MỤC LỤC
Lời cam đoan
1
Lời cảm ơn
iii
Mục lục
iv
Danh mục chữ viết tắt
vii
Danh mục bảng
viii
Danh mục hình
ix
Danh mục hộp
x
PHẦN I MỞ ĐẦU
3
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
4
PHẦN II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ SỰ THAM GIA CỦA CỘNG
ĐỒNG HƯỞNG LỢI TRONG CHƯƠNG TRÌNH XÂY DỰNG
2.1
NÔNG THÔN MỚI
5
Cơ sở lý luận
5
2.1.1 Một số khái niệm
5
2.1.2 Vai trò sự tham gia của cộng đồng hưởng lợi trong Chương trình xây
dựng NTM
10
2.1.3 Nội dung nghiên cứu sự tham gia của cộng đồng hưởng lợi trong
Chương trình xây dựng NTM
PHẦN III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1
Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
28
28
3.1.1 Đặc điểm về điều kiện tự nhiên
28
3.1.2 Đặc điểm về kinh tế - xã hội
31
3.2
35
Phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu
35
3.2.2 Phương pháp thu thập thông tin
37
4.1.4 Sự tham gia của cộng đồng cấp thôn/bản
55
4.2
Các yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến sự tham gia của cộng đồng hưởng lợi
trong Chương trình xây dựng NTM trên địa bàn huyện Nho Quan
81
4.2.1 Đặc điểm của cộng đồng
81
4.2.2 Thực hiện quy chế dân chủ tại địa phương
84
4.2.3 Công tác thông tin, tuyên truyền của địa phương
85
4.2.4 Năng lực, trình độ của cán bộ cấp cơ sở
86
4.2.5 Cơ chế, chính sách xây dựng NTM tại địa phương
98
PHỤ LỤC
100
vi
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BGS
: Ban Giám sát
BPT
: Ban Phát triển
BQL
: Ban quản lý
CNH – HĐH
: Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa
CSHT
: Cơ sở hạ tầng
: Nông thôn mới
SL
: Số lượng
UBND
: Ủy Ban nhân dân
vii
DANH MỤC BẢNG
Số bảng
Tên bảng
Trang
3.1
Tình hình cơ sở vật chất kỹ thuật huyện Nho Quan
33
3.2
Danh mục, nguồn cung cấp và phương pháp thu thập các thông tin
57
4.5
Sự tham gia đóng góp ý kiến của cộng đồng thôn/bản trong cuộc họp
59
4.6
Sự tham gia của cộng đồng trong việc ra quyết định
60
4.7
Cộng đồng tham gia đóng góp nguồn lực xây dựng NTM
63
4.8
Cộng đồng người dân tham gia tập huấn kỹ thuật
70
4.9
Đóng góp nguồn lực để cải thiện điều kiện ở của cộng đồng
Đánh giá mức độ hợp lý trong việc huy động nguồn lực xây dựng
NTM tại 3 cộng đồng điều tra
79
4.15
Trình độ văn hóa và điều kiện kinh tế hộ tại 3 cộng đồng thôn điều tra 81
4.16
Đánh giá tinh thần đoàn kết và tổ chức cộng đồng cấp thôn/bản
83
4.17
Đánh giá việc thực hiện quy chế dân chủ tại địa phương
84
4.18
Các hình thức tuyên truyền trong Chương trình xây dựng NTM
86
4.19
31
4.1
Tham gia mô hình phát triển sản xuất
67
4.2
Cơ cấu trình độ chuyên môn của BQL NTM cấp xã
87
4.3
Cơ cấu trình độ chuyên môn của BPT thôn
88
ix
DANH MỤC HỘP
Số hộp
Tên hộp
Trang
4.6
Nhà nước là chủ, chúng tôi chỉ là phụ
55
4.7
Người dân xã Lạng Phong tham gia các cuộc họp
57
4.8
Người dân xã Phú Long tham gia xây dựng NTM
58
4.9
Trưởng BPT thôn vận động người dân hiến đất làm đường
66
4.10
Tiếp tục mở rộng diện tích trồng cây vụ đông
68
thiện một cách bền vững về kinh tế, xã hội, văn hóa và môi trường (Trung tâm
thông tin và dự báo kinh tế - xã hội quốc gia, 2010).
