Một số giải pháp đẩy nhanh quá trình thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện lương sơn tỉnh hòa bình - Pdf 43

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu:
Ở Việt Nam, quá trình đổi mới và phát triển nông nghiệp, nông thôn do
Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng đã được bắt đầu từ năm 1988 bằng
Nghị quyết số 10 của Bộ Chính trị ngày 5/4/1988. Quá trình đổi mới cơ chế
quản lý nông nghiệp đã thu được nhiều thành công lớn, đưa Việt Nam từ quốc
gia thiếu lương thực trở thành nước xuất khẩu gạo lớn và mở rộng ra xuất
khẩu nhiều loại nông sản khác như chè, cao su, điều, tiêu, cà phê, các mặt
hàng thuỷ sản…
Đảng và Nhà nước đã chỉ rõ rằng “Nông nghiệp – Nông dân – Nông
thôn” là 3 mấu chốt trong chính sách “Tam nông” hiện nay ở Việt Nam. Việc
xây dựng nông thôn mới là một chủ trương lớn được Đảng và Nhà nước ta
quan tâm và đẩy mạnh thực hiện nhằm rút ngắn khoảng cách giữa thành thị và
nông thôn, mang lại đời sống vật chất và tinh thần no ấm-bình đẳng-tiến bộ
cho người dân nông thôn. Điều đó đã được cụ thể hoá bằng rất nhiều định
hướng, chính sách như: Nghị quyết số 26-NQ/TW của hội nghị lần thứ 7 Ban
chấp hành TW Đảng Cộng sản Việt nam khoá X đã xác định quan điểm chỉ
đạo “Nông nghiệp, nông thôn và nông dân có vị trí chiến lược trong sự nghiệp
công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ tổ quốc, là cơ sở và lực
lượng quan trọng để phát triển kinh tế xã hội bền vững, gìn giữ ổn định chính
trị, đảm bảo an ninh quốc phòng, giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc. Nông
dân là chủ thể của quá trình phát triển; xây dựng nông thôn mới là căn bản,
phát triển toàn diện, hiện đại hoá nông nghiệp là khâu then chốt”.
Nghị quyết số 24/2008/NQ-CP của Chính phủ ban hành chương trình
hành động thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW, trong đó có ghi lập chương
trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới (NTM). Ngày 21 tháng 6
năm 2009, Thủ tướng Chính phủ ký quyết định số 491/QĐ-TTg ban hành Bộ




3

chuẩn xây dựng nông thôn mới các xã đạt được khá, đặc biệt là 5 xã phấn đầu
về đích vào năm 2015, có 8 xã đạt từ 10-14 tiêu chí.
Trong giai đoạn tiếp theo, việc thực hiện xây dựng nông thôn mới có
thể phải đối mặt với nhiều khó khăn như nguồn lực đầu tư cho nông thôn mới
còn hạn chế, trong chỉ đạo thực hiện thì một số địa phương tập trung nguồn
lực cho các xã điểm mà không làm đồng đều ở tất cả các xã. Một số tiêu chí
khó đạt như cơ sở hạ tầng văn hóa, giao thông, môi trường vẫn là vấn đề
nhiều thách thức, sản xuất chưa bền vững vì chưa có tổng kết, đánh giá tính
hiệu quả, hợp lý của các mô hình kinh tế để nhân rộng. Do đó vấn đề xây
dựng nông thôn mới trong giai đoạn 2016-2020 của huyện là vấn cần đặc biệt
quan tâm; theo đó các ngành và từng địa phương tập trung đầu tư cho cơ sở
hạ tầng thiết yếu như thế nào? Làm sao để phát triển sản xuất gắn với tái cơ
cấu ngành nông nghiệp, nâng cao thu nhập cho người dân, xử lý rác thải môi
trường... để thực hiện thành công nông thôn mới trên toàn huyện?
Trong tiến trình thực hiện xây dựng NTM ở các địa phương vẫn còn tồn
tại nhiều vấn đề dẫn đến một số tiêu chí rất khó đạt được trong khi nguồn lực
đầu tư từ nhà nước rất hạn chế, chưa thu hút được sự tham gia của người dân
và toàn xã hội. Xuất phát từ nhu cầu thực tế của huyện và để có thể giúp
huyện sớm giải quyết được những khó khăn trong việc thực hiện chương
trình xây dựng nông thôn mới, tôi chọn đề tài luận văn tốt nghiệp là: “Một
số giải pháp đẩy nhanh quá trình thực hiện chương trình xây dựng nông
thôn mới trên địa bàn huyện Lương Sơn – tỉnh Hòa Bình”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu tổng quát:
Trên cơ sở nghiên cứu, đánh giá thực trạng về kết quả tổ chức thực hiện
chương trình xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011-2015, chỉ ra những
nhân tố ảnh hưởng và đề xuất các giải pháp đẩy nhanh quá trình xây dựng

