BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
PHẠM VĂN ÚT
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN U MINH THƢỢNG,
TỈNH KIÊN GIANG
Chuyên ngành: Quản lý công
Mã số: 60 34 04 03
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2017
1
Công trình này đƣợc hoàn thành tại:
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
Người hướng dẫn khoa học: Tiến sĩ Trần Nghị
Phản biện 1: Tiến sĩ Nguyễn Thị Hà
Phản biện 2: Tiến sĩ Nguyễn Thắng
Luận văn được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ,
Học viện Hành chính Quốc gia
Trong những năm đổi mới, phát triển nông nghiệp, nông
thôn và giải quyết vấn đề nông dân là những chủ đề thu hút sự quan
tâm nghiên cứu của nhiều cơ quan quản lý, các cơ quan nghiên cứu
và các nhà khoa học trên thế giới cũng như ở Việt Nam.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu:
Luận văn nghiên cứu quá trình thực hiện chính sách trong xây
dựng nông thôn mới ở huyện U Minh Thượng, đề xuất các kiến nghị
mang tính giải pháp làm cơ sở để các cơ quan, ban, ngành thực hiện
tốt hơn các chu trình thực hiện chính sách trong phát triển nông
3
nghiệp, nông thôn ở địa phương, xây dựng thành công nông thôn mới.
3.2. Nhiệm vụ của luận văn
Làm rõ cơ sở lý luận về chính sách và việc thực hiện chính
sách.
Phân tích quá trình hình thành và phát triển của chính sách
trong phát triển nông nghiệp, nông thôn nói chung, xây dựng mô hình
nông thôn mới nói riêng của Đảng và Nhà nước ta từ sau đổi mới đến
nay.
Phân tích quá trình thực hiện chính sách xây dựng mô hình
nông thôn mới ở địa bàn huyện U Minh Thượng.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1- Đối tƣợng nghiên cứu
-Tập trung nghiên cứu các hoạt động thực hiện chính sách
xây dựng NTM .
4.2- Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Nghiên cứu trên địa bàn huyện U Minh
Thượng, tỉnh Kiên Giang
xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện U Minh Thượng – tỉnh
Kiên Giang
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH VÀ THỰC HIỆN CHÍNH
SÁCH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
1.1
Những vấn đề chung về chính sách
1.1.1
Khái niện
1.1.2
Đặc điểm của chính sách
1.1.3
Các loại chính sách
1.2
Nông thôn và Nông thôn mới
1.2.1 Khái niệm nông thôn
5
Xây dựng nông thôn mới góp phần thúc đẩy kinh tế, nhất là
kinh tế ở nông thôn phát triển tích cực.
7
Thông qua thực hiện các chính sách thuộc chương trình mục
tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới là điều kiện để phát triển
đồng điều hơn giữa các vùng, miền, địa phương của đất nước, đặc
biệt là vùng sâu vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt
khó khăn, khoảng cách vùng, miền, nông thôn thành thị, giàu nghèo
dần được điều chỉnh một cách hợp lý.
1.3.2. Ý nghĩa
Thông qua chính sách xây dựng nông thôn mới tính tích cực
của xã hội thể hiện rỏ nét hơn đó là truyền thống đoàn kết thương
yêu, giúp đỡ lẫn nhau, tính tự lực vươn lên của mỗi người, từng hộ
gia đình, làng xã được phát huy có sự hỗ trợ của nhà nước; tránh sự
chồng chéo, ỷ lại vào nhà nước.
Xây dựng nông thôn mới không chỉ mang ý nghĩa về kinh tế,
xã hội mà còn thể hiện giá trị đạo đức cao đẹp và nhân văn sâu sắc
của dân tộc ta.
Thực hiện tốt chính sách xây dựng nông thôn mới sẽ góp
phần bảo đảm an sinh xã hội của quốc gia, khoảng cách vùng miền,
giàu nghèo được rút ngắn và hướng tới một xã hội công bằng hơn.