Nhận thức được vấn đề này, đặc biệt đứng trước xu thế hội nhập kinh tế
quốc tế ngày càng sâu rộng, Đảng và Nhà nước ta đã đề ra nhiều chủ trương
chính sách nhằm đẩy nhanh quá trình phát triển nông nghiệp, nông thôn. Trong
đó, Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 05/8/2008 Hội nghị lần thứ bẩy Ban Chấp
hành Trương ương Đảng (khoá X) về “Nông nghiệp, Nông dân, Nông thôn” đã
tạo một bước đột phá về việc chỉ ra đường lối, quan điểm, nhiệm vụ và các giải
pháp lớn về CNH - HĐH nông nghiệp, nông thôn đến năm 2020. Thực hiện chủ
trương của Đảng, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 24/2008/NQ-CP, ngày
28/10/2008, xác định “Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn
mới”, và Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định số 800/QĐ-TTg, ngày 4/6/2010
phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn
2010 - 2020.
Đây là cuộc vận động lớn để các cộng đồng ở khu vực nông thôn đồng
lòng xây dựng thôn, xã, gia đình của mình khang trang, sạch đẹp; phát triển sản xuất
toàn diện (nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ); có nếp sống văn hoá, môi trường và
an ninh nông thôn được đảm bảo; thu nhập, đời sống vật chất, tinh thần của người
dân được nâng cao; giúp cho họ có niềm tin, trở nên tích cực, chăm chỉ, đoàn kết
giúp đỡ nhau xây dựng nông thôn phát triển giàu đẹp, dân chủ, văn minh.
1
Nho Quan là một huyện miền núi của tỉnh Ninh Bình, có diện tích tự
nhiên 457,2 km2 (bằng 1/3 diện tích của tỉnh Ninh Bình) có 26 xã và 01 thị trấn,
với 286 thôn, bản, tổ dân phố, trong đó có 32 thôn, bản đặc biệt khó khăn, mật độ
dân số trung bình 327 người/km2(UBND huyện Nho Quan, 2014). Trong những
năm qua, mặc dù cơ sở hạ tầng đã được đầu tư, nâng cấp nhưng vẫn còn thiếu, có
dấu hiệu xuống cấp và chưa đồng bộ; các yếu tố phát triển kinh tế khu vực nông
thôn chưa được phát huy dẫn đến đời sống vật chất, tinh thần của người dân chưa
tham gia của cộng đồng hưởng lợi trong Chương trình xây dựng nông thôn
mới trên địa bàn huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình” để tìm hiểu thực trạng các
nhóm cộng đồng hưởng lợi đã tham gia như thế nào trong Chương trình xây
dựng NTM trên địa bàn huyện? Các yếu tố nào ảnh hưởng tới sự tham gia? Và từ
đó đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường sự tham gia của các nhóm cộng đồng
hưởng lợi trong Chương trình xây dựng NTM trên địa bàn huyện Nho Quan, tỉnh
Ninh Bình.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở đánh giá thực trạng sự tham gia của cộng đồng hưởng lợi trong
Chương trình xây dựng NTM, từ đó đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm tăng
cường sự tham gia của các nhóm cộng đồng hưởng lợi trên địa bàn huyện Nho
Quan, tỉnh Ninh Bình.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về sự tham gia của
cộng đồng hưởng lợi trong Chương trình xây dựng NTM.
- Đánh giá thực trạng và phân tích một số yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến sự
tham gia của cộng đồng hưởng lợi trong Chương trình xây dựng NTM trên địa
bàn huyện Nho Quan trong thời gian qua.
- Đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường sự tham gia của các
nhóm cộng đồng hưởng lợi trong Chương trình xây dựng NTM trên địa bàn
huyện Nho Quan trong thời gian tới.
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là nghiên cứu sự tham gia của các
nhóm cộng đồng hưởng lợi trong Chương trình xây dựng NTM trên địa bàn
huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình.