khung phân tích của đề tài nghiên cứu);


5

- Thực trạng về kết quả xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011 – 2015
tại huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình;
- Các nhân tố chính ảnh hưởng đến kết quả xây dựng nông thôn mới giai
đoạn 2011-2015 tại huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình;
- Phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức của huyện Lương
Sơn trong quá trình xây dựng nông thôn mới;
- Các giải pháp đề xuất nhằm đẩy nhanh chương trình xây dựng nông
thôn mới tại huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình giai đoạn 2016-2020.
5. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần đặt vấn đề và kết luận, kiến nghị, luận văn bao gồm 3
chương chính:
Chương I: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn về nông thôn mới
Chương II: Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu
Chương III: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
.


6

Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NÔNG THÔN MỚI
1.1. Cơ sở lý luận về xây dựng nông thôn mới
1.1.1. Các khái niêm liên quan
1.1.1.1. Nông thôn
Khái niệm “nông thôn” thường đồng nghĩa với làng, xóm, thôn…Trong

căn bản giữa nông thôn và đô thị được phản ánh rõ nét trong những nguyên lý
của xã hội học nông thôn – đô thị. Trong đó những tiêu chí quan trọng giúp
cho việc phân biệt khu vực nông thôn và khu vực đô thị bao gồm: sự khác
nhau về nghề nghiêp, về môi trường, quy mô cộng đồng, mật độ dân số, tính
hỗn tạp và thuần nhất của dân số, hướng di cư, sự khác biệt xã hội và phân
tầng xã hội, hệ thống tương tác trong từng vùng [13]
Nông thôn là vùng khác với thành thị ở chỗ ở đó cộng đồng chủ yếu là
nông dân sinh sống và làm việc, có mật độ dân cư thấp, có cơ cấu hạ tầng
kém phát triển hơn, có trình độ tiếp cận thị trường và sản xuất hàng hóa thấp
hơn. [11]
Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố,
thị xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là Ủy ban nhân dân xã.
[6]
Như vậy, khái niệm về nông thôn chỉ có tính chất tương đối, thay đổi
theo thời gian và theo tiến trình phát triển kinh tế, xã hội của các quốc gia trên
thế giới. Trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam, nhìn nhận dưới góc độ quản
lý, có thể hiểu nông thôn là vùng sinh sống của tập hợp cư dân, trong đó có
nhiều nông dân với sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn. Sự khác biệt về
công tác quản lý giữa nông thôn và thành thị trên thực tế, nông thôn với cấp
quản lý xã, thôn, bản; còn thành thị với cấp quản lý phường, thị trấn.


8

1.1.1.2. Nông thôn mới
Trong Nghị quyết số 26-NQ/TW Hội nghị lần thứ 7, Ban Chấp hành
Trung ương Đảng Khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đã đưa ra
mục tiêu: “Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện
đại, cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp
với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch, xã hội nông