Thực hiện chính sách xây dựng nông thôn mới vừa là mục
tiêu vừa là yêu cầu của sự phát triển bền vững vừa là nhiệm vụ cấp
bách, vừa là chủ trương có tầm chiến lượt đặc biệt quan trọng trong
sự nghiệp cách mạng của đảng, nhà nước và nhân dân ta.
1.4. Các yếu tố ảnh hƣởng đến việc thực hiện chính sách
xây dựng nông thôn mới
1.4.1. Chủ quan
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên
U Minh Thượng là một trong những huyện có điều kiện kinh
tế- xã hội còn nhiều khó khăn của tỉnh Kiên Giang, dân số 71.549
người, trong đó đồng bào dân tộc khmer, Hoa chiếm 13% so với tổng
9
dân số của huyện. Huyện U Minh Thượng có nhiều kênh gạch chằn
chịch, địa bàn rộng, dân cư sống không tập trung, đa số sống rải rác
ven các bờ sông; Đơn vị hành chính của huyện được chia thành 06
xã bao gồm: xã Thạnh Yên, Thạnh Yên A, Vĩnh Hòa, Hòa Chánh,
Minh Thuận và An Minh Bắc
Huyện có diện tích tự nhiên 43.270,13 ha, trong đó diện tích
đất rừng các loại là 9.361,26 ha, còn lại là đất sản xuất nông nghiệp,
đất ở
2.1.2- Về địa hình, khí hậu, thủy văn
Huyện có địa hình bằng phẳng và tương đối thấp như các nơi
khác của khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long, chịu tác động của khí
hậu nhiệt đới gió mùa. Khí hậu nóng và ẩm, có hai mùa mưa và nắng
rõ rệt. Địa bàn các xã có nguồn nước ngọt sông Hậu đưa về 8-9
tháng/năm. Trong 06 xã của huyện thì có 2 xã có nước ngọt quanh
năm (vùng đệm bao quanh vườn quốc gia U Minh Thượng), 04 xã
có 4 tháng nhiễm mặn trong mùa khô kiệt
2.2. Tình hình thực hiện chính sách xây dựng nông thôn
mới trên địa bàn huyện U Minh Thƣợng, tỉnh kiên giang giai
đoạn 2012-2016.
2.2.1. Công tác tổ chức, điều hành.
Hệ thống tổ chức bộ máy của chương trình xây dựng nông
thôn mới từ huyện đến xã đã được thành lập, kiện toàn và đi vào hoạt
động có hiệu quả. các ấp có thành lập Ban vận động thực hiện
được biểu dương, khen thưởng.
2.2.4. Kết quả thực hiện nội dung xây dựng NTM
Tổng nguồn lực đã huy động xây dựng NTM: 2.454,08 tỷ
đồng.
Tuy nhiên: Chương trình triển khai trong giai đoạn suy thoái kinh tế
toàn cầu, nguồn lực đầu tư của trung ương hạn chế, nhưng với sự nỗ
11
lực của địa phương đã lồng nghép và huy động nhiều nguồn vốn
khác đầu tư nhiều hạng mục công trình thiết yếu cho khu vực nông
thôn. Hệ thống hạ tầng phục vụ cơ sở phát triển sản xuất và phát triển
kinh tế-xã hội được nâng cấp cải tạo đáp ứng nhu cầu.
Nhóm 1: lập quy hoạch
Đến cuối năm 2012 đã có 6/6 xã được UBND huyện phê
duyệt quy hoạch xây dựng NTM; phê duyệt quy chế quản lý quy
hoạch và chỉ đạo các xã công bố công khai quy hoạch theo quy định.
Thực hiện phê duyệt quy hoạch địa điểm xây dựng trên 150
công trình: trung tâm văn hóa xã, nhà văn hóa ấp, nghĩa trang, trường
học, trạm y tế,....
Nhóm 2: Hạ tầng kinh tế- xã hội
+ Đường trục xã đã thực hiện 393/401km đạt 98,17% vượt
33% so với nghị quyết đầu tư trên 250 tỷ đồng.
Nhiều công trình thiết yếu như trường học, cơ sở văn hóa đã
được chỉnh trang, nâng cấp, cải tạo phục vụ phát triển kinh tế-xã hội
của địa phương.
