mối quan hệ họ tộc và gia đình với những quy
định cụ thể. Những người cùng sinh sống kể cả ngoài họ tộc luôn có tinh thần
giúp đỡ lẫn nhau tạo nên tình làng ngõ xóm. Trong một khu dân cư, gia đình,
dòng họ, làng xóm, các hành vi ứng xử được quy định bởi tộc ước, hương
NTM thể hiện ở 05 nội dung: Thứ nhất, làng xã văn minh, sạch đẹp, hạ tầng
hiện đại. Thứ hai, sản xuất nông nghiệp phát triển không ngừng theo hướng
hàng hóa;. Thứ ba, đời sống về vật chất và tinh thần của người dân ngày càng
được nâng cao. Thứ tư, bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn và phát triển.
Thứ năm, dân chủ trong nông thôn ngày càng được thực hiện tốt.
* Sự cần thiết phải xây dựng nông thôn mới
Một là, Nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong quá trình phát triển, có
vị trí hết sức quan trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập, xây dựng và bảo
vệ tổ quốc Việt Nam XHCN. Qua các giai đoạn lịch sử cách mạng, nông dân
luôn là lực lượng nòng cốt hùng hậu làm nên lịch sử vẻ vang của dân tộc. Xây
dựng nông thôn để phát triển là tổ hợp các hoạt động đa dạng, có sự tham gia
của cá nhân, nhóm, tổ chức, tập thể nhằm đạt mục tiêu đề ra, xây dựng một
cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân.
Hai là, sau hơn 30 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, từ năm
1986, nông thôn nước ta đạt nhiều thành tựu to lớn: Trong sản xuất nông
nghiệp đã chuyển từ sản xuất tự cung, tự cấp sang sản xuất hàng hóa theo cơ
chế thị trường, định hướng XHCN, Việt Nam từ một nước phải nhập khẩu
gạo đã trở thành một trong những nước có nhiều sản phẩm nông sản như lúa
gạo, cà phê, hoa quả, hạt điều, hồ tiêu… trong những sản phẩm đó có nhiều
sản phẩm nông sản xuất khẩu đứng hàng đầu thế giới, bước đầu đã hình thành
10
vùng sản xuất hàng hóa chuyên canh quy mô lớn, bước chuyển này có ý nghĩa
quan trọng, tạo tiền đề cho xây dựng NTM. Hệ thống kết cấu hạ tầng nông
thôn phát triển nhanh, góp phần vào CNH, HĐH, hội nhập và phát triển.
Nhà nước đã có nhiều chính sách ưu việt chăm lo đời sống cho đối
tượng người có công, gia đình chính sách, hộ nghèo, tàn tật, người cô đơn
không nơi nương tựa, đặc biệt chính sách an sinh xã hội cho đồng bào dân tộc
tâm, thể hiện bằng việc ban hành các chủ trương, nghị quyết, quyết định về
nông nghiệp, nông dân và nông thôn.
Tại các kỳ Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng, từ Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ III, năm 1960 đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII,
năm 2016, chủ trương của Đảng về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đã thể
hiện rõ trong các Nghị quyết của Đại hội. Tiêu biểu tại Nghị quyết của các kỳ
Đại Hội Đảng sau:
- Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV năm 1976, chủ trương của Đảng là
“Đẩy mạnh công nghiệp hóa XHCN, đưa nền kinh tế nước ta từ nền sản xuất
nhỏ lên sản xuất lớn XHCN… kết hợp xây dựng công nghiệp và nông nghiệp
cả nước thành một cơ cấu kinh tế công-nông nghiệp”. [6, tr. 68]
- Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năn 1986, nghị quyết chỉ rõ
“Nhiệm vụ bao trùm, mục tiêu tổng quát của những năm còn lại của chặng
đường đầu tiên là ổn định mọi mặt về tình hình kinh tế - xã hội, tiếp tục xây
dựng những tiền đề cần thiết cho việc đẩy mạnh công nghiệp hóa XHCN
trong chặng đường tiếp theo”. [7, tr. 20]
- Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII năn 1991, chủ trương của Đảng
là: “Phát triển nông, lâm, ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến, phát triển
toàn diện kinh tế nông thôn và xây dựng NTM là nhiệm vụ quan trọng hàng
đầu để ổn định tình hình kinh tế - xã hội”. [8, tr. 67]
- Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X năm 2006: “Phải luôn luôn coi
trọng đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn. Gắn phát triển kinh tế
12
với xây dựng NTM, giải quyết tốt hơn mối quan hệ giữa nông thôn và thành
thị, giữa các vùng miền, góp phần giữ vững ổn định chính trị xã hội”.[9, tr.82]
- Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, năm 2011, Đảng xác định:
“Phát triển nông - lâm - ngư nghiệp toàn diện theo hướng CNH, HĐH gắn với
gia chủ động trong quá trình tổ chức thực hiện. Từ đó các chính sách phát
triển kinh tế, xã hội sẽ tạo hiệu ứng tổng thể nhằm xây dựng mô hình NTM.