3
được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất tinh thần của người
dân ngày càng được nâng cao; theo định hướng xã hội chủ nghĩa (Đảng cộng sản
Việt Nam, 2008).
Với tinh thần đó, NTM có năm nội dung cơ bản. Thứ nhất là nông thôn có
làng xã văn minh, sạch đẹp, hạ tầng hiện đại. Hai là sản xuất bền vững, theo
hướng hàng hóa. Ba là đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng
được nâng cao. Bốn là bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn và phát triển. Năm
là xã hội nông thôn được quản lý tốt và dân chủ.
Để xây dựng NTM với năm nội dung đó, ngày 16/04/2009, Thủ tướng
Chính phủ đã ký Quyết định số 491/QĐ-TTg, ban hành Bộ tiêu chí Quốc gia về
NTM bao gồm 19 tiêu chí và được chia thành 5 nhóm cụ thể. Bộ tiêu chí là căn
cứ để xây dựng nội dung Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng NTM; chỉ
đạo thí điểm xây dựng mô hình NTM trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa,
hiện đại hóa; kiểm tra, đánh giá, công nhận xã, huyện, tỉnh đạt NTM.
Theo đó, các tiêu chí được chia thành 5 nhóm: Nhóm tiêu chí về quy hoạch;
hạ tầng KT - XH; kinh tế và tổ chức sản xuất; văn hóa - xã hội - môi trường và hệ
thống chính trị. 19 tiêu chí bao gồm: Quy hoạch và thực hiện quy hoạch, giao thông,
thủy lợi, điện, trường học, cơ sở vật chất văn hóa, chợ nông thôn, bưu điện, nhà ở
5
dân cư, thu nhập bình quân đầu người/năm, tỷ lệ hộ nghèo, cơ cấu lao động, hình
thức tổ chức sản xuất, giáo dục, y tế, văn hóa, môi trường, hệ thống tổ chức chính trị
xã hội vững mạnh và an ninh, trật tự xã hội.
Trong đó, Bộ tiêu chí đưa ra chỉ tiêu chung cho cả nước và các chỉ tiêu cụ
thể theo từng vùng: Trung du miền núi phía Bắc, Đồng bằng sông Hồng, Bắc
Trung Bộ, Duyên hải Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Đồng bằng
sông Cửu Long.
Mỗi tiêu chí trong 19 tiêu chí đều được quy định mức chỉ tiêu cụ thể đối
với từng xã trong từng vùng để được công nhận là xã NTM. Và một huyện được
Sự tham gia của cộng đồng hưởng lợi trong xây dựng NTM được đánh
giá là một trong những yếu tố cơ bản, là chìa khóa vàng để huy động nguồn lực,
phát huy nội lực nhằm đạt được mục tiêu đề ra.
2.1.1.2 Cộng đồng hưởng lợi
Cho đến nay đã có rất nhiều nghiên cứu về cộng đồng trên thế giới theo
các cách tiếp cận khác nhau đưa ra những khái niệm khác nhau. Từ điển Bách
khoa Wikipedia cho biết đến giữa thập niên 50 của thế kỷ trước đã có 94 định
nghĩa khác nhau về cộng đồng đã được đưa ra (Phạm Hồng Tung, 2009). Cụ thể:
Người đặt nền móng đầu tiên cho các lý thuyết xã hội về cộng đồng là nhà
xã hội học người Đức Ferdinand Toennies. Trong cuốn “cộng đồng và hiệp hội”
(Gemainschaft und Gesellschaft) Toennies cho rằng cộng đồng là một thực thể xã
hội có độ gắn kết và bền vững hơn hiệp hội, được đặc trưng bởi sự đồng thuận về
ý chí của các thành viên trong cộng đồng (Toennies, 1887). Định nghĩa này cho
thấy cộng đồng bản chất là một nhóm xã hội trong đó các thành viên gắn kết chặt
chẽ với nhau và cùng có chung một ý chí. Tính xã hội của cộng đồng được thể
hiện ở khía cạnh các thành viên trong cộng đồng có mối liên hệ xã hội với nhau
(hàng xóm láng giềng, họ tộc (Phan Vũ Tuyết Mai, 2012).