Nhóm 3: Kinh tế và tổ chức sản xuất.
Cùng với các chính sách hổ trợ của Trung ương, của Tỉnh,
huyện chỉ đạo sản xuất theo hướng hàng hóa, chuyển đổi cây trồng
vật nuôi nhờ đó mà đời sống của nhân dân được nâng lên. Kết quả,
hiện tốt. Đảng bộ, chính quyền đoàn thể các xã đều đạt vững mạnh
tiên tiến..
Tình hình an ninh chính trị trên địa bàn được ổn định, tội
phạm, tệ nạn xã hội được kiềm chế, phong trào toàn dân bảo vệ an
ninh tổ quốc đã mang lại hiệu quả thiết thực.
2.3. Kết quả cụ thể trên một số nội dung.
2.3.1. Nhóm chính sách phát triển sản xuất và tăng thu
nhập.
13
Hỗ trợ tín dụng: Xác định được tầm quan trọng của vấn đề
vốn trong phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập cho người dân.
Huyện luôn tranh thủ nguồn vốn ưu đải hàng năm để giải quyết việc
làm cho các hộ gia đình nói chung và các hộ gia đình nghèo để họ có
cơ hội tiếp cận nguồn vốn một cách thuận lợi nhất.
Qua 5 năm thực hiện đã có trên 17.000 lượt hộ vay vốn phục
vụ sản xuất và đời sống, học nghề, sinh viên đi học với tổng số tiền
427 tỷ đồng. Đã tổ chức dạy nghề cho 14.694 lao động ở trình độ sơ
cấp, phổ thông. tập huấn, hướng dẫn cách làm ăn cho hơn 5.000 lượt
lao động. Tỷ lệ hộ nghèo trung bình hàng năm giảm 2%.
2.3.2. Nhóm chính sách tạo cơ hội để ngƣời dân tiếp cận
với các dịch vụ xã hội cơ bản.
- Chính sách hỗ trợ về giáo dục và đào tạo: với mục tiêu mọi
người đều hướng đến môi trường giáo dục, để góp phần nâng cao
dân trí, tiếp cận với khoa học kỷ thuật, việc triển khai chính sách trên
địa bàn huyện luôn được thực hiện đúng, kịp thời:
Đã hỗ trợ mua 3.162 thẻ bảo hiểm với số tiền 2.055.300.000
đồng hỗ trợ cho người nghèo; hỗ trợ cho người cận nghèo 18.958 thẻ
bảo hiểm với số tiền 4.170.760.000đ. Khuyến khích bác sĩ về công
hiệu quả đã làm thay đổi mọi mặt đời sống kinh tế-văn hóa- xã hội,
của người dân nông thôn, nét nổi bật là hộ nghèo giảm nhanh hàng
năm, thu nhập vượt kế hoạch, hạ tầng nông thôn được khởi sắc, an
ninh trật tự được đảm bảo,...
Bốn là: Thông qua việc thực hiện chính sách năng lực thực
thi chính sách của các cấp quản lý được nâng lên, đã phát huy tính
chủ động, sáng tạo trong thực thi công việc nhưng vẫn đảm bảo đúng
theo quy định chung.
Năm là: Ý thức của người dân được nâng lên trong quá trình
thực hiện chính sách. Từ đó mà họ thể hiện rỏ trách nhiệm của mình
16
trong quá trình thực hiện, không trông chờ, ỷ lại vào sự đầu tư toàn
bộ của nhà nước.
Nguyên nhân ưu điểm:
- Sự lãnh đạo chỉ đạo tập trung, quyết liệt, tổ chức triển khai
thực hiện từ huyện ủy, UBND, Ban chỉ đạo, các ban, ngành đoàn thể
từ huyện đến xã, ấp, sự đồng tình cao của nhân dân, sự ủng hộ của
các ngành tỉnh, ... hòa quyện lại thành sức mạnh tổng hợp làm cho
chính sách nhanh chóng đi vào cuộc sống, thực hiện đạt mục tiêu đề
ra.