1.1.2. Mục tiêu và nội dung của chính sách xây dựng nông thôn mới
* Mục tiêu của chính sách xây dựng nông thôn mới:
Mục tiêu tổng quát: “Xây dựng nông thôn mới để nâng cao đời sống
vật chất và tinh thần cho người dân; có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội phù
hợp; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn phát triển
nông nghiệp với công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị; xã
hội nông thôn dân chủ, bình đẳng, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi
trường sinh thái được bảo vệ; quốc phòng, an ninh được giữ vững”. [28, tr. 1]
Mục tiêu cụ thể:
Thứ nhất, đến năm 2020 số xã đạt tiêu chuẩn nông thôn mới khoảng
50%; khuyến khích mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phấn đấu có ít
nhất 01 huyện đạt chuẩn nông thôn mới. Thứ hai, bình quân cả nước đạt 15
tiêu chí/xã; không còn xã dưới 5 tiêu chí. Thứ ba, cơ bản hoàn thành các công
trình thiết yếu đáp ứng yêu cầu phát triển sản xuất và đời sống của cư dân
nông thôn: giao thông, điện, nước sinh hoạt, trường học, trạm y tế xã. Thứ tư,
nâng cao chất lượng cuộc sống của cư dân nông thôn; tạo nhiều mô hình sản
xuất gắn với việc làm ổn định cho nhân dân, thu nhập tăng ít nhất 1,8 lần so
với năm 2015. [28, tr. 1]
14
* Nội dung cơ bản của chính sách xây dựng NTM: Chương trình
MTQG về xây dựng NTM là một chương trình tổng thể về phát triển kinh tế xã hội, chính trị và an ninh quốc phòng, gồm có 11 nội dung sau:
(1) Quy hoạch xây dựng NTM: Thứ nhất, quy hoạch xây dựng vùng
nhằm đáp ứng tiêu chí của Quyết định số 558/QĐ-TTg ngày 05 tháng 4 năm
2016 của Thủ tướng Chính phủ. Thứ hai, rà soát, điều chỉnh bổ sung các quy
hoạch sản xuất trong đồ án quy hoạch xã NTM gắn với tái cơ cấu nông nghiệp
đó chú trọng công nghiệp chế biến nông sản thu hút nhiều lao động. Thứ tư,
tiếp tục đổi mới tổ chức sản xuất trong nông nghiệp, thực hiện quyết định số
2261/QĐ-TTg ngày 15/12/2014 về phê duyệt Chương trình hỗ trợ phát triển
hợp tác xã giai đoạn 2015 - 2020. Thứ năm, phát triển ngành nghề nông thôn.
Thứ sáu, nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn.
(4) Giảm nghèo và an sinh xã hội: Thứ nhất, thực hiện có hiệu quả
Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016-2020.
Thứ hai, thực hiện các Chương trình an sinh xã hội ở xã, thôn.