lai [12]
Để phát triển bền vững nông thôn, phải đồng thời các giải pháp về kinh
tế, xã hội và môi trường. Về kinh tế cần tập trung đầu tư cho phát triển kết cấu
hạ tầng nông thôn, kiến trúc nông thôn, cung cấp thông tin, áp dụng công
nghệ để tăng cao sức cạnh tranh của sản phẩm nông thôn. Về xã hội, phải phát
triển tổ chức xã hội theo hướng tăng cao vai trò và sự tham gia của cư dân
nông thôn. Cần chấp nhận nền kinh tế nông thôn có hộ nông dân, trang trại và
các doanh nghiệp phát triển ở các mức độ khác nhau, thậm chí cả nông dân
không đất. Tôn trọng và tạo điều kiện cho thị trường sức lao động, thị trường
đất đai và thị trường khoa học công nghệ phát triển. Về môi trường, cần bảo
tồn tài nguyên đất, nước và sinh vật, thực hiện quản lý tốt môi trường nông
thôn [5]
b. Xây dựng nông thôn mới
Xây dựng nông thôn mới là chương trình mục tiêu Quốc gia, được triển
khai trên địa bàn cấp xã trong phạm vi cả nước, nhằm phát triển nông thôn
toàn diện theo hướng hiện đại [6]
Chương trình xây dựng nông thôn mới với mục tiêu: Nông nghiệp phát
triển theo hướng toàn diện theo hướng hiện đại; Người nông dân có đời sống
vật chất, tinh thần ngày càng được nâng cao và nông thôn có hạ tầng kinh tế
xã hội hiện đại. Ba nội dung này có quan hệ trực tiếp và mật thiết: (1) Hạ tầng
kinh tế - xã hội hiện đại là cơ sở để phát triển kinh tế, góp phần nâng cao đời
sống tinh thần cho người dân; (2) Nông nghiệp phát triển góp phần tạo việc


10

làm, nâng cao thu nhập cho người dân; (3) Nông dân chính là chủ thể và có
vai trò chính thực hiện 2 nội dung trên. Như vậy, xây dựng nông thôn mới là
đầu tư và tạo nền tảng để phát triển ”tam nông” bền vững. Nội dung của
Chương trình được cụ thể 19 tiêu chí với các nội dung: (1) Quy hoạch, hạ

1.1.2.1. Một số đặc trưng của mô hình nông thôn mới
- Đơn vị cơ bản của mô hình nông thôn mới là làng - xã. Làng - xã là
một cộng đồng, trong đó quản lý của Nhà nước và tự quản của nông dân được
kết hợp hài hòa, các giá trị truyền thống của làng - xã được phát huy tối đa,
tạo ra bầu không khí tâm lý xã hội tích cực, bảo đảm trạng thái cân bằng trong
đời sống kinh tế - xã hội ở nông thôn, giữ vững an ninh trật tự xã hội… nhằm
hình thành môi trường thuận lợi cho sự phát triển kinh tế nông thôn.
- Đáp ứng yêu cầu thị trường hóa, đô thị hóa, công nghiệp hóa, hiện đại
hóa, chuẩn bị những điều kiện vật chất và tinh thần giúp nông dân yên tâm
làm ăn sinh sống và ngày một thịnh vượng hơn trên chính nơi họ đã gắn bó
lâu đời.
- Có tăng trưởng kinh tế cao và bền vững, môi trường sinh thái được giữ
gìn, tiềm năng du lịch được khai thác, làng nghề truyền thống, làng nghề tiểu
thủ công nghiệp được khôi phục, ứng dụng khoa học công nghệ cao trong
quản lý cũng như sản xuất….
- Các chủ thể nông thôn (lao động nông thôn, chủ trang trại, hộ nông
dân, các tổ chức phi chính phủ…) có khả năng, điều kiện và trình độ để tham
gia tích cực vào các quá trình ra quyết định về chính sách phát triển nông
thôn… Người nông dân thực sự được tự do và quyết định trên luống cày và
thửa ruộng của mình, lựa chọn phương án sản xuất kinh doanh làm giàu cho
mình, cho quê hương theo đúng chủ trương, đường lối của Đảng và chính
sách, pháp luật của Nhà nước.
- Nông dân, nông thôn có văn hóa phát triển, dân trí được nâng lên, sức
lao động được giải phóng. Người nông dân có cuộc sống ổn định, giàu có,