- Việc huy động và thực hiện các nguồn vốn được thực hiện
công khai, khách quan, đúng đối tượng, đúng quy định, thanh quyết
toán kịp thời, đây là vấn đề có nguyên nhân sâu xa, cũng như trực
tiếp cho việc thành công hay mâu thuẫn, mất đoàn kết, vi phạm và đi
đến thất bại.
- Các nguồn lực của toàn xã hội được huy động điều này thể
hiện qua các phong trào: Mái ấm tình thương, nông dân sản xuất
còn yếu, chưa đủ sức giải quyết những vấn đề bức xúc của dân.
- Một số chính sách ra đời không còn phù hợp nhưng chưa
kịp thời điều chỉnh để đáp ứng với yêu cầu chuyển đổi cơ cấu sản
xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn; một số chính sách chưa sát
với thực tế, tính khả thi không cao.
- Bất cập về vốn: Chương trình xây dựng nông thôn mới cần
nguồn vốn rất lớn trong khi nguồn lực của nhà nước và các doanh
nghiệp và nhân dân có hạn nên tiến độ thực hiện triển khai các dự án
còn chậm.
- Đề án xây dựng nông mới cấp xã còn nặng về phát triển cơ
sở hạ tầng. chưa chú trong đến phát triển sản xuất, tăng thu nhập, văn
hóa, môi trường. các địa phương còn lúng túng cho việc tìm kiếm
18
nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới. Tình trạng chung là còn ỷ
lại, trông chờ vào vốn ngân sách hỗ trợ từ nhà nước.
- Về công tác phát triển sản xuất; nhìn chung các địa
phương mới chỉ tập trung vào xây dựng quy hoạch và lập đề án.
- Về công tác đào tạo nghề cho nông dân chưa gắn với các
dự án, chương trình và nhu cầu sử dụng lao động của doanh nghiệp.
- Nhận thức của một số ngành, các cấp về chương trình xây
dựng nông thôn mới chưa đúng, chưa đầy đủ. một số nơi còn chạy
theo thành tích.
2.4.3 Nguyên nhân của những hạn chế
- Công tác quy hoạch, lập kế hoạch sản xuất nông nghiệp
chuyển biến chậm so với yêu cầu của thị trường.
- Chậm sửa đổi những điểm chưa phù hợp giữa cơ chế,
chính sách nhà nước với yêu cầu phát triển nông nghiệp hàng hóa lấy
của Nhà nước và các nguồn lực đa dạng; việc huy động, đóng góp
của người dân phải được thực hiện trên cơ sở thực sự tự nguyện, bàn
bạc dân chủ không gượng ép quá sức dân.
Tiểu kết Chƣơng 2
Chƣơng 3
QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP TIẾP TỤC THỰC HIỆN CHÍNH
SÁCH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN U MINH THƢỢNG, TỈNH KIÊN GIANG
3.1. Quan điểm và định hƣớng
3.1.1. Quan điểm.
Xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ chính trị trọng tâm của
Đảng bộ và nhân dân U Minh Thượng, là trách nhiệm của cả hệ
thống chính trị; là cuộc vận động lớn, toàn diện trên tất cả các lĩnh
vực với sự tham gia của mọi người dân.
20
Tiếp tục thực hiện nhất quán phương châm "người dân nông
thôn là chủ thể xây dựng nông thôn mới", " nhân dân làm, nhà nước
hỗ trợ" và đẩy mạnh hơn nữa phong trào "chung sức xây dựng nông
thôn mới". Không nóng vội, chạy theo thành tích.
Tập trung đầu tư kết cấu hạ tầng thiết yếu, triển khai đến đâu
phải hoàn thành dứt điểm đến đó nhằm phát huy hiệu quả, mang lại
lợi ích thiết thực cho dân.
3.1.2. Định hƣớng:
Thứ nhất: Thực hiện chính sách xây dựng nông thôn mới
trên cơ sở quyết định số 695/QĐ-TTg ngày 8/6/2012 của Thủ tướng
Chính phủ. Nghị quyết số 05-NQ/TU, ngày 27/02/2013 của Tỉnh ủy
Kiên Giang về xây dựng nông thôn mới đến năm 2020. Đồng thời
khai thác được sức mạnh tổng hợp, đáp ứng chương trình mục tiêu
đông đảo người dân.