Theo Gustav A. Lundquist và Thomas Nixon Carver (1927) cộng đồng là
một nhóm người sống cùng một nơi và làm việc cùng nhau để đạt được mục tiêu
chung. Nơi cộng đồng sinh sống là một khu vực xác định, có ranh giới, đủ gần để
các thành viên trong cộng đồng có thể giao tiếp và phối hợp làm việc với nhau dễ
dàng để đạt được mục tiêu chung. Việc theo đuổi cùng một mục tiêu chung làm
cho các thành viên trong cộng gắn bó với nhau (Phan Vũ Tuyết Mai, 2012).
7
Cộng đồng một đơn vị quần cư nhỏ, là cấu trúc xã hội đồng nhất, có
chung một mục đích và quy tắc (Arunagrawal và Clack C. Gibson (1999). Cộng
đồng thường có quy mô nhỏ cả về dân số lẫn không gian sống. Cộng đồng
thường trong phạm vi một làng, sự gần gũi như vậy làm cho mọi người gắn bó
có thể bao gồm cả những người giàu, người nghèo từ các giai tầng xã hội khác
nhau, có trình độ kiến thức và nhu cầu cụ thể khác nhau, nhưng có cùng mối
quan tâm và lợi ích chung. Mặt khác, một cá nhân có thể đồng thời thuộc về vài
cộng đồng tại cùng một thời điểm do bản thân họ có nhiều mối quan tâm, nhiều sở
thích và chia sẻ lợi ích với nhiều nhóm người khác nhau; trong một cộng đồng số
thành viên thường có xu hướng biến đổi. Cộng đồng nông thôn gắn kết với nhau
trên cơ sở tình làng nghĩa xóm truyền thống và quan hệ trong nội bộ dòng tộc.
Cộng đồng hưởng lợi được hiểu là một cộng đồng, mà những người trong
cộng đồng đó là đối tượng được hưởng lợi từ một Chương trình hay một dự án
nào đó trong một phạm vi thời gian và không gian nhất định.
Đối tượng hưởng lợi là những người được dự án tác động đến khi triển
khai. Đối tượng này có thể là gián tiếp hoặc trực tiếp và thay đổi theo từng dự án:
Có thể là nhóm người trong xã hội hay cộng đồng.
2.1.1.3 Sự tham gia của cộng đồng hưởng lợi trong Chương trình xây dựng NTM
Tham gia - Participation được dịch thành 2 từ tham dự và tham gia. Trong
đó, tham dự là tham gia ở mức thấp còn tham gia là tham dự ở mức cao. Và
phương pháp luận tham gia là phương pháp luận đi từ dưới lên tức là đi từ người
dân và trở thành khoa học (Tô Duy Hợp và Lương Hồng Quang, 2000).
Hai tác giả Cohen và Uphoff (1979) cho rằng: “liên quan đến phát triển
nông thôn, sự tham gia bao gồm sự liên quan của người dân vào quá trình ra
quyết định, vào việc thực hiện các chương trình, sự chia sẻ lợi ích có được từ
chương trình phát triển; và/hoặc các cố gắng để đánh giá những chương trình như
vậy” (Bùi Minh Tân,2013).
Theo Clanrence Shubert, “Sự tham gia của cộng đồng” là quá trình trong
đó các nhóm dân cư của cộng đồng tác động vào quá trình quy hoạch, thực hiện,
quản lý sử dụng hoặc duy trì một dịch vụ, trang thiết bị hay phạm vi hoạt động.
Các hoạt động cá nhân không có tổ chức sẽ không được coi là sự tham gia của
cộng đồng (Bùi Minh Tân,2013).
9
NTM tại địa phương. Cộng đồng hưởng lợi trên địa bàn là đối tượng quản lý trực
tiếp các nguồn tài nguyên như đất đai, nhà xưởng, sản phẩm địa phương,… mà
10
quá trình phát triển phải dựa vào đó. Ngoài ra, kỹ năng, yếu tố truyền thống, kiến
thức và năng lực của họ chính là tiềm năng chính để phát triển. Trong điều kiện
nguồn lực hỗ trợ của Nhà nước cho phát triển khu vực nông thôn còn hạn chế, thì
sự đóng góp của các nhóm cộng đồng là vô cùng cần thiết, giảm bớt gánh nặng
cho ngân sách nhà nước (Bùi Minh Tân,2013); (Nguyễn Văn Hiệu, 2011).