12

trình độ văn hóa, khoa học kỹ thuật và tay nghề cao, lối sống văn minh hiện
đại nhưng vẫn giữ được những giá trị văn hóa, bản sắc truyền thống dân tộc…

cộng như: trường học, thủy lợi, điện, nhà văn hóa, chợ, trạm y tế… chưa đảm
bảo để phục vụ đời sống sinh hoạt cũng như sản xuất của người dân. Do đó,
cần nhanh chóng hoàn thiện cơ sở hạ tầng từng bước hiện đại nhưng vẫn giữ
gìn được phong cách truyền thống và phải phù hợp với thực trạng của từng địa
phương.
Bao gồm các tiêu chí về:
Giao thông: Hoàn thiện đường xã, trục thôn đường ngõ xóm sạch không lầy
lội vào mùa mưa và xây dựng đường trục chính nội đồng phần lớn được cứng hóa,
xe cơ giới đi lại thuận tiện.
Điện nông thôn: Hoàn thiện hệ thống các công trình đảm bảo cung cấp điện
phục vụ sinh hoạt và sản xuất trên địa bàn.
Cơ sở vật chất văn hóa: Hoàn thiện hệ thống các công trình phục vụ nhu cầu
về hoạt động văn hóa thể thao trên địa bàn.
Trường học: Hoàn thiện trường mầm non, tiểu học và trung học cơ sở có cơ
sở vật chất đạt chuẩn quốc gia.
Chợ nông thôn: Xây dựng, hoàn thiện chợ nông thôn đạt chuẩn của Bộ xây dựng.
Bưu điện: Xây dựng điểm phục vụ bưu chính viễn thông đảm bảo cung cấp
dịch vụ Internet đến các thôn bản.
Thủy lợi: Cải tạo, xây mới xây mới hệ thống thủy lợi trên địa bàn, xây dựng
đê hoặc bờ bao chống lũ, hoàn thiện các công trình tưới tiêu và kiên cố hóa kênh
mương.
Hoàn chỉnh trụ sở xã: Trụ sở xã xây dựng ở nơi trung tâm, thuận tiện đối nội,
đối ngoại.
Nhà ở dân cư: Chỉnh trang các khu dân cư hiện có, xóa nhà tạm, dột nát, xây
dựng, hoàn thành nhà ở nông thôn đạt tiêu chuẩn của Bộ xây dựng.
Yêu cầu: đạt các tiêu chí 2,3,4,5,6,7,8,9 trong BTCQG nông thôn mới.


14


- Phát triển kinh tế hộ, trang trại, hợp tác xã.
- Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ.
- Thúc đẩy liên kết kinh tế giữa các loại hình kinh tế ở nông thôn.
d. Phát triển Văn hoá - Xã hội - Môi trường
Bên cạnh việc đảm bảo đời sống vật chất thì đời sống tinh thần của
người dân cũng phải được quan tâm vì có như vậy thì mới xây dựng được
NTM bền vững. Nội dung này bao gồm: Coi trọng công tác giáo dục nhằm
tạo tiền đề cho việc nâng cao chất lượng lao động, thực hiện an sinh xã hội:
giảm tỷ lệ hộ nghèo, phát triển y tế để chăm sóc sức khỏe cho dân cư nông
thôn. Xây dựng đời sống văn hóa, thông tin và truyền thông nông thôn, xây
dựng các công trình bảo vệ môi trường nông thôn trên địa bàn xã, thôn theo
quy hoạch, gồm: xây dựng, cải tạo nâng cấp hệ thống tiêu thoát nước trong
thôn, xóm; Xây dựng các điểm thu gom, xử lý rác thải ở các xã; Chỉnh trang,
cải tạo nghĩa trang; Cải tạo, xây dựng các ao, hồ sinh thái trong khu dân cư,
phát triển cây xanh ở các công trình công cộng….Cần đạt tiêu chí số
14,15,16,17 của BTCQG về nông thôn mới với các nội dung:
- Giáo dục: Tiếp tục thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về giáo dục
và đào tạo, duy trì phổ cập giáo dục, nâng cao tỷ lệ học sinh tốt nghiệp trung học
cơ sở tiếp tục học trung học phổ thông và đẩy mạnh đào tạo nghể.
- Y tế: Tiếp tục thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia về y tế, nâng cao
tỷ lệ người dân tham gia các hình thức bảo hiểm y tế.
- Về văn hóa. Phấn đấu các xã có thôn, bản đạt tiêu chuẩn “Làng văn hóa"
- Về môi trường: Thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về nước sạch và
vệ sinh môi trường nông thôn.
e. Củng cố và xây dựng hệ thống chính trị xã hội vững mạnh
Trong quá trình đô thị hóa sẽ xuất hiện nhiều ý kiến cũng như hành động
trái chiều, đi ngược lại quy định. Do đó, cần ban hành nội quy, quy ước làng