3.2.2. Giải pháp nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực:
- Nâng cao chất lượng giáo dục ở các bậc học và giữ vững
phổ cập trung học cơ sở tại địa phương.
Ngoài ra cần phải huy hoạch, rà soát lại đội ngũ cán bộ, thực
hiện tinh giản biên chế gắn với tăng cường tập huấn, đào tạo bồi
dưỡng cho đội ngũ cán bộ.
- Giữ vững và nâng cấp trạm y tế xã đạt chuẩn quốc gia, các
tổ y tế ấp, trang thiết bị cho bệnh viện huyện cũng như đội ngũ y, bác
sĩ để đảm bảo thực hiện có hiệu quả các chính sách.
2.2.3. Giải pháp hỗ trợ nguồn nhân lực phát triển:
- Thực hiện các chính sách tín dụng phục vụ nhu cầu sản
xuất của người dân: hỗ trợ vốn vay ưu đãi để phát triển sản xuất cho
người dân đa dạng hóa các nguồn vốn vay với thủ tục đơn giản để
người dân dễ dàng tiếp cận.
22
- Các cơ sở dạy nghề cần giữ vai trò liên kết là cầu nối giữa
doanh nghiệp có nhu cầu lao động với người lao động; dạy nghề theo
đơn đặt hàng của doanh nghiệp để giải quyết đầu ra cho người lao
động sau khi học nghề.
- Tranh thủ các nguồn lực, kêu gọi thu hút đầu tư về địa
phương - tạo cơ chế thông thoáng, thuận lợi để mời gọi các nhà đầu
tư.
3.2.4. Giải pháp nâng cao hiệu quả trong thực hiện chính
sách xây dựng nông thôn mới:
- Đối với chủ thể thực thi: Hoàn thiện bộ máy tổ chức, xác
định rõ chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan, ban, ngành có liên
quan đến việc thực hiện chính sách xây dựng nông thôn mới.
Hai là, cần có những cơ chế tạo điều kiện có sự tham gia trực
tiếp của người dân với vai trò chủ thể và các tầng lớp, các tổ chức xã
hội, gắn phát triển kinh tế với bảo tồn các giá trị văn hóa truyền
thống bảo vệ môi trường.
Ba là, cần chú ý tới tính chất đa dạng cả về điều kiện sống,
tập quán, tài nguyên... trong xây dựng các mô hình nông thôn mới,
không nên khuôn mẫu áp đặt chung cho mọi nơi.
KẾT LUẬN
Thực hiện một chính sách phát triển hợp lý trong quá trình xây
dựng mô hình nông thôn mới là một vấn đề rất cấp bách trong sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn hiện nay
ở Việt Nam. Thời gian qua, thực hiện chính sách trong quá trình xây
dựng nông thôn mới của huyện U Minh Thượng đạt được một số thành
công trên những nét lớn như: Xác định rõ mục tiêu, thiết kế nội dung
chính sách phù hợp, gắn với thực tiễn địa phương, khơi dậy được tính
tích cực chấp hành chính sách ở người dân. Nhận thức lãnh đạo, cán
bộ hoạch định chính sách về mô hình nông thôn mới có rõ hơn, hiểu
24
biết về khoa học chính sách có tiến bộ. Nhờ sự tác động đúng hướng
của hệ thống chính sách mà huyện U Minh Thượng đã đạt được nhiều
thành tựu trên tất cả các mặt kinh tế-xã hội, củng cố lòng tin của dân
vào Đảng, vào chủ trương chính sách nhà nước. Trong điều kiện 10
năm thành lập huyện, những kết quả đạt được trên nhiều mặt, song
rõ nhất là thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, xây
dựng kết cấu hạ tầng, y tế, văn hóa, giáo dục phát triển, lối sống, điều
kiện canh tác của người nông dân được thay đổi,...thu nhập của người
dân có tăng lên, đời sống của nông dân ngày một khá. Bộ mặt nông
thôn U Minh Thượng nhìn chung có nhiều khởi sắc. Hiệu lực lãnh đạo