Thứ hai, do được tham gia vào các hoạt động xây dựng NTM nên sẽ khơi
dậy niềm tin của các cộng đồng hưởng lợi. Nó sẽ có tác động trong việc đổi
mới tư duy và nâng cao năng lực của người dân và các cộng đồng địa phương,
từ đó tạo ra động lực để họ có thể đứng ra làm chủ việc phát triển kinh tế, xã
hội và môi trường trên địa bàn. Đồng thời, nó giúp phát huy được tính của cộng
đồng trong việc đoàn kết, chung tay góp sức thực hiện các nội dung. Từ đó, các
hoạt động trong Chương trình được thực hiện dễ dàng, hiệu quả và có tính bền
vững cao (Bùi Minh Tân,2013);(Nguyễn Văn Hiệu, 2011).
Thứ ba, khi có sự tham gia, nó sẽ gắn trách nhiệm của cộng đồng với các
hoạt động mà họ tham gia. Và vì thế người dân và cán bộ cơ sở sẽ có trách nhiệm
và nhiệt tình hơn. Họ sẽ làm chủ được các hoạt động phát triển. Đồng thời, người
dân có điều kiện giám sát việc thực hiện, giảm thiểu việc sử dụng sai mục đích ở
các cấp khác nhau (Bùi Minh Tân,2013);(Nguyễn Văn Hiệu, 2011).
2.1.3 Nội dung nghiên cứu sự tham gia của cộng đồng hưởng lợi trong
Chương trình xây dựng NTM
2.1.3.1 Các tiêu chí đánh giá sự tham gia của cộng đồng hưởng lợi
Sự tham gia của cộng đồng hưởng lợi vào Chương trình xây dựng NTM
được coi như nhân tố quan trọng, quyết định sự thành bại của việc áp dụng phương
pháp tiếp cận phát triển dựa vào nội lực và do cộng đồng làm chủ trong xây dựng
NTM. Do vậy trong quá trình xây dựng NTM cần quan tâm đến công tác huy động
đồng trong các hoạt động xây dựng NTM ở địa phương. Người dân không chỉ
đóng góp mà họ còn trực tiếp tham gia lao động thi công công trình như xây
dựng đường giao thông nông thôn, quản lý và duy tu bảo dưỡng; tham gia tiến
hành triển khai các mô hình sản xuất kinh doanh,...(Nguyễn Văn Hiệu, 2011).
- Dân kiểm tra: Cộng đồng tham gia kiểm tra, giám sát mọi hoạt động,
mọi quá trình triển khai Chương trình thể hiện quy chế dân chủ ở nông thôn.
Ở những công trình có nhiều bên tham gia, sự kiểm tra, giám sát của cộng
đồng hưởng lợi có tác động tích cực trực tiếp đến chất lượng công trình và
12
tính minh bạch trong việc sử dụng các nguồn lực của Nhà nước và của người
dân vào xây dựng, quản lý và vận hành công trình. Việc kiểm tra có thể được
tiến hành ở tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư trên các khía cạnh kỹ
thuật cũng như tài chính (Nguyễn Văn Hiệu, 2011).
- Dân quản lý: Đó là các thành quả của các hoạt động mà người dân đã
tham gia; các công trình sau khi xây dựng xong cần được quản lý trực tiếp của
một tổ chức do nông dân hưởng lợi lập ra để tránh tình trạng không rõ ràng về
chủ sở hữu công trình. Việc tổ chức của người dân tham gia duy tu, bảo dưỡng
công trình nhằm nâng cao tuổi thọ và phát huy tối đa hiệu quả trong việc sử dụng
công trình (Nguyễn Văn Hiệu, 2011).