16


cộng đồng, thực hiện dân chủ cơ sở trong quá trình lập kế hoạch, tổ chức thực
hiện và giám sát, đánh giá.
- Xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn xã
hội; cấp uỷ đảng, chính quyền đóng vai trò chỉ đạo, điều hành quá trình xây dựng
quy hoạch, đề án, kế hoạch và tổ chức thực hiện. Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức
chính trị, xã hội vận động mọi tầng lớp nhân dân phát huy vai trò chủ thể trong
xây dựng nông thôn mới.
1.1.3. Các yếu tố ảnh hưởng tới đẩy nhanh xây dựng nông thôn mới
1.1.3.1. Chính sách của Đảng và Nhà nước
Vai trò lãnh đạo, định hướng của Đảng là kim chỉ nam để thực hiện thắng lợi
3 mục tiêu cốt yếu cho nông dân: trở thành lực lượng lao động tiên tiến, là lực
lượng chính trị vững mạnh và phát triển mạnh mẽ, có những thay đổi về chất.
Trước hết, Nhà nước phải có chính sách phát triển nông thôn toàn diện, không
phải chỉ tập trung vào nông nghiệp. Thứ hai, Nhà nước phải hỗ trợ việc tăng
cường năng lực cho các cộng đồng nông thôn để nông dân có thể tham gia vào
việc phát triển nông thôn, xây dựng các thể chế nông thôn dựa vào cộng đồng;
hợp tác xã và các tổ chức dân sự, nghề nghiệp của nông dân [14]
1.1.3.2. Trình độ phát triển kinh tế xã hội
Nước ta xây dựng nông thôn mới trong điều kiện trình độ phát triển kinh tế
còn thấp; chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh còn kém, quy mô sản xuất nhỏ
bé, nguồn lực còn hạn hẹp; mức thu nhập và tiêu dùng của dân cư thấp, chưa đủ
tạo sức bất mới đối với sản xuất và phát triển thị trường. Lĩnh vực xã hội tồn tại
nhiều vấn đề bức xúc. Cải cách hành chính tiến hành còn chậm. Những tồn tạo,
hạn chế này sẽ ảnh hưởng rất lớn đến quá trình và kết quả xây dựng nông thôn
mới. [6]


18


19

chức các phong trào thi đua nhằm huy động nhân lực, vật lực giải quyết các công
việc cụ thể; Thứ tư. Gương mẫu, trách nhiệm và đi đầu trong việc triển khai, thực
hiện và duy trì sử dụng các công trình, thành quả của công tác xây dựng nông thôn mới.
[15]
1.1.3.6. Thu hút đầu tư vào nông thôn
Các doanh nghiệp ít quan tâm đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn vì
đây là ngành sản xuất có nhiều rủi ro, đầu tư lớn mà hiệu quả thấp và mâu thuẫn
giữa các thị trường lớn trong khi sản xuất nhỏ. Nếu không giải quyết được các
mâu thuẫn này thì việc thu hút đầu tư nguồn lực vào nông nghiệp, nông thôn sẽ
không mang lại hiệu quả. [15]
1.2. Cơ sở thực tiễn
1.2.1. Kinh nghiệm phát triển nông thôn văn minh, hiện đại ở các quốc gia
trong khu vực và trên thế giới.
1.2.1.1. Kinh nghiệm của Hàn Quốc
Tại Hàn Quốc, nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực đến khu vực kinh tế
nông thôn khi thực hiện Kế hoạch 5 năm lần thứ I (1962-1966) và thứ II
(1966-1971) với chủ trương công nghiệp hóa hướng đến xuất khẩu, tháng 4
năm 1970, Chính phủ Hàn Quốc phát động phong trào làng mới (Saemaul
Undong). Mục tiêu của phong trào này là "nhằm biến đổi cộng đồng nông
thôn cũ thành cộng đồng nông thôn mới: mọi người làm việc và hợp tác với
nhau xây dựng cộng đồng mình ngày một đẹp hơn và giàu hơn. Cuối cùng là
để xây dựng một quốc gia ngày một giàu mạnh hơn". Để xây dựng thành công
nông thôn mới, Hàn Quốc đã áp dụng những giải pháp chính sau đây:
- Đoàn kết nhân nhân, khơi dậy tinh thần tự lực, tự cường trong nhân dân
để xây dựng nông thôn mới: Để đoàn kết, tập hợp nhân dân trong sự nghiệp
chung, phong trào Saemaul Undong đề cao ba phẩm chất chính, đó là “Sự cần
cù, tự lực và hợp tác”. Cần cù mang lại tính chân thật, không cho phép sự giả
tạo và thói kiêu căng ngạo mạn. Tính tự lực giúp cho con người tự quyết định