(5) Phát triển giáo dục ở nông thôn: Thứ nhất, phổ cập giáo dục mầm
non cho trẻ 05 tuổi. Bảo đảm hầu hết trẻ 5 tuổi ở mọi vùng miền được đến lớp
để thực hiện giáo dục 02 buổi/ngày, bảo đảm chất lượng để trẻ em vào lớp 1.
Thứ hai, đến năm 2020, độ tuổi 15-60: tỷ lệ biết chữ đạt 98%; độ tuổi 15-35:
tỷ lệ biết chữ đạt 99%. 100% đơn vị cấp tỉnh, huyện, 95% đơn vị cấp xã đạt
chuẩn xóa mù chữ mức 2. Thứ ba, phổ cập giáo dục tiểu học. Đến năm 2020,
duy trì vững chắc kết quả phổ cập giáo dục tiểu học trên 63/63 đơn vị cấp
tỉnh; huy động được 99,7% trẻ 6 tuổi vào học lớp 1, tỉ lệ lưu ban và bỏ học ở
tiểu học dưới 0,5%. 100% đơn vị cấp tỉnh, 100% đơn vị cấp huyện và 99,5%
đơn vị cấp xã phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi theo quy định. Thứ tư,
đến năm 2020, duy trì vững chắc kết quả phổ cập giáo dục trung học cơ sở
16
trên 63/63 tỉnh, thành phố trong đó ít nhất 40% số tỉnh, thành phố trực thuộc
Trung ương đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ sở mức độ 3.
(6) Phát triển y tế cơ sở, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe người
dân nông thôn: Xây dựng và Phát triển mạng lưới y tế cơ sở trong tình hình
mới đáp ứng yêu cầu của Bộ Tiêu chí quốc gia về NTM.
(7) Nâng cao chất lượng đời sống văn hóa của người dân nông thôn:
Thứ nhất, xây dựng, phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống
người dân.
(10) Giữ vững quốc phòng, an ninh và trật tự xã hội nông thôn: Thứ
nhất, đấu tranh, ngăn chặn và đẩy lùi các loại tội phạm, tệ nạn xã hội, bảo
đảm an toàn, an ninh, trật tự xã hội địa bàn nông thôn. Thứ hai, xây dựng thế
trận quốc phòng toàn dân, đảm bảo giữ vững chủ quyền quốc gia.
(11) Nâng cao năng lực xây dựng NTM và công tác giám sát, đánh giá
thực hiện Chương trình; truyền thông về xây dựng NTM: Thứ nhất, tập huấn
nâng cao năng lực, nhận thức cho cộng đồng và người dân, để nhân dân hiểu
đầy đủ hơn về nội dung, phương pháp, cách làm NTM. Thứ hai, tăng cường
tập huấn, nâng cao kiến thức, kỹ năng cho cán bộ xây dựng NTM các cấp.
Thứ ba, xây dựng và triển khai có hiệu quả hệ thống giám sát, đánh giá đáp
ứng yêu cầu quản lý Chương trình trên cơ sở áp dụng công nghệ thông tin.
1.1.3. Nguyên tắc thực hiện xây dựng nông thôn mới
Nguyên tắc thực hiện xây dựng NTM được quy định tại Điều 3, Quy
chế quản lý, điều hành thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia ban hành
kèm theo quyết định 41/2016/QĐ-TTg ngày 10/10/2016 của Thủ tướng Chính
phủ, trong đó đã đề ra 05 nguyên tắc trong thực hiện xây dựng NTM sau:
“Một là, Phù hợp với quy định của pháp luật về đầu tư công, ngân sách
nhà nước và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan;
18
Hai là, Tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước; trách nhiệm
của các bộ, ngành và các cấp ở địa phương; vai trò giám sát của cộng đồng
trong quản lý và điều hành thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia;
Ba là, Đảm bảo công khai, minh bạch trong quản lý, điều hành thực
hiện các chương trình mục tiêu quốc gia; khuyến khích huy động nguồn lực
xã hội để thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia;
Bốn là, Đảm bảo phối hợp chặt chẽ, thường xuyên giữa các bộ, ngành,