Cuối cùng, cộng đồng dân cư là những người được hưởng lợi trực tiếp từ
các hoạt động của Chương trình mang lại như năng suất cây trồng tăng lên do
thực hiện thâm canh, tăng vụ, áp dụng các giống mới, các kỹ thuật tiên tiến,
phòng trừ dịch bệnh, từ đó đời sống vật chất của người dân cũng dần được cải
thiện do tăng thu nhập; đời sống văn hóa tinh thần cũng không ngừng tăng lên do
được đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị phục vụ cho hoạt động này.
2.1.3.2 Nội dung sự tham gia của cộng đồng hưởng lợi
Dựa trên các tiêu chí đánh giá sự tham gia của cộng đồng hưởng lợi trong
Chương trình xây dựng NTM, nghiên cứu sự tham gia của cộng đồng bao gồm
vật tư tại chỗ, trí tuệ, công lao động,… Việc người dân đóng góp cho các hoạt
động xây dựng NTM dựa trên tinh thần tự nguyện. Việc triển khai cũng như yêu
cầu đối với việc huy động khả năng góp vốn, góp sức của dân đều được lấy ý
kiến trực tiếp từ các hộ gia đình. Đóng góp ở mức độ nào phụ thuộc vào khả
năng kinh tế và điều kiện của từng cộng đồng.
- Ngoài việc góp vốn, cộng đồng hưởng lợi còn trực tiếp bỏ công, bỏ sức
lao động trực tiếp tham gia xây dựng các hạng mục như: xây dựng đường giao
thông nông thôn, thu gom rác thải, tu sửa các công trình thủy lợi, kênh mương,…
Hình thức này cũng làm nâng cao tinh thần trách nhiệm đồng thời đây là hình
thức mà thu hút được sự tham gia của nhóm cộng đồng dân cư có thu nhập thấp
mà không thể đóng góp được về mặt tài chính. Điều đó sẽ tạo ra sự đồng thuận
cao hơn, nâng cao tinh thần đoàn kết và trách nhiệm trong các hoạt động (Bùi
Minh Tân, 2013); (Dương Thị Thủy, 2012).
14
(4) Tham gia triển khai thực hiện
-
Tham gia thực hiện các hoạt động của Chương trình tại địa phương
được thể hiện ở nhiều khía cạnh. Sau khi họp, bàn bạc và đi đến thống nhất cuối
cùng về kế hoạch thực hiện, người dân sẽ là đối tượng trực tiếp thực hiện triển
khai các hoạt động đó như: Tiến hành đóng góp, ủng hộ vật tư, tài chính; trực
tiếp tham gia làm đường, nạo vét kênh mương,…chủ động tu sữa nhà cửa, các
công trình cá nhân; hay tham gia các lớp tập huấn đào tạo ứng dụng kỹ thuật
trong mô hình sản xuất mới,… Việc trực tiếp tham gia thực hiện đảm bảo tính
minh bạch của Chương trình và thể hiện sự làm chủ của cộng đồng (Bùi Minh
Tân, 2013), (Dương Thị Thủy, 2012).
(5)Tham gia giám sát, kiểm tra và đánh giá và bảo dưỡng công trình
- Tổ chức của cộng đồng: Các đặc điểm về chính trị và tổ chức của cộng
đồng ảnh hưởng rất lớn đến sự tham gia của các thành viên trong các hoạt động
xây dựng NTM. Nói chung người lãnh đạo cộng đồng là do dân bầu, đó là
người có vai trò quan trọng trong quản lý cộng đồng và huy động các nguồn lực
để xây dựng NTM. Chính vì thế, một cộng đồng mà được tổ chức tốt, thì mọi
việc của địa phương sẽ được thực hiện một cách dễ dàng, thống nhất và mang
lại hiệu quả cao.
- Điều kiện về trình độ học vấn, năng lực chuyên môn của các thành viên
trong cộng đồng ảnh hưởng không nhỏ đến sự tham gia của họ trong chương
trình xây dựng NTM của địa phương. Nếu như các thành viên trong cộng đồng
có trình độ học vấn và năng lực chuyên môn cao, am hiểu các vấn đề xã hội thì
nhận thức của họ về vấn đề sẽ đúng và sâu sắc hơn, từ đó họ sẽ tham gia nhiệt
tình và có những đóng góp to lớn trong quá trình xây dựng NTM tại địa phương
(Dương Thị Thủy, 2012).