Đi kèm với việc phát triển hạ tầng và tăng cường các cơ sở đào tạo nghề


21

nông, đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật, các loại giống mới như nấm, cây thuốc
lá… vào sản xuất. Các làng xã và xí nghiệp đều được trang bị thư viện
Saemaul và các phương tiện vui chơi giải trí khác. Khi đất nước đã giàu có,
Chính phủ Hàn Quốc có thêm nhiều chính sách hỗ trợ đầu tư phát triển khoa
học công nghệ phục vụ nông nghiệp, thôn thôn như: thành lập các trung tâm
chuyên về nông nghiệp nhằm nghiên cứu và phát triển nông nghiệp, giúp
người nông dân tiếp cận nhanh nhất với các dịch vụ hỗ trợ kỹ thuật và
marketing.
Nhờ hiệu quả của phong trào Saemaul Undong mà Hàn Quốc từ một
nước nông nghiệp nghèo nàn, lạc hậu trở thành một quốc gia giàu có, hiện đại
bậc nhất châu Á.
1.2.1.2. Kinh nghiệm của Nhật Bản
Tại Nhật Bản, từ năm 1979, Tỉnh trưởng Oita-Tiến sĩ Morihiko
Hiramatsu đã khởi xướng và phát triển phong trào "Mỗi làng, một sản phẩm"
(One Village, one Product - OVOP) với mục tiêu phát triển vùng nông thôn
của khu vực này một cách tương xứng với sự phát triển chung của cả Nhật
Bản. Phong trào "mỗi làng một sản phẩm" dựa trên 3 nguyên tắc chính là: địa
phương hóa rồi hướng tới toàn cầu; Tự chủ, tự lập, nỗ lực sáng tạo; Phát triển
nguồn nhân lực. Trong đó, nhấn mạnh đến vai trò của chính quyền địa
phương trong việc hỗ trợ kỹ thuật, quảng bá, hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm được
xác định là thế mạnh. Sau 20 năm áp dụng phong trào OVOP, Nhật Bản đã có
329 sản phẩm đặc sản địa phương có giá trị thương mại cao như nấm hương
Shitake, rượu Shochu lúa mạch, cam Kabosu,... giúp nâng cao thu nhập của
nông dân địa phương. [7]
1.2.1.3. Kinh nghiệm của Thái Lan về phát triển nông thôn.

nghiệp thu lợi qua lợi nhuân, nông dân thu lợi qua lợi nhuận và trừ dần các
khoản đầu tư về thiết bị dài hạn. Sau 5-7 năm, các thiết bị nhà xưởng, máy
móc đã đầu tư cho nông hộ sẽ do nông dân sở hữu hoàn toàn.