2.1.4.2 Việc thực hiện quy chế dân chủ tại địa phương
- Việc thực hiện quy chế dân chủ tại địa phương trong việc thực hiện triển
khai các nội dung xây dựng NTM có một ảnh hưởng rất lớn tới sự tham gia của
các cộng đồng hưởng lợi. Nếu như địa phương nào thực hiện nhất quán nguyên
tắc dân chủ, huy động tối đa sự tham gia và coi trọng ý kiến của các cá nhân trong
quá trình xây dựng NTM thì sẽ phát huy được mạnh mẽ tinh thần tham gia của mọi
tầng lớp dân cư trong xã hội, đặc biệt là sự tham gia của cộng đồng người dân sinh
sống tại địa phương (Bùi Minh Tân, 2013); (Dương Thị Thủy, 2012).
16
2.1.4.3 Công tác thông tin, tuyên truyền của địa phương
Việc phổ biến các chính sách về NTM được thực hiện từ Trung ương đến
địa phương nhằm đạt được sự thống nhất trong nội dung thông tin tuyên truyền.
Khi chính sách được ban hành xuống cơ sở, trách nhiệm của cán bộ các cấp cần
phải nắm rõ được nội dung trong văn bản chính sách để phối hợp cùng với các tổ
phần kinh tế trong xã hội (Bùi Minh Tân, 2013).
2.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Kinh nghiệm Quốc tế về sự tham gia của cộng trong phát triển nông thôn
2.2.1.1 Kinh nghiệm tại Hàn Quốc: “Phong trào đổi mới nông thôn”
Hàn Quốc vào đầu thập kỷ 60 của thế kỷ XX là một nước nghèo sau chiến
tranh, GDP bình quân đầu người chỉ có 85 USD, không đủ lương thực và phần
lớn người dân không đủ ăn. Nền kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp nhưng hạn
hán và lũ lụt thường xuyên xảy ra khắp đất nước. Xã hội Hàn Quốc thời đó như
nhận xét của người trong cuộc là “một xã hội thờ ơ, hỗn độn và vô vọng”
(Trường Cao đẳng Nông nghiệp Nam Bộ, 2010).
Xuất phát từ bối cảnh chung của đất nước và nhận ra rằng viện trợ của
Chính phủ cũng là vô nghĩa nếu người dân không nghĩ cách tự cứu lấy mình.
Hơn thế nữa, khuyến khích người dân tự hợp tác và giúp đỡ nhau là điểm mấu
chốt để phát triển nông thôn. Ngày 22/4/1970 Tổng thống Park Chung Hy đã
phát động phong trào “Saemaulundong”. Vì phong trào bắt đầu từ nông thôn nên
“Saemaulundong” được hiểu là “Phong trào đổi mới nông thôn” (Trường Cao
đẳng Nông nghiệp Nam Bộ, 2010).
Phong trào Saemauludong (SU) không đơn thuần là một kế hoạch hành
động mà còn là cả một cuộc cải tổ về ý thức dựa trên tinh thần của tất cả các
thành viên trong xã hội. Chính vì thế, ngay từ đầu Chính phủ đã tuyên truyền cho
người dân ý thức “nhất định phải làm”, “đã làm là được”, “tất cả đều có thể làm
được”. Và nêu cao tinh thần cốt lõi chính của phong trào mới là: Thay đổi tư duy,
phát huy nội lực của nhân dân để xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn; phát triển
sản xuất để tăng thu nhập cho nông dân; phát huy dân chủ để phát triển nông
thôn; phát triển kinh tế hợp tác từ phát triển cộng đồng (Trường Cao đẳng Nông
nghiệp Nam Bộ, 2010).
Nhờ có sự tham gia của mọi thành viên trong xã hội, Chương trình SU đã
làm thay đổi toàn diện bộ mặt nông thôn. Theo báo cáo của một chuyên gia kinh
tế Hàn Quốc, trong vòng 10 năm triển khai “Saemaulundong” từ 1971-1980,