23

Như vậy, nông hộ không bị nép vế như là người vay lãi ngân hàng hay
mang nợ doanh nghiệp. Do đó, cũng không xảy ra tình trạng phải phạt nông
dân khi họ không tôn trọng hợp đồng như có thể thấy ở nơi khác. Kết quả
cuối cùng là Thái Lan có được một hệ thống các vùng kinh tế nông nghiệp
chuyên môn hóa có quy mô hợp lý. Lúc đầu, Thái Lan làm mô hình này trong
chăn nuôi, sau phát triển sang các mặt hàng khác như gạo, thủy sản và đặc
biệt là hoa quả nhiệt đới, hiện đang đứng đầu thế giới. Đến năm 1989, Thái
Lan đã có 14 loại nông sản phẩm xuất khẩu trên thế giới thực hiện chủ yếu
vào sự liên kết này [7]
Những đánh giá cũng như kinh nghiệm của các nước là bài học rất bổ ích
mà chúng ta có thể tiếp thu để thực hiện một cách đúng đắn, có kế hoạch và
xác thực hơn trong quá trình xây dựng nông thôn mới trong giai đoạn sắp tới.
1.2.2. Kinh nghiệm triển khai thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn
mới của các địa phương trong nước.
Tại Hội nghị sơ kết chương trình xây dựng thí điểm mô hình nông thôn
mới ngày 16/7/2011 tại Hà Nội thì tất cả 11 xã thí điểm mô hình NTM đã
hoàn thành công tác quy hoạch chung, các công trình hạ tầng xây dựng mới
hoặc nâng cấp cơ bản đều dựa theo quy hoạch được duyệt, 902/1.188 công
trình hạ tầng theo kế hoạch đã được hoàn thành, hai xã Thụy Hương (TP Hà
Nội) và Tân Thông Hội (TP Hồ Chí Minh) đã cơ bản đạt tiêu chí hạ tầng (đạt
98%), 8 xã khác đạt từ 75 đến 80%, một xã đạt 68%. Trong hai năm qua, trên
địa bàn 11 xã điểm đã xây dựng 200 mô hình, dự án sản xuất nông nghiệp,
tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ. Các dự án sản xuất đều có ứng dụng tiến bộ

toàn, khu chăn nuôi tập trung, xa khu dân cư đã và đang được triển khai…
Đến thời điểm này, có thể nói, ngoài xã Thụy Hương, tại 18 xã Hà Nội
chọn để xây dựng mô hình điểm NTM của thành phố và các huyện, thị xã như
Song Phượng (Đan Phượng), Đại Áng (Thanh Trì), Mai Đình (Sóc Sơn ) hay
Cổ Đô (Ba Vì)... các nội dung cụ thể cũng đều được khẩn trương tổ chức thực


25

hiện từng bước theo đề án mà Ủy ban nhân dân thành phố phê duyệt.
(2) Xã Hải Đường (Nam Định): Cách Hà Nội hơn 150 km, Hải Đường là
xã thuần nông của Tỉnh Nam Định với hơn 13.000 dân và có hơn 1.000 ha đất
tự nhiên. Tại thời điểm bắt đầu thực hiện mô hình nông thôn mới (tháng
6/2009), thu nhập bình quân/người của xã chỉ đạt 7,5 triệu đồng/người/năm.
Chỉ sau hơn 1 năm thực hiện mô hình, thu nhập bình quân/người năm 2010
của xã đã tăng lên mức 11 triệu đồng/người (tăng 46%). Có được sự thay đổi
ấy là cả quá trình phấn đấu, nỗ lực triển khai không mệt mỏi của Đảng bộ,
chính quyền và nhân dân xã Hải Đường: Ngay sau khi được chọn làm xã
điểm, chính quyền xã đã nhanh chóng thành lập ban quản lý xây dựng chương
trình nông thôn mới gồm 11 người do Chủ tịch xã làm Trưởng ban. Xã đã tiến
hành nhiều buổi họp dân và tổ chức các buổi thảo luận đến từng thôn, xóm.
Tại các buổi họp, người dân trình bày tâm tư nguyện vọng và những trăn trở
của mình. Sau đó, ban quản lý tổng hợp ý kiến người dân để xây dựng dự án.
Xác định khó khăn của mình là xã thuần nông, chủ yếu sản xuất nông nghiệp,
không nghề phụ, không nghề truyền thống. Muốn tăng thu nhập cho người
dân, xã Hải Đường đã chú trọng đầu tư đào tạo nghề cho người lao động. Xã
đã liên hệ, phối hợp với các đơn vị chức năng khai giảng 14 lớp học nghề, thu
hút 640 người tham gia. Trong đó, có 10 lớp hoàn thiện chương trình đào tạo
nghề theo Quyết định 1956/QĐ-TTg của Chính phủ; 4 lớp khuyến công,
khuyến nông. Đào tạo cho người dân những nghề phù hợp với điều kiện của


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status